Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật học cơ bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật học cơ bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 8, 2018


(Siṅgalovādasutta)

Tôi nghe như vầy,

Một thời đức Thế Tôn trú tại chùa Trúc-Lâm gần thành Vương-Xá. Vào buổi sáng Ngài đắp y mang bát đi khất thực. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn trông thấy thanh niên Sin-gá-lá lễ bái sáu phương đông, nam, tây, bắc, trên, dưới. Ngài hỏi, tại sao làm thế?

Sin-gá-lá trả lời: Khi thân phụ lâm chung, nhắn nhủ phải thường lễ bái sáu phương.

Ðức Thế Tôn dạy rằng: Cách thức lễ bái sáu phương trong đạo lý thánh hiền không giống như vậy.

Thanh niên Sin-gá-lá thỉnh cầu đức Phật giảng dạy đạo lý ấy.

Ðức Phật dạy rằng: Nầy gia chủ,

Phương đông  được hiểu là cha mẹ.

Phương nam   được hiểu là thầy tổ.

Phương tây     được hiểu là vợ chồng.

Phương bắc    được hiểu là bạn bè.

Phương dưới  được hiểu là người giúp việc.

Phương trên    được hiểu là sa-môn.

Nầy gia chủ, đối với phương đông tức cha mẹ, người con nên làm năm việc: Một là phụng dưỡng cha mẹ. Hai là làm công việc thay cha mẹ. Ba là gìn giữ gia phong. Bốn là khéo quản trị tài sản thừa kế. Năm là tạo phước hồi hướng.

Ðáp lại, đối với con, cha mẹ nên làm năm việc: Một là ngăn con không làm điều ác. Hai là dạy con làm việc lành. Ba là hướng dẫn nghề nghiệp. Bốn là tác thành gia thất. Năm là trao tài sản thừa kế khi thích hợp.

Ðó là cách lễ bái phương đông tức đạo nghĩa cha mẹ con cái. Làm như vậy được an lạc không gì lo lắng.

Nầy gia chủ, đối với phương nam tức thầy tổ, người học trò nên làm năm việc: Một là giữ lòng kính trọng. Hai là quan tâm săn sóc. Ba là chăm chỉ học hành. Bốn là đáp ứng khi cần. Năm là hấp thụ những gì được truyền dạy.

Ðáp lại, đối với trò, thầy nên làm năm việc: Một là dạy trò những chuyên môn của mình. Hai là dùng phương pháp dễ hiểu. Ba là không giấu nghề. Bốn là giới thiệu tiến thân. Năm là bố trí an toàn cho trò.

Ðó là cách lễ bái phương nam tức đạo nghĩa thầy trò. Làm như vậy được an lạc không gì lo lắng.

Nầy gia chủ, đối với phương tây tức vợ chồng, thì người chồng nên làm năm việc: Một là đối xử hoà ái. Hai là không bạc đãi khinh khi. Ba là một dạ thủy chung. Bốn là giao quyền nội chính. Năm là tùy khả năng mua sắm tư trang cho vợ.

Ðáp lại, đối với chồng, người vợ nên làm năm việc: Một là quán xuyến công việc gia đình. Hai là cư xử với hai họ một cách đồng đều. Ba là một lòng tiết hạnh. Bốn là gìn giữ tài sản. Năm là cần mẫn trong bổn phận.

Ðó là cách lễ bái phương tây tức đạo nghĩa vợ chồng. Làm như vậy được an lạc không gì lo lắng.

Nầy gia chủ, đối với phương bắc tức bạn bè nên làm năm việc: Một là rộng rãi. Hai là nhã nhặn. Ba là quan tâm lợi ích của bạn. Bốn là đồng cam cộng khổ. Năm là thành thật.

Ðáp lại, đối với một bạn tốt, nên làm năm việc: Một là cảnh giác bạn trước những cám dỗ. Hai là giữ hộ tài sản khi bạn sa ngã. Ba là làm nơi nương tựa cho bạn lúc sa cơ. Bốn là không bỏ bạn lúc nguy biến. Năm là cư xử tốt với người thân của bạn.

Ðó là cách lễ bái phương bắc tức đạo nghĩa bạn bè. Làm như vậy được an lạc không gì lo lắng.

Nầy gia chủ, đối với phương dưới tức người giúp việc thì người chủ nên làm năm việc: Một là không giao việc quá sức. Hai là trả thù lao tương xứng. Ba là chăm sóc khi đau yếu. Bốn là chia sớt món ngon vật lạ.Năm là không bắt làm việc quá giờ.

Ðáp lại, đối với chủ, người giúp việc nên làm năm việc: Một là thức trước chủ. Hai là ngủ sau chủ. Ba là không lấy những thứ không cho. Bốn là siêng năng làm việc. Năm là giữ tiếng tốt cho chủ.

Ðó là cách lễ bái phương dưới tức đạo nghĩa chủ tớ. Làm như vậy được an lạc không gì lo lắng.

Nầy gia chủ, đối với phương trên tức sa môn thì người cư sĩ nên làm năm việc: Một là cử chỉ thân thiện. Hai là lời nói thân thiện. Ba là tư tưởng thân thiện. Bốn là luôn mở rộng cửa đón tiếp. Năm là cúng dường tứ sự.

Ðáp lại, đối với cư sĩ, sa môn nên làm năm việc: Một là hướng dẫn cư sĩ xa điều ác. Hai là hướng dẫn cư sĩ làm việc lành. Ba là luôn cư xử với tâm từ ái. Bốn là giảng giải đạo lý tường tận. Năm là chỉ đường an vui đời sau.

Ðó là cách lễ bái phương trên tức đạo nghĩa tăng tục. Làm như vậy được an lạc không gì lo lắng.

Nghe đức Thế Tôn dạy như vậy, thanh niên Sin-gá-lá bày tỏ niềm hoan hỷ: Thật vi diệu, bạch đức Thế Tôn, Chánh Pháp được giảng dạy như người lật lên những gì bị úp xuống, phơi bày những gì bị che phủ, chỉ đường cho người lạc lối, đem ánh sáng vào chỗ tối.


Con xin qui y Phật, con xin qui y Pháp, con xin qui y Tăng. Xin Ngài nhận biết cho con là đệ tử từ nay cho đến trọn đời.

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2018

Việc thực hiện con đường đi ra khỏi tham, sân, si, luôn luôn được đức Phật quan tâm và khuyến khích chư đệ tử của mình hành trì để từ đó các pháp an lạc được tăng trưởng và các pháp khổ đau được diệt trừ.

 Nếu không khéo hành trì thì không những các khổ đau tăng trưởng mà các thiện pháp cũng bị tiêu trừ. Ðể giới thiệu cho chúng ta có một phương pháp hướng thượng đó, trong kinh Saleyyaka (Trung bộ, kinh số 41), đức Thế Tôn chỉ dạy cho chúng ta hành mười thiện nghiệp và loại trừ mười ác nghiệp.

Trong mười thiện nghiệp và mười ác nghiệp, đức Phật đã chỉ rõ cho chúng ta thấy tất cả đều phát xuất từ thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Thân nghiệp có 3, khẩu nghiệp có 4 và ý nghiệp có 3. Ðể xác chứng lại những lời dạy của Thế Tôn chúng tôi xin tuần tự đi vào nội dung của từng ác nghiệp và thiện nghiệp.

I. Mười ác nghiệp

A. Ba ác nghiệp của thân:

1) Có người sát sanh, tàn nhẫn , tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loài hữu tình.

2) Người này lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy.

3) Người ấy sống tà hạnh với các dục lạc, liên hệ đến dục tình với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa.

B. Bốn ác nghiệp của khẩu:

1) Có người vọng ngữ đến chỗ tập hội, chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: "Này người kia, hãy nói những gì Ông biết". Dầu cho người ấy không biết, người ấy vẫn nói: "Tôi biết"; dầu cho người ấy biết, người ấy vẫn nói: "Tôi không biết"; hay dầu cho người ấy không thấy , người ấy vẫn nói: "Tôi thấy"; hay dầu cho người ấy thấy , người ấy vẫn nói: "Tôi không thấy". Như vậy, lời nói của người ấy trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì.

2) Và người ấy là người nói "hai lưỡi". Nghe điều gì ở chỗ này, đi đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này, để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián những kẻ hòa hợp, hay xúi giục những kẻ ly gián, ưa thích phá hoại, vui thích phá hoại, thích thú phá hoại,nói những lời đưa đến phá hoại.

3) Và người ấy là người nói lời thô ác . Bất cứ lời gì thô ác, tàn ác, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy.

4) Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp,nói những lời phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời, nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích.

C. Ba ác nghiệp của ý:

1) Có người có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: "Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!".

2) Lại có người có tâm sân, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: "Mong rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng không còn tồn tại".

3) Lại có người có tà kiến, có tưởng điên đảo như: "Không có bố thí,không có kết quả của bố thí, không có tế lễ, không có cúng dường, các hành vi thiện ác không có kết quả dị thục,không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chính hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau".

Ðấy là mười ác nghiệp do thân, khẩu và ý tạo tác nếu không đoạn trừ mười ác nghiệp này thì sẽ đem lại khổ đau ngay trong đời sống hiện tại và sau khi thân này kết thúc phải đọa vào trong cõi dữ , ác thú, đọa xứ,địa ngục.Như đức Thế Tôn đã khẳng định: "Do nhân hành phi pháp, phi chánh đạo, có một số lớn loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung phải đọa vào trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục."



II. Mười thiện nghiệp

A. Ba thiện nghiệp của thân:

1) Có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ,sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loại hữu tình.

2) Từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy.

3) Từ bỏ sống theo tà hạnh đối với các dục, không liên hệ đến dục tình với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa.

B. Bốn thiện nghiệp của khẩu:

1) Có người từ bỏ vọng ngữ, tránh xa vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc,hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: "Này người kia, hãy nói những gì Ông biết". Nếu biết, người ấy nói: "Tôi biết" , nếu không biết, người ấy nói : "Tôi không biết"; hay nếu không thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy"; nếu thấy,người ấy nói : "Tôi thấy". Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ,hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì.

2) Từ bỏ nói"hai lưỡi", tránh xa nói"hai lưỡi". Nghe điều gì ở chỗ này, không đi nói với những người kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, ưa thích hòa hợp, vui thích hòa hợp,thích thú hòa hợp, nói đến những lời đưa đến hòa hợp.

3) Từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, những lời nói nhu hoà, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, người ấy nói những lời như vậy.

4) Từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, người ấy nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi.

C. Ba thiện nghiệp của ý:

1) Có người không có tham ái, không tham lam tài vật của kẻ khác, không nghĩ rằng: "Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!"

2) Lại có người không có tâm sân,không có khởi lên hại ý, hại niệm,nghĩ rằng: "Mong rằng những loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù,không nhiễu loạn,được an lạc,lo nghĩ tự thân!"

3) Người ấy có chánh kiến, không có tư tưởng điên đảo: "Có bố thí, có kết quả của bố thí,có tế lễ, có cúng dường,các hành vi thiện ác có kết qủa dị thục,có đời này,có đời sau, có mẹ,có cha,có các loại hóa sanh,trong đời có các Sa-môn,Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu,sau khi tự tri,tự chứng lại tuyên bố cho đời này và đời sau".



Ðấy là mười thiện nghiệp, nếu như chúng ta thực hiện mười thiện nghiệp này thì không những trong đời sống hiện tại được hạnh phúc an lạc mà sau khi thân này kết thúc sẽ được sanh vào cảnh giới an lành. Như đức Thế Tôn đã tuyên bố: "Do nhân hành đúng pháp, hành đúng chánh đạo, ở đây, một số lớn loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, đời này."

Trong kinh Tăng Chi Bộ, tập II, Phẩm Nghiệp đạo, đức Thế Tôn khẳng định rằng đối với ác nghiệp này, Tỳ kheo nào thành tựu bốn pháp: tự mình làm, khích lệ người khác làm, chấp nhận làm và tán thán làm, thì sẽ bị rơi vào địa ngục; nếu Tỳ kheo nào thành tựu bốn pháp: tự mình từ bỏ, khích lệ người khác từ bỏ,chấp nhận từ bỏ và tán thán từ bỏ, thì sẽ sanh lên cõi trời.

Giáo lý duyên khởi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy: "Khi cái này có mặt, cái kia có mặt. Khi cái này không có mặt , cái kia không có mặt". Khi Vô minh xuất hiện thì Ái, Thủ v.v... đều xuất hiện. Khi Vô minh diệt thì Ái, Thủ v.v... cũng theo đó mà diệt.

Như thế, chúng ta có thể xem mười thiện nghiệp là các nhân tố của vô minh đưa con người đến hố sâu tội lỗi, gây ra khổ đau cho bản thân, cho gia đình và làm rối loạn cho xã hội . Hậu quả của mười ác nghiệp ấy sẽ là:

Hoặc khổ thọ khốc liệt,
Thân thể bị thương vong.
Hoặc thọ bệnh kịch liệt,
Hay tán loạn ý tán tâm.
Hoặc tai hại từ vua,
Hay bị vu trọng tội.
Bà con phải ly tán.
Tài sản bị nát tan.
Hoặc phòng ốc nhà cửa,
Bị hỏa tai thiêu đốt.
Khi thân hoại mạng chung
Ác tuệ sanh địa ngục. (Pháp cú 138-139-140)

Khi thấy rõ sự nguy hiểm của mười ác nghiệp, đức Phật khuyên chúng ta nên xuất ly chúng và thực hành mười thiện nghiệp để đem lại an lạc cho tự thân,gia đình và góp phần an lạc cho quê hương và thái bình cho xứ sở.

Xã hội ta ngày nay đang trên đà phát triển về mọi mặt, kinh tế, chính trị,văn hoá, giáo dục v.v... thế nhưng sự khủng hoảng về tinh thần không phải là ít. Chẳng hạn như nạn tham nhũng, ma túy, rượu chè, cờ bạc, mãi dâm vẫn luôn luôn là vấn đề nóng bỏng cần được giải quyết. Nếu thật sự thấy được sự nguy hiểm của mười ác nghiệp chắc hẳn rằng con người sẽ hành mười thiện nghiệp, vì sự an lạc của đời này và đời sau. Kinh Pháp cú dạy:

Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo,
Nói lên hay hành động,
Với tâm ý thanh tịnh
An lạc bước theo sau.
Như bóng không rời hình. (Pháp cú:2)

Làm được như vậy thì các cá nhân sẽ có phần đóng góp ý nghĩa và quan trọng cho sự nghiệp phát triển xã hội ta trong hiện tại.

HT. Thích Minh Châu

Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2018

BỒ TÁT LÀ AI?
MUỐN THÀNH PHẬT, PHẢI PHÁT NGUYỆN TU HÀNH RA SAO ?
Muốn thành Phật trước hết phải là Bồ Tát, để là Bồ Tát phải có hạnh nguyện trở thành Phật. Đầy đủ 8 yếu tố cực kỳ khó khăn để người đó thành 1 vị Bồ Tát
MỖI VỊ BỒ TÁT (SAU NÀY TRỞ THÀNH PHẬT) ĐỀU CÓ LỊCH SỬ GHI LẠI NƠI SINH, DÒNG DÕI, XUẤT GIA TẠI ĐÂU, THÀNH ĐẠO SAU BAO LÂU…VV. Ngày nay có rất nhiều Bồ Tát do người đời sau dựng nên đề thờ cúng van xin nhưng không có lịch sử và giáo lý truyền dạy. Chỉ có duy nhất giáo lý của Phật hiện tiền: Đức Thích Ca Mâu Ni là pháp tối thượng, đem đến chân lý và giải thoát rốt ráo mà thôi. Mọi người hãy cẩn thận để hiểu cho đúng điều gì ích lợi cho mình mà gắng công tìm hiểu, thực hành theo.
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
Có 8 yếu tố để trở thành Bồ Tát: Trong đó có điều rất khó khăn đó là phải gặp được 1 vị Phật còn sống và phát nguyện trước mặt vị Phật hiện tiền này. Vị ấy phải có sự mong muốn mãnh liệt đến độ sẵn sàng đi bộ từ đầu thế giới này đến đầu thế giới kia trên than đỏ để đạt chí nguyện. Quyết tâm dâng hiến mạnh mẽ, kể cả tính mạng mình để đạt quả vị Phật và có tiềm năng trở thành A la Hán giải thoát hoàn toàn.
Khi nào được Đức Phật hiện tiền tiên đoán (hay thọ ký) trở thành một vị Phật trong tương lai thì vị đó mới chính thức trở thành 1 vị Bồ Tát.
Sau đó vị Bồ Tát phải kiện toàn 10 ba la mật để trở thành Phật phải tích lũy nhiều đời, nhiều kiếp, tính theo A tăng kỳ kiếp trái đất và hàng trăm ngàn đại kiếp
Ví dụ về A tăng kỳ kiếp: Phật dạy một tảng đá vuông vức một do tuần (16 cây số ) cứ 100 năm , có một vị Chư Thiên bay xuống lấy tấm lụa quét qua một lượt . Bao giờ tảng đá mòn bằng mặt đất , được gọi là một A TĂNG KỲ .
Đại kiếp trái đất gồm 4 giai đọan Thành- Trụ -Hoại- Không của Trái đất
Nguồn: http://www.budsas.org/…/u-chanh-giac-tong/chanh-giac-03.htm…
và: http://www.thuviennguyenthuy.com/hieu-biet-tron-ven/
xxxxxxxxxxxxxxxxxxx
ẢNH: Xa xưa, Tiền Thân Đức Phật Thích Ca, Lấy Thân Trải Đường Cúng Dường Đức Phật Dipankara (Nhiên Đăng)Prabhapàla và được Phật Nhiên Đăng thọ ký: "Ông hoàng kia là một vị Phật tương lai. Bốn a tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp sau này ông ta sẽ thành Phật tên Cồ-đàm". Ðó là lời của Phật Nhiên Ðăng thọ ký cho ông hoàng Sumedha, sau này trở thành vị Thầy của chúng ta: Phật tổ Thích Ca.

Thứ Hai, 16 tháng 7, 2018

Chúng ta có quyền sử dụng thân tâm này, quan hệ này, tài sản này, thời gian này, địa điểm này...vv nhưng không có quyền sở hữu (kiểm soát, khống chế, quyết định tất cả), bởi vì trên hết, tất cả mọi thứ, mọi người, mọi loài đều phải tuân theo quy luật Vô thường sinh diệt và 1 luật nữa không phải dễ thấy, là luật của Nghiệp: Luật nhân quả nghiêm minh!
Vì không có quyền sở hữu nhưng lại khao khát điều khiển, chi phối, nên chúng ta khổ
Học cách sử dụng Quyền Sử Dụng đi thôi, đó chính là sử dụng cho đúng, cho hợp chân lý.
Sử dụng cho điều thiện
Sử dụng để cảm nhận và học hỏi
Sử dụng để biết, không dính mắc và để học buông.

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2018


Người ta thấy chúng tôi tu hành, họ hay hỏi tu là gì? để được gì hay tu để thành ai?
Tu để được cái gì thì vẫn còn ham muốn, tâm tham sở hữu cho mình, ☺Tu chính để không còn ham muốn nữa.
☺Tu hành để không còn ý muốn trở thành ai cả!
Tu hành không để gặp Phật mà là để gặp chính mình, gặp chính mình trong mọi ng và gặp mọi ng trong chính mình
➡ Tu mới đầu là hành động, suy nghĩ, nói năng thiện, sau đó là hành động, suy nghĩ, nói năng hợp với Sự Thật tuyệt đối (chân lý cuộc sống luôn luôn thay đổi không ngừng, không thể điều khiển và luôn hướng đến sự trống rỗng không thật)
➡ Tu hành cũng không ở chùa, không ở chợ, cũng chẳng phải ở nhà, tu hành tại thân tâm này, mà 2 thứ đó ở đâu chẳng có, chỉ là ta không thấy mà thôi
➡ Mới đầu tu là sửa những hành động, lời nói từ bất thiện thành thiện
Tiếp theo thì tu chỉ là Biết, khi tâm có tham, sân, si hay từ bi, hỷ, xả cũng chỉ Biết mà thôi. Nếu còn muốn sửa thì sẽ tăng thêm cái bản Ngã tự cao tự đại của mình mà thôi
Để tham khảo, mời quý vị đọc lời Phật Thích Ca thuyết giảng, trong kinh Trung bộ và Trường bộ do hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.:
hhttp://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong22.htm
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung38.htm

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2018

HỎI:
Con có quen biết 1 đôi vợ chồng diễn viên nổi tiếng, họ giàu sang, xinh đẹp, tài năng nên là niềm mơ ước của nhiều người nhưng con thấy họ sống rất căng thẳng, mệt mỏi, cả 2 đều ngoại tình, lăng nhăng nên chính họ khổ, con cái cũng khổ, nhiều lúc con thấy họ còn đáng thương hơn con là người bình thường nhưng sống vui vẻ.
ĐÁP:
- Mở đầu xin hỏi, với 1 chân đi trên thảm đỏ êm ái và 1 chân còn lại đi trên đá nóng, cứng, rát, lúc đó quý vị thấy sao? Có thực sự sung sướng ???.Và họ cũng vậy, dù họ đẹp, giàu có, nổi tiếng, nhưng cũng khổ vì áp lực của sự nổi tiếng, căng thẳng, khủng hoảng, đố kỵ, ghen ghét.
- Họ tìm kiếm những mối quan hệ ngoài luồng vì cảm giác chán ghét cái cũ, cái ko ưng ý để tìm cầu cái mới lạ, ưng ý mà thôi, rồi cái mới trở thành cũ, cái ưng ý lộ ra những điều không ưng ý mới….vòng quay lại lặp lại. Ngay từ khi cưới vợ dựng chồng, nếu họ biết sẽ có 1 ngày mọi thứ sẽ đổi thay, có lẽ nhiều điều sẽ khác, trải qua nhiều những cuộc tình, biết nó sẽ thế nào....có lẽ họ sẽ phản ứng khác
- Tuy có 1 khối tài sản lớn, tài năng vượt trội nhưng họ vẫn đau khổ bởi không thể kéo dài mãi niềm vui, không thay đổi được mình và người khác như mong muốn. Chúng ta cũng vậy, có chăng chúng ta học Phật để xây dựng được cho mình khả năng chấp nhận sự thay đổi ấy
- Cái cần ghìn giữ không phải là cảm giác thích thú, ưng ý trong các mối quan hệ, mà là sự tự trọng, sự chân thực, sự vị tha, tính thông cảm trong mỗi người mà Phật giáo gọi chung là Giới Hạnh
- Tài sản lớn>>> Dễ thỏa mãn giác quan>>> Lòng ham muốn càng nhiều>>> càng phải biết cách kiểm soát, chế ngự, điều tiết các trạng thái tâm >>> càng phải phát triển hiểu biết đúng về chính mình và mọi người. Điều này Phật giáo gọi chung là Trí Tuệ.
Chẳng phải người giàu sang mới cần phát triển điều này, tất cả đều cần phát triển Giới Hạnh và Trí tuệ, nhưng giàu lên bao nhiêu thì khả năng đối diện với những sự " hiểm nguy trong vị ngọt ẩn tàng" cũng phải cao dường như thế.
- Sư cô Hương Thiền -

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2018

Phi như lý tác ý (chú tâm không khôn ngoan), đến các đối tượng gây ra nghi ngờ là yếu tố chính hoặc ‘dưỡng tố’ dẫn đến sự hiển lộ hoài nghi . ‘Phi như lý tác ý’, ayoniso manasikāra, là duyên sinh ra hoài nghi. Ngược lại, ‘như lý tác ý’, chú tâm khôn ngoan hay chú tâm thấu đáo, yoniso manasikāra, phải được điều hướng để phân biệt giữa cái gì là thiện lành và không thiện lành, cái gì là đáng chê trách và đáng khen ngợi, cái gì là cao thượng và hạ liệt, cái gì là tối tăm và trong sáng. 

Như thế, cần phải ghi nhận ở đây là yếu tố ‘như lý tác ý’ một mặt được sử dụng để đoạn trừ hoài nghi và một mặt khác, được dùng để phát triển trạch pháp.

Trạch pháp sinh khởi dựa vào niệm. Điều này cho thấy rằng loại thẩm tra cần thiết để vượt qua sự hoài nghi có quan hệ gần gũi với niệm, theo ý nghĩa ‘thẩm tra’ với nhận thức rõ ràng về bản chất thực sự của ‘pháp’.

 Một khía cạnh khác của trạch pháp là thẩm tra về lý thuyết. 
Quy trình hóa giải hoài nghi thông qua thẩm tra được mô tả trong nhiều bài kinh, qua đó, nên gặp gỡ bậc thiện trí để được giải thích, làm rõ các câu hỏi, để xua tan những nghi ngờ của mình (


Người nào quen nghe Pháp trong kiếp nầy sẽ tiếp tục hưởng được lợi ích cho cuộc sống trong các kiếp sau, bởi vì người ấy sẽ dễ dàng tiếp nhận nếu có dịp được nghe Pháp mà không do dự, cũng giống như những ai đã từng nghe âm thanh tiếng trống hoặc tù và sẽ không nghi ngờ hoặc phân vân về bản chất của âm thanh vừa nghe
 
Chỉ khi nào hoài nghi được khắc phục theo cách này, mới có thể diệt trừ tham, sân và si. Những lợi ích khác của việc khắc phục hoài nghi là hành giả sẽ bình tĩnh, không sầu khổ khi lâm bệnh trầm trọng, và vị ấy có thể sống ở những nơi hẻo lánh trong khu rừng hoang dã mà không sợ hãi, khiếp đảm

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2018


Kinh Thiện Sanh, là bản kinh căn bản dạy cho ta biết cách giữ gìn các mối quan hệ đó một cách tốt đẹp, ở đó ta thấy được các quan hệ được Phật dạy đều theo hai chiều rất tinh tế.


Bấy giờ, đã đến lúc đức Thế Tôn khoác y – bát lên đường vào thành khất thực, trên đường đi, đức Thế Tôn thấy một chàng thanh niên đang lễ bái, là người con có hiếu nên nghe theo lời dạy của cha trước khi mất, cứ mỗi sáng, sau khi tắm gội xong anh ta ra đường thực hành việc lễ bái sáu phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới. Cuộc gặp gỡ là duyên khởi cho bản kinh Thiện Sanh ra đời.


Đây là một bản kinh nguyên thủy, ngắn gọn, ghi lại lời Phật dạy cách đối nhân xử thế, cách thực thi các bổn phận và trách nhiệm của người Phật tử đối với bản thân, gia đình và xã hội, rộng hơn là Phật dạy cách kiến tạo một xã hội hài hòa, một cuộc sống đầy an lành và hạnh phúc.

Trong tạng A-hàm, theo bản dịch Việt từ Hán mới nhất của Thượng tọa Tuệ Sỹ thì Kinh Thiện Sanh thuộc No.16, Phần II, Trường A-hàm. Trong tạng Nikaya, theo bản dịch Việt từ Pali của Hòa Thượng Thích Minh Châu, tương đương kinh Thiện Sanh là Kinh Giáo Thọ Thi-Ca-La-Việt (Sigàlovàda sutta) thuộc No.31, Trường Bộ Kinh. Bài viết chủ yếu trích từ ấn bản điện tử từ trang nhà Phatviet.com của TT.Tuệ Sỹ, tất cả các đoạn trích đều được đóng mở “.”, phần lễ bái sáu phương, hầu hết lấy nguyên văn trong kinh.

Tránh bốn việc ác và sáu việc làm hao tổn tài sản


Khi Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, dẫn đầu đoàn khất thực với đại chúng hai ngàn năm trăm vị Tỳ-Kheo đi vào thành, đức Thế Tôn thấy một gia chủ tử tên Thiện Sanh đang lễ sáu phương, Ngài hỏi:

“Vì sao, ngươi vào buổi sáng sớm ra khỏi thành, đi đến khu công viên, với cả người còn ướt đẫm, mà ngươi lại lạy các phương như thế?”

Thiện Sinh bạch Phật:

“Khi cha con sắp chết có dặn: “Nếu con muốn lạy, trước hết hãy lạy các phương Đông,Tây, Nam, Bắc, trên và dưới”. Con vâng lời cha dạy không dám chống trái”.

Phật bảo Thiện Sanh:

“Này con trai trưởng giả! Quả có cái tên các phương đó chứ không phải không. Nhưng trong pháp Hiền Thánh của ta chẳng phải lễ sáu phương như thế là cung kính đâu”.

Thiện Sinh thưa:

“Cúi xin đức Thế Tôn thương dạy cho con cách lễ sáu phương theo pháp Hiền Thánh”.

Phật bảo Thiện Sinh:

“Nếu trưởng giả hay con trưởng giả nào biết tránh bốn nghiệp kết không làm ác theo bốn trường hợp và biết rõ sáu nghiệp hao tổn tài sản. Như thế, này Thiện Sinh, nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả nào tránh được bốn việc ác là lễ kính sáu phương”.

Bốn nghiệp kết mà Phật dạy: Sát sinh, trộm cắp, dâm dật, vọng ngữ, đây là bốn điều xấu ác mà bất cứ ai cũng nên tránh, hàng ngày đọc báo chúng ta vẫn thường thấy nhan nhãn các tội phạm phạm bốn điều trên: giết người, cướp của… gây cho xã hội những bất an thường nhật. Rõ thấy, những điều mà Phật dạy chẳng có gì khác ngoài những chuyện thực thường ngày ở thế gian.

Bốn trường hợp ác: tham dục, sân hận, sợ hãi, ngu si. Về tham dục, không phải cứ tham dục là điều xấu, mà tham dục cần phân biệt có hai loại, loại tham dục phục vụ ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) khiến cho tâm trí mê mờ, dẫn đến những vọng tưởng điên đảo, sân hận, sợ hãi và ngu si… loại tham dục này thì cần phải loại bỏ, loại tham dục thứ hai phục vụ cho chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp… cho sự học hành, phát triển nhân cách, tinh thông trí tuệ, nâng cao dân trí, sự phồn thịnh xã hội, sự bình an, sự hạnh phúc... thì cần thực hành và phát huy.

Sáu nghiệp hao tổn tài sản cần tránh:

1. Đam mê rượu chè.

2. Cờ bạc.

3. Phóng đãng.

4. Đam mê kỹ nhạc.

5. Kết bạn người ác.

6. Biếng lười.

Phật bảo Thiện Sinh:

“Này Thiện Sinh, nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả biết rõ bốn kết hành không làm ác theo bốn trường hợp, lại biết sáu nghiệp tổn tài ấy là, này Thiện Sinh, tránh được bốn trường hợp, cúng dường sáu phương, thì đời này tốt đẹp, đời sau tốt đẹp; đời này căn cơ và đời sau căn cơ; trong hiện tại được người trí ngợi khen, được quả báo bậc nhất; sau khi chết được sanh lên trời, cõi thiện”.

Như vậy, Phật dạy người nào tránh được bốn nghiệp kết, bốn việc ác, sáu nghiệp hao tổn tài sản thì không những đời này đẹp và cả đời sau cũng được hưởng những quả tốt đẹp, đời này có duyên lành và đời sau cũng có duyên lành, trong hiện tại được người ngợi khen, xã hội ngợi khen, gia đình ngợi khen và trên hết phương ấy được an ổn, xã hội ấy được tốt đẹp, không lo sợ…

“Người nào không làm ác,

Do tham, hận, sợ, si,

Thì danh dự càng thêm,

Như trăng hướng về rằm”.

Bốn hạng kẻ thù và bốn hạng người đáng thân

Trong Trung Hoa Kim Cổ Kỳ Nhân có thuật lại tình bạn giữa Bá Nha – Tử Kỳ, một tình bạn đẹp lưu danh muôn thuở. Bá Nha là một vị quan làm đến chức Thượng đại phu, còn Tử kỳ chỉ là một chàng nông dân kém Bá Nha chục tuổi. Nhưng chỉ mỗi Bá Nha hiểu được tiếng đàn của Tử Kỳ, từ đó hai người trở thành tri kỷ, khi nghe tin Tử Kỳ chẳng may qua đời, Bá Nha đã cầm đờn đập mạnh vào tảng đá,cây đờn vỡ tan, sau đó đọc bốn câu thơ:

“Dao cầm đập nát đau lòng phượng,

Đã vắng Tử Kỳ đàn với ai?

Gió xuân bốn mặt, bao bè bạn.

Muốn tìm tri âm, thật khó thay!”

Trong cuộc sống ai cũng cần có bạn, tình bạn kiểu Bá Nha – Tử Kỳ thuộc dạng xưa nay hiếm, nhưng cũng cần phải lựa bạn tốt mà chơi, vì nếu “giao du với bạn xấu có sáu lỗi: 1, tìm cách lừa dối; 2, ưa chỗ thầm kín; 3, dụ dỗ vợ người; 4, mưu đồ chiếm đoạt tài sản của người; 5, xoay tài lợi về mình; 6, ưa phanh phui lỗi người”. Đó là sáu tai hại về bạn xấu. Nếu chúng ta làm bạn với kẻ ác mãi thì gia sản mỗi ngày mỗi tiêu tán”.

Phật bảo Thiện Sanh.

“Có bốn hạng kẻ thù mà như người thân, ngươi nên biết. Bốn kẻ ấy là những ai? 1, hạng uý phục; 2, hạng mỹ ngôn; 3, hạng kính thuận; 4, hạng ác hữu.

[(1) “Hạng úy phục thì thường hay làm bốn việc: một, cho trước đoạt lại sau; hai, cho ít mong trả nhiều; ba, vì sợ gượng làm thân; bốn, vì lợi gượng làm thân.

(2) “Hạng mỹ ngôn thì thường hay làm bốn việc: một, lành dữ đều chiều theo; hai, gặp hoạn nạn thì xa lánh; ba, ngăn cản những điều hay; bốn, thấy gặp nguy tìm cách đùn đẩy.

(3) “Hạng kính thuận thì thường làm bốn việc: một, việc trước dối trá; hai, việc sau dối trá; ba, việc hiện dối trá; bốn, thấy có một chút lỗi nhỏ đã vội trách phạt".

(4) “Hạng bạn ác thì thường làm bốn việc: một, bạn lúc uống rượu; hai, bạn lúc đánh bạc; ba, bạn lúc dâm dật; bốn bạn lúc ca vũ.”

“Có bốn hạng người thân đáng thân vì thường đem lại lợi ích và che chở. Những gì là bốn? Một, ngăn làm việc quấy; hai, thương yêu; ba, giúp đỡ; bốn, đồng sự. Đó là bốn hạng người thân đáng thân cận”.

1) Này Thiện Sinh, hạng ngăn quấy thì thường làm bốn việc đem lại nhiều lợi ích và hay che chở: thấy người làm ác thì hay ngăn cản, chỉ bày điều chánh trực, có lòng thương tưởng, chỉ đường sinh Thiên. Đó là bốn trường hợp ngăn cản việc quấy đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.

(2) Hạng thương yêu thì thường làm bốn việc: Mừng khi mình được lợi, lo khi mình gặp hại, ngợi khen đức tốt mình, thấy mình nói ác thì tìm cách ngăn cản. Đó là bốn điều thương yêu đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.

(3) Hạng giúp đỡ có bốn việc. Những gì là bốn? Đó là: che chở mình khỏi buông lung, che chở mình khỏi hao tài vì buông lung, che chở mình khỏi sợ hãi, khuyên bảo mình trong chỗ vắng người.

(4) Hạng đồng sự thì thường làm bốn việc: không tiếc thân mạng với bạn, không tiếc của cải với bạn, cứu giúp bạn khỏi sợ hãi, khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.”]

Lễ bái sáu phương hay cách thức xây dựng một xã hội hạnh phúc

Sáu phương là gì, tại sao phải lễ bái sáu phương như chàng Thiện Sanh đã làm, anh ta làm vì nghe lời cha mà không hiểu ý nghĩa của việc lễ bái đó. Phật dạy: “Sáu phương là gì? Phương Đông là cha mẹ, phương Nam là sư trưởng, phương Tây là thê thiếp, phương Bắc là bạn bè thân thích, phương trên là các bậc trưởng thượng, Sa-môn, Bà-la-môn, phương dưới là tôi tớ”. Bài dạy lễ sáu phương là cách mà Phật dạy đạo làm người.

Đạo hiếu làm con, phận làm cha mẹ.

Kẻ làm con phải kính thuận cha mẹ với năm điều:

1. Cung phụng không để thiếu thốn.

2. Muốn làm gì thưa cha mẹ biết.

3. Không trái điều cha mẹ làm.

4. Không trái điều cha mẹ dạy.

5. Không cản chánh nghiệp mà cha mẹ làm.

Kẻ làm cha mẹ phải lấy năm điều này chăm sóc con cái:

1. Ngăn con đừng để làm ác.

2. Chỉ bày những điều ngay lành.

3. Thương yêu đến tận xương tủy.

4. Chọn nơi hôn phối tốt đẹp.

5. Tùy thời cung cấp đồ cần dùng..

Này Thiện Sinh, kẻ làm con kính thuận và cung phụng cha mẹ, cha mẹ thương con, bảo bọc cho con thế thì gia đình ấy được hạnh phúc, xã hội bình an, phương ấy được an ổn không có điều lo sợ.

Đạo nghĩa thầy trò

Đệ tử cung phụng sư trưởng có năm điều:

1. Hầu hạ cung cấp điều cần.

2. Kính lễ cúng dường.

3. Tôn trọng quí mến.

4.Thầy có dạy bảo điều gì không trái nghịch.

5. Thầy có dạy bảo điều gì nhớ kỹ không quên. Kẻ làm đệ tử cần phải thờ kính sư trưởng với năm điều ấy.

Thầy cũng có năm điều để săn sóc đệ tử:

1. Tùy thuận pháp mà huấn luyện.

2. Dạy những điều chưa biết.

3. Giải nghĩa rành rõ những điều trò hỏi.

4. Chỉ cho những bạn lành.

5. Dạy hết những điều mình biết không lẫn tiếc.

Nếu đệ tử kính thuận, cung kính nghe lời sư trưởng, thầy thì thương trò, chỉ bảo dạy dỗ tận tình cho học trò thì nền giáo dục xã hội ấy phát triển, phương ấy vững bền, an ổn không có điều lo sợ.

Đạo nghĩa vợ chồng

Chồng phải có năm điều đối với vợ

1. Lấy lễ đối đãi nhau.

2. Oai nghiêm không nghiệt.

3. Tùy thời cung cấp y, thực.

4. Tùy thời cho trang sức.

5. Phó thác việc nhà.

Vợ cũng phải lấy năm việc cung kính đối với chồng


1. Dậy trước.

2. Ngồi sau.

3. Nói lời hòa nhã.

4. Kính nhường tùy thuận.

5. Đón trước ý chồng.

“Chồng đối với vợ thương yêu, tôn trọng, vợ đối với chồng cung kính đối đãi nhau, như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ”.

Quan hệ bạn bè, tình làng nghĩa xóm

Người ta phải lấy năm điều thân kính đối với bà con

1. Chu cấp.

2. Nói lời hiền hòa.

3. Giúp ích.

4. Đồng lợi.

5. Không khi dối.

Bà con cũng phải lấy năm điều đối lại

1. Che chở cho mình khỏi buông lung.

2. Che chờ cho mình khòi hao tài vì buông lung.

3. Che chở khỏi sự sợ hải.

4. Khuyên răn nhau lúc ở chỗ vắng người.

5. Thường ngợi khen nhau.

“Tình người, tình làng nghĩa xóm, biết thân kính bà con như vậy thì phương ấy được yên ổn không điều chi lo sợ”.

Quan hệ chủ tớ, trên dưới

Này Thiện Sinh, chủ đối với tớ có năm điều để sai bảo

1. Tùy khả năng mà sai sử.

2. Tùy thời cho ăn uống.

3. Phải thời thưởng công lao.

4. Thuốc thang khi bệnh.

5. Cho có thời giờ nghỉ ngơi.

Tôi tớ phải lấy năm điều phụng sự chủ:

1. Dậy sớm.

2. Làm việc chu đáo.

3. Không gian cắp.

4. Làm việc có lớp lang.

5. Bảo tồn danh giá chủ.

“Này Thiện Sinh, nếu chủ đối với tớ được như vậy thì phương ấy được an ổn không điều chi lo sợ”.

Quan hệ giữa đàn việt với Sa-môn

Kẻ đàn việt cung phụng hàng Sa-môn với năm điều.

1. Thân hành từ.

2. Khẩu hành từ.

3. Ý hành từ.

4. Tùy thời cúng thí.

5. Không đóng cửa khước từ.

Sa-môn, Bà-la-môn cũng khuyên dạy theo sáu điều:

1. Ngăn ngừa chớ để làm ác.

2. Chỉ dạy điều lành.

3. Khuyên dạy với thiện tâm.

4. Cho nghe những điều chưa nghe.

5. Những gì đã được nghe làm cho hiểu rõ.

6. Chỉ vẻ con đường sanh thiên.

“Này Thiện Sinh, nếu đàn việt kính phụng hàng Sa-môn, Bà-la-môn như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ”.

Bấy giờ Thiện Sinh bạch Phật:

“Lành thay, bạch Thế Tôn! Thật quá chỗ mong ước của con xưa nay, vượt xa những lời dạy của cha con. Như lật ngửa những gì bị úp xuống; như mở ra những gì bị đóng kín; như người mê được tỏ, đang ở trong nhà tối được gặp đèn, có mắt liền thấy. Những gì được Như Lai thuyết giảng cũng như thế; bằng vô số phương tiện khai ngộ cho kẻ ngu tối; làm rõ pháp thanh bạch. Phật là Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, do đó có thể chỉ bày, hướng dẫn cho đời. Nay con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Cúi xin đức Thế Tôn chấp thuận cho con được làm ưu-bà-tắc ở trong Chánh pháp. Kể từ hôm nay cho đến trọn đời, con nguyện không giết, không trộm, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.”

Đọc toàn bộ nội dung kinh, một bản kinh ngắn, súc tích, ngôn ngữ Phật dùng rất rõ ràng mà bất cứ ai đọc cũng có thể nắm bắt, lời dạy như luồng sáng mở ra những gì bị đóng kín; như người mê được tỏ, đang ở trong nhà tối được gặp đèn, có mắt liền thấy, rất thiết thực, căn bản, rất cần cho chúng ta trong ứng xử với các mối quan hệ thường ngày trong cuộc sống.

Các pháp đều nương với nhau mà tồn tại, cũng vậy, mỗi người trong cuộc sống cũng đều phải có nghĩa vụ và trách nhiệm về một điều gì đó với một ai đó, mỗi một ai đó sẽ là phần còn lại về nghĩa vụ và trách nhiệm của người nào đó, suy ra sẽ nhìn thấy một ma trận ngang dọc, ma trận vuông tròn các quan hệ. Quan hệ cha mẹ, con cái, ai cũng ít nhất một lần làm học trò, ai cũng ít nhất có một người bạn, ai cũng phải làm một việc gì đó để sống… vì vậy cần phải ứng xử sao cho hợp đạo hợp nghĩa, đúng mực để tự bảo vệ bản thân tức là bảo vệ cho gia đình, cho xã hội.

Kinh Thiện Sanh, là bản kinh căn bản dạy cho ta biết cách giữ gìn các mối quan hệ đó một cách tốt đẹp, ở đó ta thấy được các quan hệ được Phật dạy đều theo hai chiều rất tinh tế, như đời: “đường hai nẻo xuống lên”.

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2018

Đối với cha mẹ, làm con có năm bổn phận:
a) Nuôi dưỡng cha mẹ
b) Làm việc thay cha mẹ
c) Duy trì truyền thống gia đình
d) Bảo quản tài sản thừa tự
e) Khi cha mẹ chết, làm phước hồi hướng.
Phận làm cha mẹ cũng phải đối xử với con theo năm điều:
a) Ngăn chặn con làm điều ác
b) Khuyến khích con làm điều thiện
c) Cho con học nghề nghiệp
d) Lập gia thất cho con xứng đáng
e) Đúng thời giao của thừa tự cho con.
  Đối với thầy dạy, phận làm học trò có năm điều:
a) Tiếp rước lễ phép
b) Hầu hạ kính cẩn
c) Ngoan ngoãn vâng lời
d) Tự thân phục dịch
e) Học tập ngiêm túc
Phận làm thầy cũng phải đối xử với học trò theo năm điều:
a) Khéo huấn luyện
b) Khéo dạy bảo
c) Dạy hết nghề
d) Khen học trò trước các bạn đồng liêu
e) Bảo bọc trong mọi mặt.
 Phận làm chồng đối với vợ có năm điều:
a) Tôn trọng vợ
b) Không khinh rẻ vợ
c) Không ngoại tình
d) Giao quyền nội trợ
e) Tặng đồ trang sức.
Phận làm vợ đối với chồng cũng có năm điều:
a) Sắp đặt việc nhà vén khéo
b) Đối xử tốt với bà con hai họ
c) Không ngoại tình
d) Gìn giữ tài sản của chồng
e) Thành thạo siêng năng trong mọi việc.
  Phận làm chủ gia đối với bạn bè có năm điều:
a) Biếu tặng
b) Ái ngữ
c) Lợi hành
d) Bình đẳng
e) Thành thật .
Phận là bạn bè đối xử với chủ gia cũng có năm điều:
a) Bảo vệ lúc chủ gia sơ suất
b) Giữ gìn tài sản cho lúc phóng túng
c) Làm chỗ nương khi có sợ hãi
d) Khi hoạn nạn không bỏ nhau
e) Tôn trọng thân quyến của chủ gia.
 Phận là cư sĩ đối với hạng Sa-môn tu sĩ nên hành năm điều:
a) Có hành vi bằng từ tâm
b) Có lời nói bằng từ tâm
c) Có ý nghĩ bằng từ tâm
d) Mở rộng cửa đón tiếp
e) Dâng hiến vật chất.
Các tu sĩ cũng nên thương tưởng cư sĩ theo sáu điều
a) Ngăn chặn làm ác
b) Hướng dẫn làm thiện
c) Thương tưởng với ý tốt
d) Nói cho nghe điều chưa được nghe
e) Giải rõ điều họ đã nghe
f) Chỉ vạch con đường cõi trời.
  Phận làm chủ nhân phải đối xử với người giúp việc, tôi tớ theo năm điều:
a) Cắt đặt công việc vừa theo sức
b) Ban phát vật thực và tiền công.
c) Săn sóc lúc bệnh hoạn
d) Chia sẻ món ngon lạ
e) Có dịp cho nghỉ ngơi.
Phận người giúp việc phải đối xử với chủ nhân theo năm điều:
a) Thức dậy trước chủ
b) Ngủ nghỉ sau chủ
c) Chỉ lấy vật được cho
d) Làm việc kỹ lưỡng khéo léo
e) Đem tiếng thơm cho chủ.
Đây là những điều Đức Phật đã dạy trong kinh Siṅgālovadasutta, dạy cho người cư sĩ. Nếu người tại gia hành đúng theo  như vậy hằng được che chở, được an ổn và thoát khỏi mọi sự lo âu phiền muộn.

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2018

Một nhà sư trẻ sẽ sống an lạc hạnh phúc trong rừng sâu khi biết chiêm nghiệm bản chất thiên nhiên của sự vật. Khi nhìn quanh thầy ý thức được sự biến hoại của tất cả mọi hình thái và tất cả đều đi đến nơi hủy diệt.
Chẳng có gì trường cửu trên thế gian. Ý thức được điều này, nhà sư bắt đầu an nhiên tĩnh lặng.
Nhà sư tập bằng lòng với sự thiếu thốn: chỉ ăn những gì thấy cần, chỉ ngủ khi cần thiết, thỏa thích với tất cả những gì mình có. Đó là căn bản của thiền Phật Giáo. Nhà sư Phật Giáo không hành thiền với lý do vị kỷ. Trái lại, các thầy hành thiền để tự hiểu biết chính mình, đồng thời để có thể chỉ dạy kẻ khác sống trong bình an hiểu biết.
Thiền không phải chỉ là sống an lành trong cuộc đời này. Ngược lại, phải đương đầu với chính mình chẳng khác nào dấn thân vào phong ba bão táp. Lúc bắt đầu hành thiền tích cực, chúng ta thường cảm thấy chán nản, thất vọng đến nỗi muốn tự sát nữa là khác. Một số người nghĩ rằng đời sống của sư sãi thật rảnh rỗi và dễ dàng. Cứ để họ thử đi và xem họ chịu đựng được bao lâu. Nghiệp vụ của các nhà sư thật khó khăn. Các vị phải tích cực trong công tác tự giải toả tâm mình để lòng từ ái bao trùm mọi vật. Trong khi nhìn thấy sự sinh diệt của đời sống, nhà sư ý thức được rằng chẳng có gì tùy thuộc vào thầy cả, nhờ thế thầy dồn đau khổ đến đường cùng.
Nếu hành thiền một cách nghiêm chỉnh, chúng ta sẽ gặt hái được thành quả ngay. Bạn cứ thử đi sẽ thấy, tôi chẳng cần quảng cáo làm chi.
Sưu Tầm

Cúng dường Tam Bảo đem lại quả báo lớn nhất trong các loại công đức bố thí, là cơ hội khó gặp để tạo phước báu và gieo duyên với Chánh Pháp. Do vậy người Phật tử cần phải trân trọng cơ hội đó, cần có hiểu biết đúng về nghiệp và quả của nghiệp, có tâm cung kính và trong sáng khi cúng dường, chứ không làm như bố thí hay làm từ thiện ở ngoài đời. Chư Tăng không nhận sự cúng dường với tâm bất kính.

Cúng dường Phật Bảo: xây cất, tu sửa chánhđiệnđểtônthờĐứcPhật, cây Bồ Đề, tượng Phật, hương hoa, đồ lễ... Cúng dường Pháp Bảo: In ấn kinh sách, đĩa thuyết pháp, tổ chức lễ, các khóa thiền, buổi thuyết pháp, phục vụ việc hoằng pháp của chư Tăng... Cúng dường Tăng Bảo: dâng cúng 4 vật dụng cần thiết cho cuộc sống tu tập của chư tăng, bao gồm: y phục, đồ ăn, thuốc chữa bệnh, chỗ ở như cốc, liêu... và các phương tiện khác khi cần  như phương tiện đi lại...

Để sự cúng dường được thành tựu phước báu mỹ mãn, cần có đủ 4 điều: 1.Người dâng cúng giữ giới trong sạch(5 hoặc 8 giới). 2.Vật cúng dường có được do làm ăn trong sạch. 3.Tâm trong sạch (không tham, không sân, không cúng vì danh, vì lợi...). 4.Có đức tin về nghiệp và quả của nghiệp.

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2018


"Tất cả quý vị đều biết rằng gà rừng rất sợ người. Vậy mà từ ngày Sư về đây, ở trong rừng nầy Sư có thể dạy chúng nó học và Sư cũng học của chúng nữa. Lần nọ Sư rải lúa cho chúng nó ăn. Thoạt tiên chúng nó rất nhút nhát và không dám đến gần mấy hột lúa. Tuy nhiên, sau một thời gian, chúng nó quen đến tìm ăn và còn trông chờ Sư cho ăn là khác. Quý Sư thấy không? Có một vài điều ở đây mà ta có thể học hỏi. Lúc ban đầu mấy con gà rừng e sợ vì nhận thấy có sự hiểm nguy trong những hột lúa, chúng xem lúa là kẻ thù. Trong thực tế, không có hiểm họa trong lúa, nhưng chúng nó không biết rằng lúa chỉ là vật thực, và chúng nó sợ. Khi cuối cùng, tự mình thấy rằng không có gì phải sợ, chúng có thể đến ăn mà không có gì hại.

Những con gà rừng học hỏi như vậy một cách tự nhiên. Sống ở đây, trong khu rừng này, ta cũng học hỏi cùng một thế ấy. Lúc ban sơ, ta nghĩ rằng giác quan của ta là vấn đề tạo khó khăn, và bởi vì không biết xử dụng nó một cách thích nghi nên ta gặp rất nhiều phiền toái. Tuy nhiên, nhờ kinh nghiệm của pháp hành, ta học được lối nhìn chúng nó thích ứng với Chân Lý. Chúng ta học cách xử dụng giác quan giống như mấy con gà sử dụng hột lúa. Chừng đó giác quan không còn là thù nghịch với ta nữa, và bao nhiêu vấn đề khó khăn đều tan biến.

Giờ phút nào mà chúng ta còn suy tư, quán xét, và hiểu biết lầm lạc thì những sự vật ấy còn là thù nghịch với ta. Nhưng khi ta bắt đầu quán xét chân chánh thì những gì kinh nghiệm sẽ đưa ta đến trí tuệ và hiểu biết chân chánh - giống như mấy con gà cuối cùng hiểu biết chân chánh. Theo đường lối nầy ta có thể nói rằng mấy con gà thực hành “thiền minh sát”. Chúng nó hiểu biết thích ứng với Chân Lý, đó là tuệ minh sát của chúng.

Trong pháp hành nầy lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, là những công cụ mà nếu sử dụng thích nghi, sẽ soi sáng Giáo Pháp cho chúng ta. Ðó là điều mà tất cả những ai hành thiền phải quán niệm. Nếu không nhận thức rõ ràng, chúng ta vẫn còn sống mãi trong tình trạng mâu thuẫn và xung đột"

Trích: Hai thực tại - Achanh Chahn

Thiền Giữa Đời Thường: Phương pháp Thiền Phật giáo nguyên thủy (Thiền Vipassana)

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2018

"
Ta thử quan sát con nhện. Nhện giăng tơ, làm thành một màng lưới, rồi ngồi lại ở giữa, im lìm, bất động. Sau đó, một con ruồi bay đến, đáp lên, và mắc vào lưới nhện. Vừa khi ruồi đụng đến và làm rung chuyển lưới thì “phụp!” nhện phóng nhanh tới và quấn chặt. Ruồi bị giữ lại đó. Nhện quay về trung tâm màng lưới, thâu mình vào, im lặng. Quan sát một con nhện như vậy có thể khai triển trí tuệ. Hệ thống giác quan của ta có cái tâm ở giữa và mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý bao quanh. Khi một giác quan bị khơi động, thí dụ như có hình thể tiếp xúc với mắt, thì nó rung động và chạy đến tâm. Tâm là cái gì hay biết — ở đây là biết hình thể. Chỉ bấy nhiêu cũng đủ làm cho trí tuệ phát sanh. Giản dị như vậy!
 Giống như con nhện trên màng lưới của nó, ta phải giữ mình, thu thúc lục căn. Vừa khi nhện hay biết có ruồi chạm vào lưới, tức thì nó nhanh chóng phóng tới chụp và quấn chặt, rồi quay về trung tâm trở lại. Không có gì khác biệt với tâm ta. “Nhập vào trung tâm” có nghĩa là sống với Chánh Niệm, ghi nhận và hay biết rõ ràng, luôn luôn giác tỉnh, làm tất cả mọi việc một cách thỏa đáng và chính xác — đó là trung tâm của chúng ta. Thật sự không phải làm gì nhiều, chỉ thận trọng sống như vậy. Nhưng nói thế không có nghĩa là chúng ta sống buông lung, không chuyên cần, nghĩ rằng, “không cần thiền tọa hoặc thiền hành”, hay quên đi, gác qua một bên pháp hành. Chúng ta không thể bất cẩn. Phải thận trọng, luôn luôn giác tỉnh, y như con nhện đứng rình để chụp ruồi làm vật thực.
 Ðó là tất cả những gì ta cần phải biết: ngồi lại và suy niệm về con nhện. Chỉ làm thế thôi, trí tuệ có thể tự nhiên phát hiện. Tâm ta giống như con nhện. Những cảm tưởng giống như ruồi, muỗi và những loại côn trùng khác nhau. Tất cả chỉ có bấy nhiêu! Giác quan bao trùm và luôn luôn khơi động tâm. Khi một giác quan tiếp xúc với đối tượng, nó lập tức chạy đến tâm. Tâm quán chiếu, suy xét tận tường rồi nhập trở lại vào trung tâm. Ta sống an trú như vậy — giác tỉnh, hành động chính xác và luôn luôn giữ chánh niệm, hay biết với trí tuệ. Chỉ bấy nhiêu, và pháp hành của ta hoàn thành viên mãn.
 Ðiểm nầy rất quan trọng. Chúng ta không nhất thiết phải ngồi thiền suốt ngày suốt đêm, hay là phải đi kinh hành suốt đêm suốt ngày. Nếu quan niệm pháp hành là vậy ta thật sự tạo khó khăn cho mình. Phải làm điều nào mà mình có thể làm được, lượng sức dẻo dai và năng lực của mình và xử dụng khả năng của cơ thể trong mức độ thích nghi.
 Ðiều rất quan trọng là hiểu biết cái tâm và các giác quan. Thấu hiểu nó đến như thế nào và thấu hiểu nó đi như thế nào. Khởi sanh như thế nào và hoại diệt như thế nào. Hãy thấu hiểu tận tường. Trong ngôn ngữ của Giáo Pháp ta có thể nói rằng giống y như lưới nhện bao bắt ruồi muỗi và những loại côn trùng khác nhau, tâm cột trói giác quan bằng Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. Rồi những giác quan ấy đi về đâu? Ta giữ nó lại để làm vật thực, tồn trữ nó vào kho để làm chất liệu dinh dưỡng — chất liệu để quán niệm nhằm nuôi dưỡng trí tuệ. Ðó là chất dinh dưỡng đối với người hay biết và thấu hiểu.
 Biết rằng những sự vật ấy là vô thường, dính liền với đau khổ và không có gì gọi là “ta” thì phải là điên cuồng ta mới chạy theo chúng! Nếu không nhận thức rõ ràng như vậy ắt ta phải đau khổ. Khi đãquan sát tận tường và thấy rằng những sự vật ấy quả thật là vô thường thì dầu nó có vẻ như đáng cho ta chạy theo, thật sự nó không đáng. Tại sao ta muốn làm gì trong khi bản chất của nó là đau đớn và sầu khổ? Nó không phải của ta, không có thực chất, không có gì thuộc về của ta. Như vậy tại sao ta chạy theo tìm nó làm gì? Tất cả mọi vấn đề khó khăn đều chấm dứt nơi đây. Còn đâu khác để ta chấm dứt nó?
 Chỉ nhìn rõ con nhện và quay cái nhìn vào bên trong mình, hướng cái nhìn trở lại vào trong. Ta sẽ thấy rằng hai hình ảnh đều giống nhau y hệt. Khi cái tâm đã thấy Vô Thường, Khổ, Vô Ngã thì nó buông bỏ tất cả và tự phóng thích. Nó không còn bám níu vào đau khổ hay hạnh phúc. Ðó là chất liệu dinh dưỡng cho tâm linh người có pháp hành, người thật sự đã tự rèn luyện. Tất cả chỉ có bấy nhiêu, thật giản dị! Ta không cần chạy tìm nơi nào khác. Như vậy bất luận việc gì mà ta đang làm, đặt tâm ở ngay tại đó. Không cần phải rầm rộ và phiền nhiễu. Làm như vậy đà tinh tấn và năng lực của pháp hành sẽ tiếp tục tăng cường và trở nên thuần thục
"Trích: Hai thực tại - Achanh Chahn

---
Thiền Giữa Đời Thường: Phương pháp Thiền Phật giáo nguyên thủy (Thiền Vipassana)

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2018

"Trong một cuộc hành trình dài dẳng, người kia đi trên đường rất khát nước và hết lòng mong mỏi được uống một bụm cho đỡ khát. Anh vào ngôi nhà xin nước uống. Chủ nhà có sẵn nước, chỉ cho anh biết và nói, “Nước có sẵn kia! Nếu anh muốn thì cứ uống đi. Màu nước trong veo đẹp đẽ, mùi thơm, vị ngọt, nhưng nếu uống vào anh sẽ lâm trọng bệnh. Tôi phải nói trước cho anh biết rõ như vậy” Khách đi đường vì quá khát nước nên không nghe lời cảnh cáo. 

 Người khát khao chạy theo nhục dục cũng dường thế ấy. Ðức Phật dạy rằng đó là thuốc độc — sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là thuốc độc, là cạm bẫy vô cùng nguy hiểm. Nhưng người khát nước kia không nghe lời khuyên nhủ. Vì khát khao thèm muốn, nên anh ta hớp một hớp nước, nuốt vào ngon lành — thật là đã khát. Rồi anh uống, uống thêm nữa, uống đầy bụng … và ngã bệnh gần chết. Anh không nghe lời người chủ nhà vì khát khao thèm uống cho được miếng nước. Lòng khát khao ham muốn quá mãnh liệt.

 Con người bị vướng mắc trong lạc thú của giác quan cũng dường thế ấy. Người ấy tìm giải khát trong sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp — tất cả đều thơm ngon! Và người ấy mãi mê thỏa mãn lòng khát khao, vui “uống” mà không ngừng, rồi bị dính kẹt, ngày càng kẹt cứng, cho đến ngày chết


Trích: Hai mặt của thực tại – Ajahn Chah

-----
Thiền Giữa Đời Thường: Phương pháp Thiền Phật giáo nguyên thủy (Thiền Vipassana)

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2018

1. “Tất cả chỉ là phương tiện để đi đến mục đích là 1 cuộc sống bình an, hạnh phúc. Đừng nhầm lẫn phương tiện với mục đích.”

Đây là câu thầy khuyên khi tôi hỏi ý kiến thầy về tác động của chế độ ăn lên việc thực hành chánh niệm. Cứ ngỡ thầy sẽ giảng cho 1 bài về năng lượng của thực phẩm trong động vật và thực vật khác nhau như thế nào, hay sự khác biệt trong chế độ của các tôn giáo...Ai dè thầy chỉ nói rất ngắn gọn. Điều đó khiến tôi tỉnh ra phần nào, bỏ hẳn được việc bám chấp vào 1 chế độ ăn: dù là ăn chay, ăn thuần chay, ăn thực dưỡng... và để nó nối dài cái tôi của mình. Điều này thực sự khiến tôi nhẹ nhõm và linh hoạt trong cuộc hành trình.



2. "Ở 1 thái cực có rất nhiều người dính mắc vào việc ăn ngon mặc đẹp; nhưng ở 1 thái cực khác cũng có những người dính mắc vào việc mình là người sống lành sạch, tự làm được sản phẩm tự nhiên, mình giản dị hơn những người kia, hay những điều tương tự. Tất cả đều là dính mắc và làm phình lên cái tôi của mỗi người".

Điều này thầy nói khi tôi khoe về căn nhà mình mới xây thân thiện môi trường như thế nào, mình đang tự tay làm hết mọi thứ...May mắn cho tôi là chưa kịp kiêu đã được nghe hồi chuông cảnh tỉnh của thầy. Sau đó trên cuộc hành trình, tôi có gặp một vài người ở cực thứ hai. Họ tự hào về những sản phẩm tự nhiên của mình đến mức nhận xét về một người thầy khác của tôi là "ngu dốt" (nhưng tôi chỉ hỏi họ vì sao họ nghĩ thế, chứ không phản ứng), rồi nói về người này người khác cũng chỉ như 1 cuộc phân loại hai bên: người hiểu sản phẩm của họ và không hiểu sản phẩm của họ...Tôi không chê trách họ, mà chỉ nhìn họ như một hình ảnh phản chiếu của chính bản thân mình, nếu như tôi không gặp được thầy.



3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn, nếu như cứ ráng sức nhồi vào vì nghĩ là đồ bổ rồi cuối cùng đâm ra tiêu hoá không được, lại thành độc hại trong đầu. Tôi nhớ về một vài trường hợp đọc sách quá nhiều, nghĩ rằng đó đều là kiến thức của mình cả, nên rất thích giảng giải cho người khác. Một số người có thể hâm mộ vì thấy người đấy nói hay, nhưng số khác chỉ thấy một con vẹt mà thôi.



4. "Không ai có thể làm hại con nếu con không cho phép."

Câu này thầy nói trong một buổi chiều gà gáy inh tai, và tôi có ý than phiền về việc ở những khu thanh vắng nhất của Đà Lạt dạo gần đây cũng toàn tiếng karaoke của du khách. Thầy nói chỗ thầy ở bây giờ cũng ồn hơn hẳn xưa, trời lại rất nắng nóng, nhưng thầy thấy ok. Nếu như cứ phản ứng ngay với các kích thích bên ngoài, thì sẽ thấy cả thế giới như đang ám hại mình. Nhưng nếu như có thể điềm nhiên mà quan sát thân-tâm mình trước những kích thích đó, thì sẽ thấy điều mình như một phần hài hoà cùng thế giới lớn hơn.



5. " Con chính là một start-up đã gọi vốn thành công. Việc của con là đầu tư đúng chỗ thôi.": Thầy nói tôi có nhiều thuận lợi như tuổi trẻ, sức khoẻ, không ràng buộc gia đình, hay cái nhìn còn trong sáng...vì vậy trong vòng 5-7 năm tới trước khi bước qua tuổi ba mươi mấy, tôi có thể tạo cho mình một "cái khuôn" con người thật tốt. Bằng việc thực hành chánh niệm sao cho thật tinh tấn. Thầy chỉ vào cái đèn ngay bên cạnh mà nói, còn những người tầm ba mươi lăm đổ lên đã cố định cái khuôn đấy rồi. Có cố sức thay đổi là rất khó, cái đèn không thể thành cái đĩa được. Nếu muốn, phải chấp nhận nhiều đau đớn.

  Sưu Tầm

Thứ Tư, 30 tháng 5, 2018

HỎI: Thưa sư có nhiều người cho rằng: Phước là chuyện nói khích lệ con người thôi, chắc gì có thật. Vì họ nói đã làm nhiều việc lành mà có thấy trả quả gì đâu.
ĐÁP:  Người nói đã làm lành mà không hưởng quả là vì người ấy chưa biết phương pháp làm lành, hay đã biết mà làm chưa đúng. Ví như người làm nước mắm chấm, cũng nước mắm, chanh, đường, ớt và tỏi đó, nhưng có người làm ngon có người làm không ngon. Tại sao? Tại vì làm không đúng độ lượng của mỗi thứ thì làm sao ngon được.
Người làm phước cũng vậy, chưa làm đúng cách hay còn thiếu chưa đúng độ nên chưa có kết quả mỹ mãn đó thôi. Dù vậy cũng không phải là mất hết công đức nhưng chỉ vì còn quá ít nên chưa trả quả thôi.
Vì vậy Đức Thế Tôn dạy cần phải học cho làu thông Tam Tạng để biết cách làm lành. Người làm việc mà thiếu trí tuệ thì không có kết quả mỹ mãn. Khi làm việc thiếu trí tuệ, thì công việc ấy không được chu đáo, giảm bớt phần kết quả tốt đẹp.
Hơn nữa người làm lành mà chưa được hưởng quả là vì chưa tới phiên nó, hay là nó chưa có cơ hội để chen vào. Hoặc vì ác nghiệp còn nhiều năng lực đang mạnh, quá nặng và dày hơn phước báo, còn phước ta mới làm đã ít, nhỏ thì làm sao có đủ khả năng chen vào trả quả cho được. Nếu là người Phật tử chân chính không bao giờ nghĩ gì khác hơn là: Cố gắng làm lành, càng ngày càng nhiều để diệt trừphiền não. Người còn vui, còn khổ là vì còn nhiều phiền não. Khi đã hết phiền não thì đâu còn vui khổ nữa.
- Sưu Tầm-

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018

Có một lần chúng tôi đang trên đường khất thực trở về. Tôi đi sau Ngài, chúng tôi đi từ phía sau thiền viện về phía con đường trung tâm, và khi chúng tôi đang đi bộ qua rừng, có hai con thằn lằn rơi xuống từ trên cây. Ajahn Chah nhìn, rồi quay lại tôi và nói, "Hãy nhìn những con thằn lằn đó, chúng đang giao phối. Nếu chúng không bị dục lạc mê hoặc thì chúng sẽ không bị ngã và tự làm đau mình thế này!" Thật đơn giản, với tu sĩ mới thì đây là một cách giảng dạy rất trực tiếp và dí dỏm.

Đây là những tình huống rất thực tế, rất bình dị và đi thẳng vào giáo Pháp. Ngài có khả năng đưa ra những ví dụ và chỉ ra những sự việc xung quanh có thể giúp chúng ta tự nhìn thấy được Giáo Pháp, chứ không phải là nhìn vào Kinh Điển hoặc nhìn vào ngài - để thấy rằng Giáo Pháp là ở xung quanh chúng ta và là cái mà chúng ta có thể tự mình chiêm nghiệm. Đó là cách truyền đạt trực tiếp và đầy sức mạnh

Thứ Hai, 28 tháng 5, 2018


Trong từng giây phút chúng ta có thể tạo nghiệp, bởi vì, chỉ trừ khi chúng ta ngủ, còn thì chúng ta thường xuyên suy nghĩ, nói năng và hoạt động; và mỗi ý nghĩ, lời nói và việc làm, mỗi cử chỉ, hành động của chúng ta đều có thể tạo nghiệp, làm thay đổi cuộc sống của chúng ta trong hiện tại và mai sau.

- Thứ hai là mọi nghiệp thiện hay ác, lành hay dữ, nặng hay nhẹ, đều do ở chỗ tác ý tức là có chủ ý, có mưu định. Tác ý thiện đưa tới quả báo an lành, tác ý ác đưa tới quả báo đau khổ. Cũng như người trồng cam thì sẽ được cây cam và quả cam. Không thể trồng cam mà lại mọc ra cây ớt. Tất nhiên, trồng cam vẫn có thể không có cam ăn, nếu không biết trồng, không bón phân tưới nước. Hơn nữa, dù cho có biết trồng thì cũng phải có thời gian nhất định mới có quả. Tạo nghiệp ác hay nghiệp thiện cũng vậy, nghĩa là phải có đủ nhân duyên và thời gian thích hợp thì mới có quả báo thiện hay ác.

Có người tuy hiện nay tạo nhiều nghiệp ác, nhưng vẫn sống sung sướng trong hoàn cảnh giàu sang, là vì người ấy trong thời quá khứ đã tạo ra nhiều nghiệp thiện, đến lúc này vừa đúng thời gian lại có điều kiện thích hợp cho nên quả báo của những thiện nghiệp đó trổ ra, vì thế họ vẫn còn được hưởng giàu sang phú quý. Còn những nghiệp ác họ đã tạo ra trong đời sống hiện tại, thì chưa đến thời gian chín muồi, lại chưa có nhân duyên thích hợp, cho nên quả báo ác chưa đến chứ không phải sẽ không đến!.

Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2018

Ngày xưa có đôi thiên nga thường thích dừng chân uống nước bên hồ. Qua thời gian, chúng kết bạn với một chú rùa sống trong hồ nước đó. Rồi chúng kể cho chú rùa nhiều thứ mà chúng thấy được khi bay bổng trên không trung. Chú rùa bị những câu chuyện của chúng cuốn hút, nhưng rồi chú cảm thấy buồn nản vì biết rằng mình sẽ không bao giờ có cơ hội được nhìn thấy thế giới bao la như thiên nga. Khi chú tâm sự với thiên nga về điều này, chúng nói: “Không vấn đề. Chúng tôi sẽ tìm cách mang bạn theo”. Nói rồi con thiên nga đực ngậm một đầu khúc cây, con thiên nga cái ngậm đầu còn lại, còn chú rùa ngậm giữa khúc cây. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, đôi thiên nga bay lên, mang theo chú rùa.

Khi chúng bay trên không trung, chú rùa được thấy thật nhiều thứ, nhiều thứ chú chưa mơ thấy bao giờ khi ở trên mặt đất. Chú thật vui và hạnh phúc vô cùng. Tuy nhiên, khi ba con vật bay qua một ngôi làng, một đám trẻ đang chơi bên dưới nhìn thấy chúng bèn la to: “Nhìn kìa! Thiên nga kéo rùa!  Thiên nga kéo rùa!”.  Điều đó làm chú rùa mất vui, chú chợt nghĩ ra một câu để vặn vẹo lại: “Không. Chính rùa kéo thiên nga!”. Nhưng ngay khi chú vừa mở miệng nói, thì đã rơi xuống đất chết tươi.


Bài học của câu chuyện là: “Hãy giữ miệng ở những chốn cao sang”.

Thứ Năm, 24 tháng 5, 2018


Lần đó, trước khi bắt đầu một mùa an cư, Thiền sư Ajahn Chah quyết định sẽ không để mắt nhìn thấy bất cứ người phụ nữ nào hết để tự kiểm tra lại một cách nghiêm túc nội tâm chính mình.
Ba tháng trôi qua Ngài đã thực hiện đúng bản nguyện. Thế rồi vào ngày cuối cùng của mùa an cư, có rất nhiều Phật tử đến viêng chùa để cúng dường Tăng chúng, nam nữ đủ cả. Lúc đó Ngài đã quyết định thử thả trôi đôi mắt để xem điều gì xảy ra".

Thiền sư Ajahn Chah đã ngước nhìn lên và đúng ngay lúc đó, một cô nàng trẻ tuổi đang đứng trước mặt Ngài. Ngài kể lại rằng trong khoảnh khắc đó mình đã có cảm giác như bị một tia sáng cực mạnh quét ngang bàng hoàng thảng thốt.

>>> Khi đó Ngài nhận ra một điều rằng một sự thu thúc mang tính hình thức và cảnh giác thì vẫn chưa đủ. Không chỉ riêng đối với đôi mắt, mà đối với các giác quan còn lại kể cả ý thức nếu chỉ được khép kín bằng một thái độ đè nén, gò ép và khiên cưỡng mà không có sự can thiệp của trí tuệ thật sự thì chuyện giải thoát vẫn là một điều bất khả.