Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiền Vipassana (Minh Sát). Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiền Vipassana (Minh Sát). Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2025

Người hành giả thực hành thiền đi bằng cách cố định tay vào cơ thể, khoan thai bước trên một đoạn đường khoảng 4m rưỡi đến 5m. Đến cuối đoạn đường, người ấy dừng lại. Trong bước chân đi hay biết chuyển động của chân: nhấc-bước-đạp. Đến cuối đoạn đường nhận biết Tâm Tác Ý quay. Khi Tâm khởi lên ý muốn quay, thân bị điều khiển và nó quay sau đó. Thân khởi ý muốn bước và chân bước.

Người hành giả có thể thực hành thêm cả tư thế thiền ngồi, thường là ngồi ở trên một cái bề mặt cứng. Không nên ngồi ở nơi quá mềm và bồng bềnh. Ngồi ở một nơi yên tĩnh vắng vẻ. Để đầu và lưng thẳng mắt khẽ nhắm lại, an chú trong sự ghi nhận hay biết chánh niệm thân tâm.

Có thể thiền đứng bằng cách đứng thẳng chân mở rộng bằng vai, hơi khuỳnh gối, đỉnh đầu nhô cao, toàn thân thả lỏng, hai tay buông thõng, thư giãn thả lòng toàn thân và giữ tâm chánh niệm.

Trong tư thế thiền nằm lòng bàn tay ngửa, chân mở, không nên nằm gối. Mắt khẽ nhắm nhưng mà để tâm tỉnh thức, chánh niệm hay biết thân tâm.

Ngoài ra chúng ta cần chánh niệm trong cả các động tác phụ khi cầm nắm nâng lên, khi đặt xuống, khi nói năng, khi đọc, khi chỉ trỏ, khi nhìn ngó, khi đứng lên, khi ngồi xuống. Tất cả cũng đều cần chánh niệm hay biết ghi nhận thân tâm. Như vậy tất cả các tư thế như là đi đứng nằm ngồi hoặc là các tư thế phụ ở trong cuộc sống đều là các phương tiện dùng cho việc hành thiền. Không có nghĩa là chúng ta cứ ngồi im nhắm mắt mới là hành thiền, chừng nào mà tâm tình thức ghi nhận hay biết thân tâm với thái độ đúng, đó là lúc chúng ta đang thực hành thiền đúng đắn.

Xem video tại đây

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2025

Những người không tránh niệm tỉnh thức ghi nhận quan sát thân tâm mình, thả cuộc đời của họ trôi dạc theo dòng cảm xúc, và đã trôi giản theo dòng cảm xúc thì không có sự lựa chọn. Bạn không thể có sự lựa chọn thực sự nào cả. Do đó bạn trộn lẫn tất cả mọi thứ thành một mớ hỗn độn: việc có ý nghĩa và việc vô nghĩa. Và trong cuộc đời bạn việc vô nghĩa thì nhiều hơn nên bạn uổng phí rất nhiều thời gian để làm mấy cái việc vô ích đó: suy nghĩ, chuyện trò, vân vân, ... rất nhiều điều vô bổ. Càng thực hành thiền chánh niệm bạn sẽ càng đạt được mục tiêu chất lượng và hiệu quả trong mọi việc mình làm.

Xem video tại đây.

Điều quan trọng trong lúc hành thiền là đừng mong muốn đạt được cái gì. Lòng mong mỏi giải thoát hay giác ngộ là chướng ngại cho sự giải thoát. Dù bạn có nỗ lực hành thiền đến mức độ nào đi nữa hoặc hành thiền suốt ngày đêm, mà vẫn ôm ấp tư tưởng là sẽ đạt được cái gì đó, tâm bạn sẽ không bao giờ bình an, tĩnh lặng. Nỗ lực hành thiền với ước muốn đạt được cái gì là nguyên nhân tạo ra sự hoài nghi và bất an. Người hành thiền với ước muốn đạt được cái gì sẽ không bao giờ tiến bộ, bởi vì Trí tuệ không thể sinh khởi từ lòng ham muốn. Vậy thì cứ thản nhiên thực tập, chú tâm theo dõi thân tâm và đừng mong ước đạt thành gì cả.

Xem video tại đây

Có người xin tôi hướng dẫn thiền cho họ một cách đơn giản, ngắn gọn nhất. Xin được trả lời như này:

- Nếu bạn là một người hoàn toàn mới, chưa biết gì về thiền, thì thiền được hiểu là: thân ở đâu, tâm ở đó, biết rõ việc mình đang làm.

- Nếu bạn thực hành được một thời gian, có thêm thông tin, thì cách thực hành của bạn nên là ghi nhận, chánh niệm hay biết, với thái độ đúng, không dính mắc, không chối bỏ và không đồng hóa.

- Nếu bạn đã trở thành một thiền sinh kinh nghiệm và đã có một khoảng thời gian dài nghiên cứu Phật giáo cũng như ứng dụng thiền trong cuộc sống, thì lúc này việc hành thiền của bạn phải đầy đủ ba yếu tố: chánh niệm, chánh kiến, chánh tinh tấn.

Khi đó, bạn đã thực hành đúng phương pháp Thiền Vipassana, phương pháp Thiền Tứ Niệm Xứ do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ dạy.

Xem video tại đây

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2025

Vì phiền não luôn luôn sát cánh với chúng ta, luôn đầu độc cuộc sống này, nên lúc nào chúng ta cũng cần phải hành thiền để biết chúng, để hiểu chúng, để rồi thoát khỏi sự chi phối của chúng.

Dù chúng ta đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi trong một khoá hành thiền miên mật hay ở tại gia đình, chúng ta làm việc máy tính, cắt may, nói chuyện, rửa bát đũa, đều là thời điểm cần thiết để hành thiền.

Vậy những phiền não là những gì? Phiền não không chỉ là sự thể hiện của tham, sân, si ở dạng thô mà nó còn là tất cả những trạng thái tâm bất thiện gần với chúng nữa như là đố kỵ, soi mói, keo kiệt, sợ hãi, chấp chặt và nếu bị các trạng thái phiền não này điều khiển thì cuộc sống của chúng ta sẽ đau khổ, bất an và cũng làm cho những người xung quanh chúng ta đau khổ, bất an.

Trong thiền Vipassana, chúng ta không đè nén hay tiêu diệt phiền não, chúng ta biết chúng, hiểu chúng có sinh có diệt và thoát khỏi sự chi phối của chúng.

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2025

Khóa thiền Vipassana 5 ngày miên mật được tổ chức tại Chùa Đức Hòa, Sóc Sơn, Hà Nội do Sư cô Hương Thiền hướng dẫn.

Khóa thiền chỉ nhận đăng ký online. Trước khi khai giảng, thiền sinh phải nộp lại điện thoại cho Ban tổ chức giữ, và nhận thẻ thiền sinh của mình.

Thiền sinh sẽ được thực hành trong các thời thiền ngồi, thiền đi và thiền đứng với thời gian tăng dần để thiền sinh làm quen.

Đến với khóa thiền, thiền sinh sẽ được Sư cô giảng giáo lý và hướng dẫn thực hành.

Tại khóa thiền, thiền sinh sẽ được dùng 2 bữa sáng, trưa và dùng nước chiều đối với những thiền sinh giữ bát quan trai giới.

Xem chi tiết video tại đây.

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2018



 Có nhiều lúc tôi cảm thấy mình là một thiền sinh rất tệ. Có những ngày tôi ngồi thiền nhưng chẳng có chút gì là chánh niệm( ghi nhận quan sát thân tâm mình). Tôi tự hỏi, không biết mình có cố gắng đủ hay không? Tôi có lười biếng quá không? May mắn thay, vì được dạy rằng mình cần phải biết rộng lượng và tha thứ cho những thất bại của mình trên con đường tu học, nên tôi cũng không cảm thấy buồn nản cho lắm. Nhưng cũng có thể vì vậy mà tôi thiếu sự tinh tấn chăng? Sự thật là nhiều năm trước đây, tôi nhận thấy thật ra mình cũng không thể nào kiểm soát được những gì xảy ra trong lúc ngồi thiền - tôi chỉ có thể có mặt ngồi nơi tọa cụ mà thôi. Trong thời gian đầu, tôi vất vã cố gắng để thực hành theo lời hướng dẫn - theo dõi hơi thở, khi nào tâm ta lo ra, buông bỏ tư tưởng ấy và trở lại với hơi thở của mình - nhưng chẳng có gì đặc biệt xảy ra hết. Thật ra, tôi cảm thấy rất bất an trong những lúc ngồi thiền. Sau đó, tôi cảm thấy khá hơn một chút, nhưng cái kinh nghiệm ấy tự nó vẫn là khó chịu. Nhưng cuối cùng rồi thì tôi cũng vượt qua, và bắt đầu có được những kinh nghiệm tĩnh lặng và sáng tỏ. Và trong suốt nhiều năm, và các khóa tu, kế tiếp, tôi cố gắng giữ một sự quân bình trong sự thực tập của mình, "dụng công nhưng không dụng lực."

 Khi nào tôi thể hiện được điều này thì mọi việc dường như đều rất trôi chảy, tôi cảm thấy mình có một sự tỉnh thức tự nhiên và buông bỏ nhẹ nhàng. Và ngược lại, những khi thất bại, tôi cảm thấy mình lạc lõng, bối rối và tràn ngập bởi những tư tưởng và cảm giác rằng mình hoàn toàn mất sự tự chủ. Và rồi từ đó tôi lại tự hỏi không biết phương cách thực tập này của tôi có thích hợp không.

 Gần đây, tôi có đọc được bài kinh mở đầu trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta-Nikáya). Trong bài kinh ấy có người hỏi đức Phật bằng cách nào để ngài vượt qua được dòng nước lũ, ý nói về sự giác ngộ của ngài. Câu trả lời của Phật thật vô cùng đơn sơ: - "Này Hiền giả, không đứng lại, không vội vã, Ta vượt khỏi dòng nước lũ." - "Thưa ngài, làm sao không đứng lại, không vội vã, Ngài vượt khỏi dòng nước lũ?" Người ấy hỏi. - "Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta bị chìm xuống. Khi Ta vội vã, thời Ta bị cuốn trôi; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không vội vã, Ta vượt khỏi dòng nước lũ." Tôi nghĩ câu trả lời của đức Phật diễn tả được điều mà tôi đang cố gắng để đạt đến trong sự thực tập của chính mình. Tôi cứ tiếp tục có mặt nơi toạ cụ của mình, dù cho chuyện gì xảy ra, nhưng không cố sức quá.

 Trong thời gian qua, tôi cũng có thực tập theo chương trình Twelve-Step programs, họ có một câu châm ngôn là "chỉ từng ngày một." Tôi nghĩ câu ấy có nghĩa là, ta đừng cố gắng phải giải quyết hết mọi vấn đề trong cùng một lúc - hay là đạt giác ngộ - chỉ cần ta chăm sóc cho những gì cần thiết trong ngày hôm nay. Hôm nay ta chỉ cần ngồi trên toạ cụ của mình theo thời gian hạn định. Đừng tự trách móc hay phê phán về buổi ngồi thiền ấy là thành công hay thất bại. Đó không phải là chuyện của mình. Chuyện của mình là có mặt và ngồi ở đó. Nếu bạn bỏ sự thực tập vì nó không đạt đúng với "tiêu chuẩn" của mình muốn, như đức Phật dạy, bạn sẽ bị chìm xuống.

 Đức Dalai Lama cũng có khuyên chúng ta không nên lúc nào cũng cứ xem xét và phê phán sự thực tập của mình. Ngài dạy, chúng ta chỉ nên nhìn lại sau một thời gian dài, như là năm hay mười năm, chừng ấy ta mới thật sự thấy được sự tiến triển của mình. Tôi nghĩ có lẽ ý ngài cũng khuyên chúng ta đừng nên dừng lại. Nhưng dù vậy, trên con đường thực tập, có những lúc tôi nhìn chung quanh và thấy hoang vu, không có gì thay đổi hay khác biệt. Tôi có tự dối gạt mình hay không? Tôi có thật sự cố gắng đủ chưa? Có lúc, tôi thực tập với một vị thầy dạy cho tôi những phương pháp thực hành gắt gao hơn, nhưng rồi tôi vẫn trở về với đường lối nhu hoà của mình. Đó có phải là phản ảnh của một tính khí yếu đuối chăng? Có lẽ tôi cần phải nên cố gắng nhiều hơn để tăng trưởng định lực và chánh niệm của mình. Vấn đề là mỗi khi tôi cố gắng gò bó mình, cuối cùng tôi lại cảm thấy còn tệ hại hơn trước. Chắc có lẽ tôi chỉ có thể là vậy thôi.

Đứa con gái của tôi khi lên sáu, mỗi lần bị la rầy nó hay nói, "Con đâu phải là chủ của đầu óc của mình." Nghe thấm thía làm sao. Tôi là một giáo thọ, tôi đi hướng dẫn các khóa tu, vì vậy cho nên tôi thuộc vào hạng "Bác sĩ, hãy lo chữa bệnh cho mình đi!" Thật ra thì tôi cũng hiểu về những ý nghĩ ngờ vực này của tôi lắm chứ. Nhưng vấn đề tôi muốn nêu ra là thế nào là Chánh Tinh Tấn? Thật ra đó không phải là một vấn đề của riêng tôi. Trong những khóa tu, tôi thường khuyên người khác nên từ tốn với chính mình, có niềm tin vào sự thực tập, nhìn mọi việc xảy ra trong một không gian rộng lớn, và nhớ rằng cái gì cũng rồi sẽ qua. Hãy có niềm tin vào đạo pháp, cho dù ta không có niềm tin nơi mình. Đó là lời khuyên mà tôi có thể dùng được!

 Là một giáo thọ, tôi không tránh khỏi ghi nhận những hình ảnh của các vị giáo thọ khác, và thấy rằng gương mặt họ lúc nào cũng tươi sáng và nở nụ cười. Hình như họ có một thông điệp là, "Nếu bạn thiền tập như tôi, bạn sẽ có hạnh phúc!" Và những lời hướng dẫn thiền tập cũng vậy, có vẽ như rất hoàn hảo, không có chút gì là bất toàn hết. Đôi khi tôi tự hỏi, ta có nên ghi thêm những câu này trong các khoá tu không: "Những kinh nghiệm thật sự của bạn trong khóa tu này sẽ tùy thuộc vào những nghiệp quả trước đó, karma, của bạn. Các vị thầy và trung tâm này không thể bảo đảm về sự giác ngộ của bạn (hoặc là bạn có vui thích hay không)." 

Cuộc đời của tôi có biết bao những thăng trầm - buồn vui, căng thẳng, hân hoan, mệt mỏi. Và tất cả những trạng thái ấy đều được phản ảnh trong buổi ngồi thiền hằng ngày của tôi. Đôi khi, tôi muốn sự thiền tập của mình hoàn toàn cách biệt hẳn với chúng, như là một trạng thái nhiệm mầu nào đó mà tôi có thể bước vào và lánh xa hết tất cả. Nhưng thật ra thiền tập không phải là một sự trốn tránh thực tại, mà ngược lại, nó là một nhận thức về thực tại sâu sắc hơn. Và nếu ta nhìn cho sâu và cho thật rõ, bên dưới cái thực tại bất an ấy là một thực tại tĩnh lặng, tuệ giác và hạnh phúc. Đó mới chính là chân thực tại. Và nếu tôi không dừng lại và cũng không vội vã, sự tĩnh lặng và tuệ giác này này sẽ tự nhiên hiển lộ -- theo thời điểm của nó, chứ không phải của tôi.
Chuyển ngữ sang tiếng Việt: Nguyễn Duy Nhiên
 Theo: Buddhasasana

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018



V. F. Gunaratna
“Áp Dụng Pháp Tứ Niệm Xứ Vào Ðời Sống Hiện Ðại" là đề mục buổi nói chuyện của tôi chiều nay.
Trước tiên tôi sẽ cố gắng trình bày cùng quý vị vài ý niệm về Tứ Niệm Xứ, rồi sau tôi sẽ vạch rõ tình trạng đặc biệt và phức tạp của thời đại hiện tại như thế nào để quý vị nhận thức rằng hơn lúc nào cả, Pháp Tứ Niệm Xứ rất cần thiết cho thời đại của chúng ta.

Cũng như quý vị đã biết, Pháp Tứ Niệm Xứ đề cập đến sự phát triển một khả năng rất quý của Tâm là "Sati", hay "Niệm" (chú tâm). Sự phát triển ấy có bốn cách. Tứ Niệm Xứ có nghĩa là củng cố Niệm, hoặc thực hành Niệm. Bốn cách Niệm mà ta trông thấy trong Kinh là:

1.    - Niệm Thân (niệm hơi thở thuộc về khoảng này): Kàyànupassanà.
2. - Niệm Thọ: Vedanànupassanà
3. - Niệm Tâm: Cittànupassanà
4. - Niệm Pháp: Dhammànupassanà

Niệm là một trong tám Chi của Bát Chánh Ðạo; nó là một trong Ngũ Căn (Indriya) và cũng là một trong Thất Giác Chi (Bojjhanga). Như vậy quý vị cũng đủ thấy là Niệm (Sati) có một vị trí rất quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Thật vậy, Ðức Phật đã gọi nó là "Ekàyano Maggo" - con đường duy nhất, "sattànam visuddhiyà" - làm cho chúng sanh trở nên thanh tịnh, "soka pariddavànam samatikkamàya" - làm cho ta vượt qua phiền não và ta thán, "dukkha domanassànam tthangamàya" - làm cho ta tiêu diệt khổ não và âu sầu, "nàyassa adhiga màya" - đem ta vào Chánh Ðạo, "nibbànassa sacchikiriyàya" - để chứng quả Niết Bàn.

Bởi thế nên theo quan điểm của người thường, Niệm cũng là một đức độ rất đáng kỳ vọng. Lẽ thường cho ta hiểu rằng thực hành Niệm sẽ làm cho ta trở nên tinh vi đúng mực hơn, nhặm lẹ hơn và làm giảm bớt những điều sai, những lỗi lầm, những sơ xuất, những tai nạn. Và lẽ thường cũng cho ta hiểu thêm rằng nếu thực hành Niệm thành một thói quen, tâm ta sẽ được quân bình, ta sẽ ý thức được sự tương xứng trong mọi việc, ta sẽ có một tinh thần minh mẫn và luôn luôn ta sẽ thận trọng. Nhưng, xin quý vị nên nhớ rằng Ðức Phật còn cho ta biết nhiều hơn nữa về kết quả của Niệm. Ðức Phật, với những lời lẽ hết sức là rõ ràng, như tôi vừa trích trên đây, dạy ta rằng Niệm có tác dụng làm cho chúng sanh trở nên thanh tịnh, làm cho ta vượt qua phiền não, đưa ta vào Bát Chánh Ðạo và cuối cùng làm cho ta chứng được Niết Bàn.

* * *

Song, làm thế nào để đạt được những kết quả cao quý và tốt đẹp ấy? Cho đặng thành tựu như thế thì cái Niệm mà ta thực hành không phải chỉ thuộc về thế gian này, không phải là Niệm "tại thế" (lokiya), nhưng phải là Niệm "siêu thế" (lokuttara), nghĩa là phải có một đặc tính riêng biệt thuộc về tinh thần, và do đó phải có một kỹ thuật đặc biệt để thực hành Niệm. Pháp Tứ Niệm Xứ đề cập đến bốn cách Niệm và phương pháp cần thiết để thực hiện. Như vậy, khi ta hành về một trong Tứ Niệm Xứ bằng phương pháp đặc biệt của nó, ta có thể thu thập được những kết quả hứa hẹn.

Niệm cho đúng phương pháp có đặc điểm là nó đòi hỏi phải nhìn sự vật một cách khách quan, chứ không chủ quan; nếu Niệm không chứa đựng được yếu tố quan trọng là nhìn sự vật một cách khách quan, thì chưa chắc phải là Niệm đúng theo nghĩa của nhà Phật mà trong Kinh gọi là Sati. Ta phải cần phân biệt giữa lối nhìn khách quan và lối nhìn chủ quan. Khi có người yêu cầu Pythagore định nghĩa nhà hiền triết là như thế nào, thì ông trả lời với một ý nghĩa cũng tương tợ như trên là khi mọi người trên thế gian này được mời đến dự "tiệc đời", thì có một số người đến đặng hưởng lạc, một số nữa đến đặng cầu tiếng tăm, danh vọng, nhưng cũng có một số người khác đến để mà xem. Những hạng người sau này chính là những nhà hiền triết vậy. Tỷ dụ ấy ngụ ý là bậc triết nhân không đồng nhất mình với cuộc đời. Bậc triết nhân nhìn đời một cách bàng quan. Người tập luyện Sati cũng phải nhìn sự vật như thế.

Khi quý vị nhìn một vật gì một cách chủ quan thì giữa quý vị và vật ấy có một ái lực về tinh thần. Quý vị đem Tâm mình đến rất gần vật ấy. Quý vị liên kết mình với đối tượng và nếu có mối liên kết nào giữa quý vị và đối tượng, thì quý vị sẽ không cố gắng để ngoài Tâm mối liên hệ ấy. Trái lại, mối liên hệ ấy còn ảnh hưởng rất nhiều và sẽ tô màu việc quan sát của quý vị. Rốt cuộc, quý vị không còn là người quan sát vô tư nữa. Còn như quý vị nhìn vật gì một cách khách quan thì quý vị cầm giữ tâm mình cho xa đối tượng, quý vị tách mình ra khỏi đối tượng và nếu có mối liên hệ nào giữa quý vị và đối tượng, thì quý vị sẽ không cho nó ảnh hưởng đến việc quan sát của mình. Như vậy, quý vị là người chỉ quan sát mà thôi, khác hẳn với người quan sát thiên vị. Người quan sát khách quan không bị ngoại cảm ảnh hưởng, tất nhiên sẽ thấy rõ hơn và đúng hơn người quan sát thiên vị, vì sự nhìn của người quan sát thiên vị có thể bị sai lệch bởi tư kiến, tư lợi. Người đứng ngoài thấy rõ nước cờ hơn người đánh cờ hoặc người đánh ké. Vậy, khi ta thực hành Niệm, ta phải thoát ra khỏi tất cả ý tưởng về bản ngã hay tư lợi, phải rán gắn Tâm vào đối tượng mà thôi, không lưu ý đến một giả thuyết nào, một phỏng đoán nào, thiên kiến nào, thành kiến nào hay ức đoán nào cả. Tóm lại, ta cố gắng có một hình ảnh thật của đối tượng và chỉ có hình ảnh ấy mà thôi. Chính đó là đặc tính của Niệm mà ta phải đào luyện cho kỳ được.

Tôi đã nói rằng có bốn đối tượng của Niệm: Thân, Thọ (cảm giác), Tâm (ý tưởng), và Pháp (đối tượng của ý), và đối với mỗi đối tượng ấy, ta phải hành Niệm một cách khách quan. Bất cứ là đối tượng nào của Niệm, quý vị phải nhìn chỉ đối tượng ấy mà thôi. Ðó là bí quyết trong việc thực hành Satipatthàna (Tứ Niệm Xứ) để có hiệu quả, và bí quyết ấy Ðức Phật đã giải thích rõ ràng trong rất nhiều cơ hội. Quý vị có thể tưởng tượng tầm quan trọng của điều ấy khi tôi nhắc lại câu chuyện sau đây:

Một hôm, trên đường đi trì bình, Ðức Phật dừng bước lại để giải thích bí quyết ấy cho một người nọ. Hàng ngày, Ðức Phật luôn luôn áp dụng một thời khắc biểu nhứt định và không khi nào thay đổi, như chẳng hạn trong lúc đi trì bình thì không bao giờ dừng bước lại để làm một việc nào khác. Thế mà trong trường hợp đặc biệt này, Ngài dừng chân lại để đàm luận cùng Bàhiya, nhà lãnh đạo một tôn giáo nọ. Ông Bàhiya này đã sống một cuộc đời lương thiện và ông đã tự cho rằng mình có thể đạt đến tầng A La Hán. Nhưng một hôm nọ có một vị Thần đến bảo ông rằng: "Người chưa phải là A La Hán đâu, cũng chưa đến A La Hán đạo nữa. Người đâu có biết được "kỹ thuật" (patipadà) để trở thành bậc A La Hán. Người hãy đến hỏi với Ðức Phật đi! Ngài là bậc A La Hán và Ngài đang dạy phương pháp đưa chúng ta đến tầng A La Hán. Ngài ở cách xa đây, tại thành Sàvatthi (Xá Vệ)".

Những lời khuyên của vị Thần làm cho Bàhiya rất xôn xao. Ông tức khắc lên đường thẳng đến Sàvatthi. Trong Kinh chép rằng ông khao khát học tập "kỹ thuật" để trở thành bậc A La Hán đến nỗi ông chỉ ngừng lại có một đêm trong suốt cuộc hành trình của ông. Khi đến Jetavana (Kỳ Viên) tại thành Sàvatthi, ông được biết rằng Ðức Phật đã đi trì bình. Rất bối rối, ông bèn noi theo hướng Ðức Phật đã đi. Gặp được Ngài, ông liền quỳ xuống, đặt trán lên chân Ngài và khẩn cầu Ngài chỉ dạy cho "kỹ thuật" để trở thành A La Hán. Hai lần thỉnh nguyện và cả hai lần Ðức Phật đều không chấp thuận lời yêu cầu của ông, nói rằng: "Này Bàhiya, anh đến không đúng lúc. Chúng tôi đã lên đường đi trì bình". Khi ông thỉnh cầu đến lần thứ ba, vì biết nghiệp ông phải chết nội ngày ấy, nên Ðức Phật dừng chân lại mà giải thích một cách tóm tắt như sau đây: "Này Bàhiya, anh phải luyện tập như thế này:

"Ditthe dittha - mattam bhavissati
Sute suta - mattam bhavissati
Mute muta - mattam bhavissati
Vinnàte - vinnàta - mattam bhavissati".

"Khi trông thấy vật gì, anh chỉ nên thấy vật ấy mà thôi.
Khi nghe tiếng gì, anh chỉ nên nghe tiếng ấy mà thôi.
Khi có một ý tưởng nào, anh chỉ nên nhận thức ý tưởng ấy mà thôi.
Khi có sự hiểu biết nào, anh chỉ nên nhận thức sự hiểu biết ấy mà thôi".

Bấy nhiêu lời đủ làm cho Bàhiya giác ngộ.

Ðó là những lời rất uyên thâm, đầy ý nghĩa. Với sự trình bày trước đây, tôi chắc rằng quý vị đã lãnh hội được đầy đủ. Nếu quý vị thực hành Niệm trên một sắc tướng nào thì quý vị phải chỉ thấy sắc tướng ấy mà thôi, chứ đừng thấy gì khác nữa. Những ý nghĩ và cảm kích nào do lợi ích riêng tư đã phát sinh khi quý vị thấy sắc tướng ấy, cũng không được làm sai lệch sự trông thấy của quý vị. Khi đối tượng của Niệm là một tiếng động thì phải chỉ có tiếng động ấy mà thôi, chứ không nên có những ý nghĩ và cảm kích nào tạo ra vì tư lợi. Khi ta nghe một việc gì cũng vậy, chỉ nên nghe việc ấy mà thôi. Ðối với ba cách Niệm kia quý vị cũng nên giữ một thái độ tinh thần như thế.

Khi Ðức Phật cùng các đệ tử trì bình xong trở về, Ngài thấy Bàhiya nằm chết bên lề đường, vì bị một con bò con húc. Ðức Phật bảo đệ tử của Ngài đem thi hài ông đi hỏa táng. Sau đó, Ðức Phật nói rằng: "Bàhiya đã vâng theo lời ta dạy. Anh đã chứng ngộ đạo quả A La Hán".

Giờ đây ta mới thấy sự quan trọng của lối nhìn sự vật một cách khách quan. Mỗi khi cái gì đến ta, ta không nên để nó ảnh hưởng đến ta. Ta phỉ nhìn nó một cách thật khách quan. Cái gì đến ta có thể là sắc, hoặc thinh, hoặc hương, hoặc vị, hoặc xúc, hoặc một ý tưởng. Trong Anh ngữ không có danh từ nào đồng nghĩa với ý tưởng "cái gì đến trên con đường ta". Danh từ Pàli là "àrammana", thường được dịch là "đối tượng". Ấy là những gì đến với ta trên đường đời và nếu ta nhìn những việc ấy một cách khách quan, thay vì để nó chế ngự ta, thì ta sẽ trải qua cuộc đời đúng đắn, không lầm lạc. Hiện nay thế gian đang khổ vì không quan sát đúng những "sự việc gặp gỡ" ấy. Trước những "sự việc gặp gỡ" ấy ta hồi tưởng lại bao nhiêu là phản ứng của ta đối với nó trong quá khứ, bao nhiêu là khuynh hướng của ta trong hiện tại, rồi ta vội vàng hành động. Như vậy là điên cuồng. Ta cứ để cho hình ảnh thật tự nó in vào đầy đủ trong tâm thức ta. Trái lại, hiện nay ta không chịu chờ có một hiểu biết đầy đủ nào về "sự việc gặp gỡ" đó. Những nét sơ thiển của nó đủ ảnh hưởng ta và khiến ta vội vàng hành động.

Thí dụ, quý vị thử xem một điều gọi là ác. Quý vị nên nhìn nó một cách khách quan, thay vì để những phản ứng thường tình do nó gây nên xen vào trong tâm thức quý vị. Quý vị hãy cố gắng đạt hết ý nghĩa của cảnh tượng ấy. Hãy vô tư, hãy thành thật, hãy bình tĩnh xem. Hãy nhìn nó cho lâu, đừng để cho những dục vọng, những cảm kích, những quan niệm mà cảnh tượng ấy có thể gợi lên trong tâm thức quý vị, làm xao xuyến quý vị. Ðừng kết luận, cũng đừng ước đoán. Cứ chỉ nhìn, nhìn một cách khách quan, thì chắc chắn rằng bộ mặt giả dối bên ngoài của điều xấu sẽ mất đi và quý vị sẽ không bị sai lầm. Cái bề ngoài dễ thương của mọi điều ác quyến rũ một số không ít những người nhẹ dạ, không nghi ngờ gì cả, nhưng sẽ biến mất trước cái nhìn chăm chăm, không lay chuyển của người quan sát khách quan. Và người này sẽ thấy vạn vật dưới ánh sáng thật của nó. Quý vị sẽ thấy vạn vật đúng chân tướng của nó - yathà bhutanana dassana - và một khi quý vị thấy vạn vật đúng theo chân tướng của nó thì quý vị không còn là nạn nhân của si mê nữa. Ðó là sứ mệnh cao cả của Satipatthàna (Tứ Niệm Xứ).

* * *

Tôi vừa nói về ý nghĩa đặc biệt của chú Niệm. Giờ đây chúng ta hãy bàn qua phương pháp đặc biệt để thực hiện Niệm. Trước hết ta nên nói rằng phương pháp đặc biệt ấy nhắm vào sự thực hành đối tượng thứ nhất của Niệm, là Niệm thân, và đặc biệt nhắm vào cách Niệm đặc biệt về thân và Niệm hơi thở "ànàpàna-sati". Thực hành loại Niệm này cần chọn một giờ nhất định là một cách ngồi riêng biệt. Các loại Niệm kia có thể thực hành bất kỳ chỗ nào, bất cứ giờ nào, tùy theo cơ hội thuận tiện.

Vậy thực hành Niệm về hơi thở cần phải ở nơi nào? Trong Kinh có chép: "arannagato và rukkhamùlagato và sunnàgàragato ". "Trong một khu rừng, dưới một cội cây, hoặc trong một ngôi nhà trống". Ba chốn được kể ra đây bao hàm ý nghĩa phải chọn một chỗ yên tĩnh, một nơi mà ta có thể lui về để tránh sự ồn ào, sự náo nhiệt, sự xôn xao của nếp sống bận rộn hàng ngày. Ðây là một điều mà thế giới hiện đại rất cần có. Nhưng, rừng rú thì càng ngày càng bớt đi, ở thành thị thì rất hiếm có vườn tược với những cổ thụ có bóng mát. Ở thôn quê thì có vườn tược và cây cối, nhưng thôn quê mau trở thành đô thị và nơi đó hết phải là những nơi vắng vẻ, yên lặng và tĩnh mịch như hồi xưa. Những người sống ở thành phố rộn rịp hoặc ở thôn quê rộn rịp chỉ còn có giải pháp thứ ba là ngôi nhà trống (sunnàgàra). Ngay đến ngôi nhà trống cũng không dễ gì tìm ra, vậy ta phải tìm một căn phòng trống. Trong đời sống hiện đại vấn đề chỗ ở khó khăn đến đỗi một căn phòng trống cũng không bao nhiêu người có đặng. Lối sống chen chúc và cách sống ở các nhà cao tầng, khu tập thể ngày nay làm cho ta càng khó có riêng một căn phòng trống. Ðiều cần thiết đó là chọn một góc yên tĩnh trong căn phòng, hoặc hơn nữa quý vị nên niệm hơi thở trên giường buổi tối hay sáng sớm, khi đâu đó đều thật yên lặng.

Khi chọn được một chỗ rồi, quý vị phải cố giữ chỗ ấy luôn luôn, đừng thay đổi, nếu không sẽ bất lợi nhiều. Thế rồi quý vị lại phải chọn một giờ nhất định và phải cương quyết giữ đúng giờ đó. Quý vị nên nhớ rằng thực hành niệm số tức quan (ànàpànasati), tức là hành thiền, phải hành cho đều đặn, và một khi quý vị ý thức tầm quan trọng của điều này thì quý vị không nên để bất cứ việc gì cản trở nó. Phải cứ chỗ mình đã chọn, mỗi ngày và mỗi ngày phải đúng giờ đã định. Ðó là những yếu tố tâm lý quan trọng đem đến kết quả và thành công. Cơ thể con người được cấu tạo như thế nào nên nó có thể đáp ứng dễ dàng với nhịp đều đặn trong sự hành thiền. Nếu quý vị tập cho quen việc hành thiền đúng nơi và đúng giờ, và nếu quý vị thành tâm hành thiền cho đều đặn thì chắc chắn mỗi khi đến giờ hành thiền, quý vị không còn muốn làm một việc nào khác cả. Nếu có một việc gì xảy đến làm trở ngại việc hành thiền của quý vị mà quý vị không sao tránh được, thì quý vị thấy thất vọng nhiều. Hơn nữa, khi đến giờ hành thiền, quý vị cảm thấy trong lòng thỏa thích vì lúc ấy tâm trạng của quý vị đã sẵn sàng chờ đón cuộc hành thiền. Quý vị sẽ ngạc nhiên mà nhận thấy tất cả những tư tưởng xấu đều dừng lại không vào được Tâm của quý vị trong giờ phút thiêng liêng này. Ngay khi quý vị đến chỗ hành thiền quen thuộc - chỗ ấy phải là thiêng liêng đối với quý vị - quý vị cũng sẽ ngạc nhiên mà cảm thấy Tâm mình đáp ứng dễ dàng với kỷ luật mà quý vị đã áp dụng. Quý vị cũng sẽ ngạc nhiên mà nhận thấy tư tưởng xấu không vào được Tâm mình. Nếu có đi nữa, những tư tưởng ấy cũng sẽ nhường chỗ dễ dàng cho những tư tưởng tốt. Vì thế nên quý vị cần dành riêng một giờ nhất định và chọn một nơi riêng biệt để hành thiền.

Tôi cũng xin nhắc quý vị rằng mỗi ngày, trong lúc rảnh rang, quý vị nên nhớ lại số tức quan mà mình đã hành buổi tối hoặc hồi sáng sớm. Mỗi ngày trong lúc rảnh rỗi, quý vị phải biết đem Tâm mình trở về với sự yên lặng, phải biết giữ cho yên tĩnh trong cảnh náo nhiệt hàng ngày. Quý vị nên nhớ đến hơi thở, dầu trong vài phút cũng được. Trong trường hợp đó tất nhiên ta không nên câu nệ nào là giờ khắc nhất định, nào là chỗ ngồi riêng biệt, nào là cách ngồi đặc biệt.

Có lẽ quý vị cũng muốn hỏi: "Trong thế giới bận rộn ngày nay làm thế nào mà tìm được thì giờ để hành thiền chút ít?" Tôi sẽ nói rằng: "Dầu thế nào đi nữa, quý vị cũng có thể có thì giờ". Ðành rằng thời đại này là một thời đại luôn luôn bận rộn tạo nên bởi sự quay cuồng khủng khiếp và sự căng thẳng triền miên của mọi vật. Chẳng hạn như quý vị định đi đến một nơi nào đó mà không đi suốt được phải sang xe. Dầu chuyến xe đầu có chạy thật mau đi nữa, quý vị cũng phải chờ đôi chút trước khi bước sang xe thứ nhì. Trong lúc chờ đợi, quý vị lấy làm nóng nảy. Tâm trạng của quý vị rất căng thẳng. Ðó là dịp mà quý vị có thể niệm một chút về số tức quan (ànàpànasati). Hoặc giả quý vị đến nhà ga mua vé xe lửa. Trong lúc đó đã có rất đông người đang đứng nối đuôi nhau chờ. Quý vị bực bội không biết đến chừng nào mới đến phiên mình mua được vé. Ðây cũng là một cơ hội nữa mà quý vị có thể thực hành ànàpànasati. Quý vị đáp xe lửa trên một đường phải đổi xe. Khi xuống xe để đổi sang chiếc khác, quý vị đi bách bộ trên thềm ga; quý vị cũng bực mình nóng nảy chờ được đổi xe. Ðây cũng là một dịp nữa để quý vị thực hành ànàpànasati. Xe hơi của quý vị đang chạy rất nhanh, vừa đến ngã tư thì đèn xanh lại cũng vừa tắt đi và đèn vàng thay thế. Quý vị bực mình nhưng phải ngừng lại. Tâm trạng quý vị rất căng thẳng vì dường như quý vị phải chờ đợi không biết mấy kiếp đèn vàng mới chịu tắt, rồi đèn đỏ mới chịu cháy, rồi bao nhiêu kiếp nữa đèn đỏ mới chịu nhường chỗ cho đèn xanh trở lại. Trong khoảng thời gian "vô tận" đó, quý vị có thể thực hành chút ít về ànàpànasati. Ðược vậy sự căng thẳng trong người của quý vị sẽ biến đi, quý vị sẽ bình tĩnh hơn và sẵn sàng đối phó với bất cứ vấn đề nào cần đến sự lưu ý của quý vị. Trong phòng đợi ở nhà ga, trong phòng khách của bác sĩ hay của nha y sĩ, trên xe lửa, trong lúc đi xe nhà hoặc đi xe đò, quý vị lại không thể thực hành được một chút về ànàpànasati sao? Ðấy, quý vị sẽ thấy rằng trong đời sống hàng ngày ở thế giới bận rộn ngày nay cũng còn có cơ hội cho quý vị trở về với sự yên lặng của Tâm và hành "Niệm" đôi chút.

Giờ đây, sau khi xem xét về nơi và giờ hành thiền, chúng ta bàn đến cách ngồi cần thiết khi ta niệm hơi thở (ànàpànasati). Trong Kinh chép rằng: "Nisìdati pallankam àbhujitvà ujum kàyam panidhàya" - hành giả ngồi, hai chân tréo lại (kiết già), giữ thân mình cho ngay thẳng. Ðó là một cách ngồi mà ta có thể không nhúc nhích trong một thời gian quá lâu. Có người cho rằng ngồi yên, không động đậy tay chân đến cả nửa giờ, dù có ngồi trên một chiếc ghế êm đi nữa, cũng rất là khó. Nhưng ta cần tập ngồi kiết già và ngồi không nhúc nhích. Ðiều đó rất cần thiết cho thời đại này vì thời đại này là một thời đại mà sức động của mọi vật đang lên tột độ. Quý vị hãy nhìn chung quanh quý vị mà xem. Quý vị sẽ thấy toàn là sự động cả; và sự động sẽ đem ta đến náo động. Tất cả những cảm giác về yên tĩnh đều mất hết, và khi sự yên tĩnh mất đi rồi thì Tâm ta mất hẳn quân bình của nó. Sự yên tĩnh là bước đầu trên con đường đi đến tâm thần thanh tịnh và tráng kiện. Rõ ràng hiện nay con người thiếu hẳn sự yên tĩnh. Một bữa nào đó quý vị thử làm một lần xem: Quý vị bỏ chỗ náo nhiệt, đi tìm một nơi nào yên tĩnh đoạn ngồi lại đó. Trong lúc Tâm đang bị chao, ngồi yên như vậy quý vị sẽ cảm thấy nó được vô cùng thơ thới. Như thế không những làm cho thân quý vị được an mà Tâm quý vị cũng nhờ đó mà lắng xuống, yên tĩnh, vững vàng. Tịnh được như vậy không khác nào Tâm ta được một liều thuốc bổ và chỉ trong một phút yên tĩnh ngắn ngủi như vậy, quý vị cũng đủ cảm thấy phần nào như quý vị thức tỉnh trong tâm trạng an lành và vững chắc.

Ðời sống hiện tại làm cho ta hàng phút phải động luôn luôn, muôn nghìn hoạt động tấp nập xoay chuyển chúng ta, chúng ta sống trong hoàn cảnh lo âu bấn loạn, căng thẳng: Ðó là bao nhiêu lý do làm cho ta phí sức rất nhiều. Vậy thì, trong một dịp nào đó, quý vị thử ngồi yên, chỉ một chút thôi, quý vị sẽ thấy tâm lực của quý vị được bảo tồn nguyên vẹn. Cách ngồi kiết già như hoa sen (padmàsana) thích hợp nhất, vì như thế quý vị mới ngồi được lâu mà không nhúc nhích. Chính nhờ hai chân tréo lại và hai bàn tay chồng lên nhau mà khí lực của Tâm, còn nguyên vẹn nhờ sự tham thiền, không bị hao giảm. Ngồi kiết già thì thân mình vững vàng, vì sức nặng của xác thân được thản ra đồng đều. Ngồi như thế, quý vị sẽ thấy dễ ngồi lâu không động đậy hơn là ngồi một cách nào khác. Nhờ cách ngồi thẳng lưng, quý vị hoàn toàn kiểm soát được hơi thở của mình. Quý vị có thể thong thả hơn. Vả lại, có một sự liên quan mật thiết giữa dây tủy xương sống và những cảm kích của ta. Khi quý vị ngồi như thế, quý vị dễ kềm hãm những cảm kích hơn. Nếu người nào cho cách ngồi kiết già là khó, thì có thể ngồi trên ghế có dựa ngay thẳng, đặng giữ thân mình cho được ngay thẳng. Hai chân phải chấm đất.

Giờ đây chúng tôi xin trình bày phương pháp thực hành "Niệm hơi thở" (ànàpànasati). Sau khi chọn một chỗ thích hợp, một giờ thích hợp và đã ngồi được kiết già, quý vị bắt đầu chú tâm về hơi thở. Thở cho nhẹ nhàng, êm dịu và khi thở phải hoàn toàn nhận thức hơi thở và không nên rán sức. Ðừng thở mạnh. Thở tự nhiên và êm dịu, luôn luôn chú tâm theo hơi thở của mình. "Dìgham và Passasanto dìgham assasàmi ti pajànàti; dìgham và passansanto dìgham passamì ti pajànàti" - Khi thở vô dài, hành giả biết mình thở vô dài. Khi thở ra dài, hành giả biết mình thở ra dài. Cũng thế, khi mình thở vô vắn, biết mình thở vô vắn, và khi thở ra vắn, biết mình thở ra vắn. Hành giả chớ nên đồng nhứt mình với hơi thở. Phải nhìn hơi thở một cách khách quan, chứ đừng chủ quan. Không nên nghĩ rằng chính mình đang thở đây. Phải lắng xem chỉ hơi thở mà thôi, chứ không nên biết gì khác. Phải giữ cho kỳ được sự nhận thức rõ rệt về hơi thở. Ðiều cần thiết là Tâm phải an trụ và biết được rõ ràng khi nào thở vô, khi nào thở ra.

Quý vị nên nhớ rằng đây không phải là sự luyện tập cách thở. Ðây là sự luyện tập "niệm hơi thở". Không cần phải nín thở như trong quyển Yoga Sutra của Patangali hoặc trong các sách Ấn Ðộ Giáo dạy. Bền chí trong cách quan sát về hơi thở sẽ đem lại kết quả sau đây: Quý vị sẽ theo dõi được cho đến cùng hơi thở vô và hơi thở ra, và do đó quý vị sẽ cảm thấy càng ngày càng được bình tĩnh và yên trụ hơn. Sự thông khí trong phổi sẽ được dễ dàng hơn và sức khỏe sẽ được dồi dào hơn, nhưng đó là phụ thuộc. Thực hành Niệm về hơi thở (ànàpànasati) không gián đoạn đưa ta đến những tầng cao của Thiền Chỉ (Samatha Bhàvanà): ấy là nhập định, thường được gọi là đắc thiền (Jhàna). Nhưng thay vì theo đuổi các tầng Thiền (Jhàna), hành giả có thể chọn con đường của Thiền Minh Sát (Vipassanà Bhàvanà) và đắc Minh Sát Tuệ (Vipassanà).

Con người sống trong thế kỷ hiện nay khó mà hiểu được tại sao việc quan sát hơi thở lại đem đến cho ta những kết quả cao quý như vậy. Trong quyển "Chủ Yếu Của Pháp Tham Thiền Trong Phật Giáo", Ðại Ðức Nyanaponika Thero cho rằng "cái thở của ta đứng giữa những tác dụng tự nhiên của cơ thể và những tác dụng do ý chí điều khiển. Vì thế nên hơi thở cho ta cơ hội thuận tiện để mở rộng quyền kiểm soát của ta trong cơ thể"; vậy chúng ta có thể đoán được biết bao nhiêu khả năng có thể khai thác một khi chúng ta thực hành Niệm về hơi thở đúng phương pháp. Ngài nói tiếp rằng bởi việc quan sát không gián đoạn về sự phồng lên và xọp xuống của cơ thể do hơi thở tạo ra, "ta có thể chứng ngộ được sự dâng lên và hạ xuống của Biển Vô Thường". Hành giả sẽ nhận thức rõ rệt sự phát sinh và tiêu diệt của chúng sanh và vạn vật. Ðây không phải là một sự hiểu biết về lý trí, mà là một kinh nghiệm về tâm thức, vừa uyên thâm vừa cao siêu, mà ta nhận thức được một khi ta chứng ngộ sự phát sinh và tiêu diệt của hơi thở.

Thế rồi, về phương diện thân nghiệp, hành giả không còn hành động một cách dại dột nữa. Hành giả không còn nô lệ với cái xác thân nữa. Vượt lên khỏi tầng vật chất, hành giả sẽ thấy trong thân thể con người không có gì có thể làm nền tảng đúng lý cho quan niệm "Tôi" hoặc "Của Tôi". Và cũng không thể nói "Tôi Thở". Như vậy, hành giả sẽ thấy rằng trong thân này không có một thực thể trường tồn nào đáng cho ta bám níu hoặc có lợi cho ta bám níu, "Anissitc ca viharati na ca kinci loke upàdiyati" "Hành giả không tùy thuộc cái gì cả, cũng không bám níu cái gì cả trên thế gian này". Khi chứng được sự vô thường của xác thân, hành giả cũng chứng được tính vô thường của vạn vật. Chừng ấy hành giả mới thấy sự vật đúng theo chân tướng của nó. Lúc bấy giờ hành giả đã đạt đến tầng cao hơn. Niết Bàn nằm trên con đường ấy.

Cũng có những cách niệm thân khác. Ðó là niệm về nhiều phần khác nhau trong cơ thể con người. Trong Kinh có kể đến 32 phần, thường được nghe những người giữ tám giới đọc khi họ xin giới: "Atthi imasmim kàye kesà lomà nakhà dantà taco mansam nahàru atthi v.v..." "Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương v.v...". Kinh chép tiếp rằng: "Hỡi các Tỳ Khưu, giá như trong một cái giỏ có hai miệng, trong đó có đủ các loại hạt, như lúa đất gò, lúa mạch, đậu xanh, đâu chim, mè, gạo; và có một người với đôi mắt thật sáng, đến dở nắp ra, rồi phân biệt như thế này: Ðây là lúa đất gò, đây là lúa mạch, đây là đậu xanh v.v...; cũng như thế, một người Tỳ Khưu phải suy nghĩ về bản thân mình, có da bọc ngoài, trong đầy nhơ bẩn; nghĩ từ gót chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống như vầy: "Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt v.v...". Một cách niệm thân khác nữa là lấy mỗi phần trong thân thể ra mà xem xét, nhớ đến vị trí, màu sắc, hình dáng của nó và để ý rằng phần nào cũng thấy nhờm gớm và đáng ghét. Sự giải phẫu tỉ mỉ như vậy về xác thân sẽ giúp ta dứt bỏ cái ảo tưởng về "thân hình đẹp đẽ" và làm cho ta rõ tính nhơ bẩn của nó. Trong lời chú giải có thêm rằng: "Dù tìm kiếm thế nào đi nữa trong cả thân hình chỉ cao quá một thước này, bắt từ gót chân trở lên, từ đầu trở xuống và từ ngoài da trở vô, không ai thấy đặng một mảy may tinh khiết nào cả, dù nhỏ bằng nguyên tử; trái lại, người ta sẽ thấy toàn là đủ loại ô trược, rất hôi thối, rất có hại, trông rất chán, như là tóc, lông v.v...".

Niệm thân cách này rất cần thiết cho thế giới hiện đại vì ngày nay người ta đã quá chú trọng đến xác thân. Con người rất quyến luyến thân thể mình, xem nó như một sở hữu vô cùng quý giá. Vì thế, phải có một phương pháp giải phẫu cứng rắn như trên đây mới mong gợi lên trong con người lòng ghê tởm xác thân, ngõ hầu đi đến sự vô tư đối với nó và cuối cùng chứng ngộ sinh diệt của vạn vật. Chừng ấy ta mới thấy sự vật đúng theo chân tướng của nó. Hành giả lúc bấy giờ đạt đến một tầng cao hơn.

Có hai cách niệm thân nữa, là niệm Tứ Ðại và niệm xác thân tan rã. Niệm Tứ Ðại cũng là một giải phẫu xác thân, nhưng khác hơn lối giải phẫu vừa nói trên. Ở đây xác thân được chia làm Tứ Ðại, nghĩa là Ðất, Nước, Gió, Lửa. Những yếu tố này có thể trong thể xác con người cũng như trong bất cứ một vật chất vô tri nào. Ðôi khi những đặc tính căn bản ấy của vật chất cũng được gọi là tính Cứng Ðặc, tính Kết Hợp, tính Nóng Nhiệt và tính Di Ðộng. Cách giải phẫu này có kết quả là khiến ta nhận thức rằng xác thân này không khác gì một vật chất vô tri nào, nó cũng vô ngã và vô thường vậy. Ðiều này thời đại của chúng ta thường hay quên, vì ta quá chú trọng đến thân thể. Cuối cùng lối giải phẫu như thế dẫn ta đến sự chứng ngộ sự sinh diệt của vạn vật. Khi thấy được chân tướng của sự vật, hành giả đã đạt đến một tầng cao hơn.

* * *

Chúng tôi đã cố gắng trình bày tường tận mặc dù cũng chưa đầy đủ chi tiết việc khảo sát của chúng tôi về loại Niệm đầu tiên là Niệm Thân (Kàyànupassannà). Giờ đây chúng tôi xin bàn qua loại Niệm thứ nhì, là Niệm Thọ (Vedanànupassanà). Ðây cũng thế, hành giả phải nhìn đối tượng một cách khách quan. Hành giả không nên đồng nhất mình với loại Thọ mình cảm nhận. Thọ thì có Lạc Thọ, Khổ Thọ và Xả Thọ, và đối với mỗi loại Thọ ấy ta chỉ nên cảm thấy nó mà thôi.

Một người đau đớn về thể xác thường hay đồng nhất mình với cảm giác đau đớn ấy, đồng nhất chặt chẽ đến đỗi mình không thể xem nó một cách vô tư. Ta coi sự đau đớn là quan trọng nhất. Ta bị nó đè nén nặng nề. Ðối với một Lạc Thọ cũng thế. Niệm Thọ giúp ta tách ra khỏi thân ta và xem những cảm giác với đôi mắt vô tư của người bàng quan. Trong lời chú giải về pháp Tứ Niệm Xứ, có kể ra câu chuyện của một vị trưởng lão trong hàng Tỳ Khưu: Thân ông đau đớn dữ dội, nhưng ông cố tâm Niệm Thọ và trở thành khách quan đến đỗi khi người ta hỏi ông đau ở đâu, ông không thể chỉ đặng chỗ đau. Ðối với hành giả nào tự luyện tập như thế, nghĩa là xem cảm giác một cách bình tĩnh, vô tư, không đồng nhất mình với nó thì sớm hay muộn, nó cũng phải mất tính cách tối quan trọng và tối cưỡng bách mà trước kia hằng trụ trong nó. Hành giả cũng sẽ xem Thọ như một phần trong những hiện tượng luôn luôn biến chuyển của sự sống. Hành giả biết rằng những thọ ấy là vô thường. Nó cũng phát sinh và cũng hoại diệt.Cũng như đối với xác thân, đối với Thọ hành giả cũng chẳng thấy gì có thể làm nền tảng đúng lý cho quan niệm "Tôi" hoặc "Của Tôi". Không thể nói "Tôi Cảm Thấy" mà phải nói "Có Một Cảm Giác".

Trong các loại Thọ nhứt thời ấy không có một loại nào mà trong đó ta có thể tìm thấy một thực thể trường tồn, có lợi cho ta bám níu hoặc đáng cho ta bám níu. Khi thấu hiểu được tính chất của Thọ, sự sinh diệt của nó, hành giả không còn bị nó kích động nữa. Nhờ quan sát sự sinh diệt của Thọ, hành giả thấy được sự sinh diệt của vạn vật. Hành giả thấy sự vật đúng theo chân tướng của nó. Khi hành giả đạt đến một tầng cao hơn.

* * *

Loại niệm thứ ba là Niệm Tâm (Cittànupassanà). Cũng như hành giả phải khách quan mà xem những tác dụng của Thọ trong thân thể mình, thì đây hành giả cũng phải khách quan mà xem những tác dụng của tư tưởng trong Tâm mình. Ta rất có lợi mà nhìn Tâm một cách khách quan. Có phải là hàng ngày ta luôn luôn tiếp xúc với trăm ngàn "khách khứa" (tư tưởng xảy đến cho ta) không? Ðúng vậy. Mỗi ngày trăm ngàn tư tưởng nhập vào Tâm ta. Ðiều này thành một thường lệ, vì ta xem những tư tưởng đến viếng Tâm ta là một sự kiện dĩ nhiên. Mỗi tư tưởng phát sinh ra đều ảnh hưởng ta hoặc một cách tốt đẹp hoặc một cách xấu xa.

Tuy nhiên, tư tưởng sau có thể sửa đổi ảnh hưởng của tư tưởng trước. Một tư tưởng Sân chẳng hạn, có tác dụng tai hại đối với Tâm ta và chí đến Thân ta nữa; nhưng nếu tư tưởng liền kế đó lại là một tư tưởng có tính chất trái ngược hoặc một tư tưởng ăn năn chẳng hạn, biết mình đã làm quấy, thì tác dụng tai hại của tư tưởng Sân có thể được sửa đổi. Nếu ta tập thành thói quen, nhìn một cách khách quan bất cứ một tư tưởng xấu nào nảy sanh ra, thì ta có thể chận đứng được dễ dàng sự tiến triển của tư tưởng xấu ấy.

Thực hành Niệm tâm có nghĩa là đào luyện thành thói quen lối nhìn một tư tưởng thật khách quan, chứ không chủ quan, và nhận thức rõ rệt sự hiện diện của nó. Không một tư tưởng nào được vào Tâm ta mà ta không hay biết rõ ràng. Chừng ấy ta mới khỏi bị tư tưởng sai khiến. Khi một tư tưởng Sân nổi lên, ta phải hoàn toàn hay biết và tự nhủ: "Hãy coi chừng, một tư tưởng sân đã vào Tâm ta rồi". Tự quan sát như thế đem lại kết quả tinh vi: Tư tưởng Sân mất tánh cách cưỡng bách của nó. Nó đã kiệt sức và không thể phát biểu ra ngoài bằng một hành động Sân. Phương pháp nhìn một cách khách quan bất cứ tư tưởng nào làm cho hành giả tránh khỏi ảnh hưởng tai hại của nó. Mỗi khi một tư tưởng xấu vào Tâm hành giả thì "con chó" sati (niệm) đang canh phòng liền sủa "người khách" xấu xa ấy và báo cho hành giả biết để cảnh giác; chừng ấy hành giả có thể khiến một tư tưởng có tánh chất trái ngược đến làm cho tư tưởng xấu kia vô năng, vô hiệu.

Trong lời chú giải về Pháp Tứ Niệm Xứ có kể câu chuyện của Phussa Deva Mahà Thera. Vị Ðại Ðức này thường hay dừng chân lại trong lúc đang đi, nếu có một tư tưởng xấu nào vào Tâm Ngài. Ngài nhất định đứng đó đến khi nào xua đuổi được tư tưởng xấu kia ra khỏi Tâm rồi Ngài mới chịu tiếp tục đi. Trong lúc Ngài đứng lại như vậy, ai cũng lấy làm lạ, không biết Ngài đã đi lạc đường hay là đã bỏ quên vật gì. Ðến khi Ngài đắc quả A La Hán, mà chỉ mới có hai mươi tuổi, ít người biết được nhờ đâu Ngài đạt đến quả ấy. Vậy khi một tư tưởng xấu vào Tâm quý vị, quý vị phải vô tư và thành thật mà nhìn nó. Chỉ chú tâm đến tư tưởng đó mà thôi, đừng nhớ đến những việc đã xảy ra, làm nguồn gốc phát sinh ra tư tưởng đó, cũng đừng nhớ đến loại hành động nào mà tư tưởng đó gợi ra trong trí quý vị. Quý vị chớ nên nghĩ tới những vấn đề tùy thuộc như thế. Cứ nhìn thẳng vào tư tưởng ấy và chỉ nghĩ tới nó mà thôi. Chừng đó quý vị sẽ ngạc nhiên mà thấy tư tưởng xấu kia dần dần mất đi tính cách xúi giục của nó. Hãy kiên tâm mà nhìn nó. Cũng như nhà hiền triết Pythagore đã định nghĩa, quý vị chỉ nhìn nó mà thôi. Chỉ bao nhiêu đó thôi, và chắc chắn tư tưởng xấu kia sẽ không xúi giục quý vị hành động nữa. Nó cũng có thể biến mất.

Nhìn vào Tâm mình không phải luôn luôn là một chuyện dễ. Con người thường hay tránh việc nhìn thẳng thắn vào Tâm mình bởi vì, nếu nhìn rõ Tâm mà hay biết được tư tưởng xấu xa thầm kín, điều ấy sẽ phá vỡ cái thành kiến tốt đẹp mà mình sẵn có đối với chính mình. Thực hành niệm tâm không gián đoạn sẽ giúp hành giả thấu hiểu rằng những tư tưởng của mình không phải là mình. Hành giả sẽ không đồng nhất mình với tư tưởng. Hành giả sẽ chứng được rằng, cũng như thân này, Tâm đây cũng chẳng phải là một thực thể, mà là một phối hợp tạm thời của những sự vật nhứt thời. Sự phối hợp tạm thời ấy cho ta cái ảo tưởng rằng có một thực thể trường tồn. Những thành phần phối hợp là vô thường và phải chịu biến chuyển như thế nào, thì vật được thành phần ấy phối hợp cũng vô thường và cũng phải chịu sự biến chuyển như thế ấy. Cũng như xác thân chỉ là sự phối hợp của tóc, thịt, móng, răng, toàn là những vật phải bị hoại diệt, thì Tâm cũng chỉ là sự phối hợp, hoặc nói cho đúng hơn, là sự kế tiếp của những tư tưởng mà tất cả đều hiện ra chỉ để rồi biến mất.

Tâm ví như dòng nước chảy ,"Nadi soto viya". Dòng tư tưởng tạo ra cái ảo tưởng rằng có thực thể Tâm. Ví như những giọt nước kế tiếp nhau rớt xuống thật nhanh cho ta cảm tưởng rằng có một đường nước chảy. Những tư tưởng cũng thế, nó nối nhau nhanh chóng cho đến đỗi ta lầm tưởng rằng có một thực thể gọi là Tâm. Chỉ nhờ thực hành "cittànupassanà" (niệm tâm), ta mới thấy được rằng bản chất của tư tưởng là vô ngã và tư tưởng đều là những hiện tượng rõ ràng là nhứt thời. Nó đến rồi đi, nó hiện ra rồi biến mất. Như thế hành giả đã chứng ngộ sự sinh diệt của tư tưởng. Vậy, đối với tư tưởng, hành giả cũng không thấy có gì làm nền tảng đúng lý cho quan niệm "Tôi" hoặc "Của Tôi". Không thể nói "Tôi Tư Tưởng", nhưng phải nói "Có Sự Tư Tưởng". Trong những sự tiến triển nhứt thời ấy, không có một thực thể trường tồn nào có lợi cho ta bám níu hoặc đáng cho ta bám níu. Hành giả không tùy thuộc nơi nào cả, không bám níu gì cả trên thế gian này. Hành giả thấy được sự sinh diệt của vạn vật. Hành giả đã đạt đến một tầng cao hơn, và Niết Bàn nằm trên con đường ấy.

* * *

Giờ đây chúng ta nói đến loại Niệm cuối cùng, khác hẳn với các loại Niệm đã kể trên, là Niệm Pháp (Dhammànupassanà). Danh từ Pàli "dhamma" (pháp) đây có một nghĩa rất đặc biệt. Nó có nghĩa là "thành phần của tư tưởng" hoặc "đối tượng của Tâm", và nó đặc biệt ám chỉ Năm Chướng Ngại: Tham dục, thù hận, hôn trầm thùy miên, phóng dật hối tiếc và hoài nghi); Ngũ Uẩn (Panca Upàdànakkhandha); Lục căn (Salàyatana); Thất Giác Chi (Satta Bojjhanga) và Tứ Diệu Ðế (Cattàri Ariya Saccàni). Ðó là những "dhamma" (pháp) được đề cập trong Tứ Niệm Xứ Kinh.

Nhờ sự kinh nghiệm hàng ngày, hành giả biết quan sát những "dhamma" ấy (đối tượng đặc biệt của Tâm). Hành giả phải chú ý đến những pháp đó nếu nó đã phát sinh trong tâm mình, và nếu nó không có phát sinh trong Tâm mình, hành giả cũng phải hay biết rằng nó không có phát sinh trong Tâm mình. Ðiều quan trọng không phải là sự hiểu biết những "dhamma" đó bằng lý thuyết. Ta phải "chứng" nó và thấu rõ nó khi nó phát sinh.

Như về Năm Chướng Ngại chẳng hạn, ta không nên chỉ biết bằng lý thuyết rằng nó là những điều cản trở cho sự tiến bộ của ta trên con đường tu luyện, mà việc chánh yếu là ta phải coi chừng cẩn thận, hễ nó phát sinh trong Tâm ta là ta phải hay biết liền. Cùng thế ấy, mỗi khi một chân lý phát hiện trong Tâm hành giả, như Khổ Ðế chẳng hạn, hành giả phải hay biết nó ngay. Lối hành thiền này vừa là một liều thuốc giải độc cho những tư tưởng xấu, vừa là một sự chuẩn bị đón tiếp những Chân Lý trong Phật Pháp. Như vậy tất cả những kinh nghiệm hàng ngày của hành giả được đem ra đối chiếu và chứng y với những giáo điều trong Phật Pháp ở một điểm nào đó. Quán tưởng như thế về đối tượng của Tâm khi nó phát sinh, hành giả một lần nữa thấy rằng không có một thực thể trường tồn nào có lợi cho ta bám níu hoặc đáng cho ta bám níu. Hành giả không tùy thuộc gì cả, không bám níu gì cả. Lần nữa hành giả đạt đến một tầng cao hơn, và Niết Bàn nằm trên con đường ấy.

* * *

Chúng tôi đã nói đầy đủ về phần lý thuyết cũng như về phần thực hành Tứ Niệm Xứ. Giờ đây chúng ta hãy bàn qua việc áp dụng của Pháp này vào đời sống hiện đại. Trước hết ta hãy xem coi ở thế giới hiện nay những điều kiện về đời sống của con người đã tiến triển đến đâu. Hồi thế kỷ thứ XVII và thế kỷ thứ XVIII, chúng ta thấy xã hội đã mãn nguyện nhờ ở một đức tin ngây thơ về tiện nghi vật chất và ở những niềm hy vọng mà Tôn Giáo đã đem lại. Ðến thế kỷ sau, Tôn Giáo lại bị Khoa học lật đổ. Khoa học từ đó ngự trị tuyệt đối và xã hội lúc bấy giờ chuyên lo chế tạo đủ loại khí cụ hữu ích và đủ thứ máy móc vạn năng để cung phụng cho con người. Rồi về sau chúng ta thấy xuất hiện lòng Tham thống trị, hoàn cầu toan cướp đoạt lần hồi địa vị của Khoa học. Sự kiện này đưa đến việc liên kết giữa lòng Tham và Khoa học. Rồi từ đây Khoa học bị lợi dụng một cách đê hèn, để rồi chế tạo ra nào là khí cụ tối tân, nào là máy móc tinh xảo, không để phụng sự cho lợi ích nhân loại, mà là để cho con người giết hại lẫn nhau. Thế chiến thứ nhứt kế đến thế chiến thứ nhì đem lại những biến đổi ghê tởm trên thế gian, biến đổi trong cơ cấu xã hội, biến đổi trong kinh tế, biến đổi trong chánh trị.

Con người bắt đầu hết tin tưởng nơi những tư tưởng xưa kia. Con người bắt đầu mạt sát Tôn giáo, mạt sát những tưởng thưởng về tương lai, vì con người hết quan tâm đến điều thiện và chỉ khao khát được hưởng cho đầy đủ trong hiện tại mà thôi. Tập hợp lại thành một quốc gia, con người khao khát hưởng được quyền thế, mong mỏi thống trị cả hoàn cầu. Vì thế nên những giá trị tinh thần bị suy giảm và hai thế chiến vừa qua đã chứng rõ điều ấy. Cái gọi là Văn Minh ngày nay chỉ là một lớp sơn mỏng về lễ phép xã giao bề ngoài. Hai thế chiến đã làm nứt rạn lớp sơn ấy và phô bày ra ánh sáng cái thú tánh trong con người hiện đại. Sự tàn sát hàng triệu người, những khổ cảnh dã man trong các trại tập trung, những tai họa khủng khiếp không diễn tả nổi ở Hiroshima và Nagasaki chứng tỏ một điều đáng lo là thế giới hiện nay đang đi lần vào sự sụp đổ nguy hiểm. Nếu ta không lên tiếng để chận đứng lại thì ta sẽ bị tiêu diệt bởi chính những độc ác của ta. Hình như nhà Khoa học ở thời đại này tưởng rằng mình đã giúp ích cho nhân loại. Nhưng, xin hỏi quý vị, căn cứ vào đâu mà cho rằng họ đã phụng sự nhân loại?

Thời đại khoa học hiện nay thật có làm giảm bớt những đau khổ. Ðúng vậy, người ta đã chữa được nhiều chứng bệnh, đã phát minh ra nhiều thứ thuốc mới và giúp con người sống lâu hơn. Thời đại khoa học ngày nay đã xây cất nào là đô thị lớn, nào là cầu lớn, nào là xưởng lớn. Người ta đã chế ra xe cộ, tàu bè, phi cơ có khả năng tuyệt diệu để du hành trên mặt đất, dưới biển và trên không trung. Khoa học xóa bỏ không gian, tiết kiệm nhân lực và chế ngự thời gian. Nhưng, xin hỏi quý vị, Khoa học hiện đại có phát minh được thứ khí cụ nào hầu giúp con người trở nên cao thượng chăng? Khoa học hiện đại có phát minh ra một thứ khí cụ nào để giúp con người diệt Tham, Sân, Si chưa? Khoa học đã thám dò vũ trụ bên ngoài và đã cướp lấy những bí ẩn của thiên nhiên, nhưng việc làm đó không dẫn đến giải thoát con người. Có một thế giới khác, một thế giới có ích lợi cho ta thám hiểm hơn, đó là Tâm giới. Quý vị hãy tham cứu thế giới này bằng sự tham thiền đi, rồi quý vị sẽ đạt được trực giác và do đó quý vị sẽ giải quyết được vấn đề nhân sinh. Chừng ấy quý vị sẽ đạt được Pannà, hay Huệ, và nhờ đó quý vị sẽ thấy đặng chân tướng của vạn vật. Mỗi bước nhỏ mà quý vị tiến về hướng ấy đều là những bước đến gần sự giải thoát, những bước đến Niết Bàn vậy. Trào lưu rộng lớn, trào lưu nguy hiểm hiện tại lôi ta xa cách chân tiến bộ.

Vì vậy nên một trào lưu trái ngược lại, cũng không kém phần rộng lớn, rất cần thiết cho nhân loại. Thế nên thực hành Satipatthàna (Tứ Niệm Xứ) mới là quan trọng và thích hợp. Satipatthàna giúp con người hiện đại cố sức chèo ngược trào lưu này để hướng về nơi giải thoát bằng cách cho mình đủ trí tuệ để nhận thức đâu là những khuynh hướng xấu xa để tránh. Mỗi khi khuynh hướng của thời đại này lôi kéo quý vị tách xa con đường chánh đáng mà quý vị gần như không hay biết, thì quý vị nên tin cậy nơi "con chó" Sati trung thành của quý vị, để nó kéo quý vị trở lại. Sức mạnh của Satipatthàna là như thế.

Thời đại hiện tại là thời đại của sự hấp tấp và của tốc lực. Con người thực ra không có thì giờ để suy nghĩ cho chính xác. Nếu có chăng nữa, thị cũng để mà suy nghĩ làm thế nào để sống cái đời sống quây quần, lảo đảo này, từ ngày này qua ngày nọ. Nếu ta không tập suy nghĩ cho chính xác, sâu xa, thì ta dễ bị mất năng lực của Tâm. Như bàn tay của quý vị chẳng hạn, nếu trong thời gian sáu tháng mà quý vị không dùng đến nó, thì nó phải bị gầy yếu đi. Cũng thế, nếu quý vị không tập suy nghĩ cho sâu xa thì khả năng ấy của Tâm sẽ bị suy nhược và điều nguy hiểm cho quý vị là quý vị sẽ mù quáng tin theo những gì của bất cứ một ai nêu ra: Do đó họ có thể chế ngự được quý vị. Hiện nay sự kiện ấy đang diễn ra trước mắt ta. Trong giới doanh nghiệp, trong giới nông nghiệp, trong giới giáo dục, trong giới chánh trị, trong sinh hoạt hàng ngày, có một thiểu số người đang thao túng một số đông khác. Ða số này chỉ biết noi theo tư tưởng của thiểu số kia.

Hiện nay, quý vị hãy thử xem coi có bao nhiêu tư tưởng đã tạo ra cho quý vị. Phải chăng đôi khi quý vị không còn tự do lựa chọn những vật cần dùng của mình và quý vị quyết định một cách vô ý thức? Ngày nay, lối quảng cáo hàng hóa ở khắp nơi làm cho quý vị. Nhiều khi quần áo của quý vị cũng bị người ta chọn lựa thế cho quý vị mà quý vị không dè. Sách quý vị đọc cũng thế và những dược phẩm có bằng phát minh mà quý vị thường uống cũng thế. Ðó là kết quả xảo diệu của quảng cáo, vì những người làm quảng cáo rất thông tâm lý. Báo chí cũng có trách nhiệm phần nào trong việc xây dựng những tư tưởng mẫu mực để cảm kích con người. Phần đông con người lại lấy làm thỏa mãn mà nhận lãnh những ý kiến ấy mà không cần phán đoán. Hiện nay có rất ít người biết tự mình tư tưởng, không để ai ảnh hưởng. Sự kiện này có nghĩa là phần đông con người chưa định Tâm, nên Tâm còn yếu ớt. Kết quả tai hại là hiện nay con người bị thiệt thòi trên đường tiến triển của Tâm, vì ta không thể nào tiến về mặt tinh thần nếu ta không định Tâm và không tham thiền. Nếu không tham thiền, dù quý vị có sống một cuộc đời lương thiện đến mức nào đi nữa, cũng không có gì bảo đảm rằng quý vị luôn luôn chánh trực được. Quý vị có thể bị sa ngã bất cứ lúc nào. Phương pháp dễ nhất để luyện Tâm thành một sức mạnh là thực hành số tức quan (ànàpànasati) mỗi ngày một chút ít. Không có cách tham thiền nào dễ cho con người hiện đại thực hiện hơn số tức quan. Chỉ có số tức quan mới bảo đảm ta tránh khỏi ảnh hưởng bên ngoài.

Một đặc điểm khác của đời sống hiện đại là việc quá chú trọng về vấn đề nam, nữ. Hầu hết mọi việc đều được sắp đặt và lái như thế nào để nhục dục con người phải bị kích thích. Hãy nhìn xem xung quanh quý vị coi điều đó có đúng không? Quý vị hãy nhìn xem biết bao nhiêu là tiểu thuyết nhảm nhí, biết bao nhiêu là sách, báo khiêu dâm được xuất bản và trưng bày trong bất cứ nhà sách nào ở lề đường, vì được dán nhãn hiệu là tác phẩm văn chương; rồi quý vị sẽ ngậm ngùi mà nhận thấy rằng con người đã trụy lạc và xuống hố quá sâu. Quý vị hãy xem những phim được chiếu và những vũ điệu đời nay. Xin hỏi quý vị, vậy chớ những rạp chiếu bóng và những nơi khiêu vũ, những cuộc thi sắc đẹp và những hộp đêm có ích lợi gì cho con người hiện đại, nếu không phải với mục đích là để kích thích nhục dục con người? Nếu thỉnh thoảng không ai nhắc lại cho con người hiện đại rõ cái chân tướng của xác thân thì tâm họ sẽ bị che án bởi sự quá chú trọng về vấn đề nam, nữ và thể xác. Họ sẽ mất hẳn tất cả quan niệm về sự tương xứng quân bình và họ sẽ lấy giả làm chân. Kết quả sẽ là hỗn độn, bất hòa và trụy lạc.

Một đặc điểm khác nữa của thế hệ ngày nay là lòng khao khát cái gì mới lạ. Lòng khao khát này đã thành một tật bệnh. Bởi không thực hành Sati (Niệm), con người không thể thấy được chân tướng của vạn vật và không thể phân biệt đâu là chánh yếu, đâu là phụ thuộc. Vì thế nên con người luôn luôn sống với một tâm trạng do dự, lúc nào cũng bất mãn. Một đời sống bình thản có vẻ quá ư buồn chán đối với họ. Họ khao khát những gì kích thích họ. Họ sống bằng cảm kích. Họ luôn luôn mong mỏi và cái gì mới, cái gì lạ. Họ không thể tự mãn với những lề lối, những hoàn cảnh, những tình thế hiện hữu. Họ sẽ luôn luôn trông mong vào một lề lối mới, máy móc mới, được phẩm mới, một đời sống mới, một lý tưởng mới. Họ mau chán những gì đã có. Họ thất vọng nếu đời họ không có nhiều cảm kích. Họ thất vọng nếu mỗi sáng họ không thấy những "tít" thật lớn trong báo chí. Thái độ đó là triệu chứng của bệnh tinh thần bất an.

Người làm quảng cáo và nhà doanh nghiệp sẵn sàng lợi dụng nhược điểm này của con người hiện đại. Khi một kiểu vật phẩm nào đó hết thông dụng thì một kiểu khác liền được đem ra thị trường thay thế. Quý vị hãy xem cách thay đổi mau chóng của thời trang trong y phục. Hãy xem coi các kiểu bàn ghế và các vật dụng khác thay đổi dường nào. Những thay đổi liền liền như vậy nhắm mục đích chiều cái tính nguy hiểm trong con người hiện đại là tính luôn luôn đòi hỏi cái mới, cái lạ. Phương thuốc duy nhứt trị tật bệnh đó là học "Nghệ Thuật" nhìn sự vật một cách khách quan thì quảng cáo không còn dễ gì ảnh hưởng được họ. Sự quan sát khách quan cũng sẽ giúp họ khám phá ra biết bao nhiêu rượu cũ trong những chai mới. Họ không còn ảo tưởng cho rằng vật gì mới lạ là quý. Vì hoàn toàn hiểu biết cái gì là chánh trong đời họ và phân biệt rõ ràng đâu là chánh yếu, đâu là phụ thuộc nhờ Sati (Niệm) nên họ hết còn là nạn nhân của tính ham mê cảm kích quá đáng.

* * *
 Có lẽ quý vị cho rằng Tứ Niệm Xứ là một phương pháp quá phiền toái và mệt nhọc, không thể nào thực hành cho có kết quả trong một kiếp người. Ðức Phật có nói như thế chăng? Có khi nào Ðức Phật nói Niết Bàn không thể đạt được ngay ở kiếp này chăng? Trong một bài Pháp hùng hồn về Tứ Niệm Xứ, Ðức Phật quả quyết rằng nếu ai thực hành Tứ Niệm Xứ trong bảy năm thì người ấy thâu thập được một trong hai kết quả sau đây: là chứng ngộ đạo quả A La Hán ngay ở kiếp này, hoặc ít ra cũng chứng được đạo quả A Na Hàm (Bất Lai). Trong câu kế đó Ðức Phật nói tiếp: "Hỡi này các Tỳ Khưu, đừng nói chi đến bảy năm, sáu năm cũng đủ vậy". Trong câu kế nữa Ngài nói rằng năm năm cũng đủ. Rồi kế đó Ngài sụt xuống còn bốn năm, ba năm, hai năm và một năm, Sau nữa chỉ còn bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, nửa tháng và cuối cùng bảy ngày.

Câu chuyện này cho ta thấy rằng việc chứng ngộ Niết Bàn không phải là một vấn đề thời gian, nhưng lại là vấn đề tinh tấn của hành giả hơn. Vậy, quý vị hãy để ý xem, bảy ngày mà chứng được Niết Bàn có phải là thành tựu mau lẹ không? Hiện nay con người vốn không nhẫn nại, luôn luôn mong mỏi những kết quả mau lẹ. Ðây là một bảo đảm về kết quả mau chóng có gì hơn. Tại sao con người hiện đại không nhận lấy tặng vật này đi? Có lẽ vì cho rằng kết quả hứa hẹn quá tốt đẹp nên khó mà có thật được. Nhưng ở đây, ý kiến này nọ là không thành vấn đề; thực hành mới là vấn đề. Muốn biết một món bánh có ngon hay không, ta phải ăn nó, chứ không phải đi phân tách nó và học hỏi những chất hóa học trong bánh đó. Vậy thì cuối cùng tôi xin nhắc với quý vị điều này: Xin hãy ngưng tranh luận suông về Tứ Niệm Xứ. Xin quý vị hãy yên lặng mà thực hành đi, rồi chính quý vị sẽ thấy kết quả. Ðức Phật đã nói: "Ehi passiko", "Hãy đến và tự mình chứng lấy".

Chuyển ngữ: Asoka Lê Thị  Ánh
Theo: Buddhasasana

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2018







Phật Pháp không phải là sách tiểu thuyết để đọc rồi quên đi. Phật Pháp có liên quan đến đời sống – một đời sống thực, một đời sống mà bạn và tôi trải qua hằng ngày. Giá trị của đời sống nầy sẽ gia tăng đáng kể khi Phật Pháp được diễn dịch ra hành động, và thấm nhập vào tánh tình của chúng ta qua các nỗ lực thường xuyên, qua các thực tập mỗi ngày.

Mục đích tối hậu của Phật Pháp là Niết Bàn – vượt thoát khỏi mọi hoạn khổ, phiền não. Mục đích trước mắt là giúp ta hiểu rõ và giải quyết các vấn đề trực diện với ta trong đời sống hằng ngày, giúp ta trở thành những con người sống an lạc, thảnh thơi và thăng bằng, sống hòa hợp với môi trường chung quanh và những người đồng loại. Tuy thế, sự thăng bằng nầy cũng không dễ thực hiện, nhất là trong thế giới ngày nay với nhiều giá trị ảo tưởng và các thành kiến hư ngụy.

Khác hẳn với các giá trị tương đối – và có khi là giả tạo – trong thời đại của chúng ta, lời dạy của Ðức Phật là một sự khải hiện các giá trị chân thật và tuyệt đối. Chân Pháp đó cần phải được mỗi người tự thể nghiệm. Phật giáo dạy về sự tư duy rõ ràng, sự tự chế, và nuôi dưỡng tâm ý như là các phương tiện để thấu đạt Chân Pháp. Người cư sĩ nào biết xây dựng cuộc sống hằng ngày trên căn bản vững chắc của tri thức giải thoát với các lý tưởng rõ ràng thì người ấy được bảo đảm các tiến bộ và thành công trong đời sống tại gia của mình.

Do đó, Phật Pháp là các hướng dẫn trong đời sống hằng ngày của ta, và các nguyên tắc căn bản của đạo Phật có những giá trị thực tiễn trong nghệ thuật sống trên đời. Người cư sĩ tại gia, trong khi phải dấn thân vào xã hội vì cưu mang các trách nhiệm trong đời sống, sẽ không bao giờ quên mục đích tối hậu của họ là Niết Bàn giải thoát. Người ấy lúc nào cũng nên xem rằng đời sống của mình chỉ là một bãi tập, để sửa soạn tiến đến thực chứng mục đích tối hậu ấy.

Kinh Ðại Hạnh Phúc (Maha-Mangala Sutta) có nói rằng, các phước hạnh thật sự của đời sống là có được “một tâm ý có định hướng đúng” (atta-samma-panidhi). Có nghĩa là ta phải nhận thức đúng đắn vị trí của mình trong thế gian, có quyết định đúng đắn về mục tiêu, và tìm một con đường đúng đắn để tiến đến mục tiêu đó.

Người an lạc và thăng bằng là người có một mục đích cao thượng trong đời sống, có một đường lối tốt để đi theo, và có một triết lý sống giản đơn nhưng đầy ý nghĩa để dẫn đường. “Triết lý” ở đây là một ước vọng hướng thiện để thông hiểu bản tánh và tương lai của con người trong vũ trụ. Không có triết lý như vậy thì đời sống trở nên tẻ nhạt, buồn chán, vô ích, và vô nghĩa. Triết lý đó giúp con người sống hài hòa với thế giới và đồng loại trong một tiến trình thăng hoa dựa theo các tri thức chân chánh.

Trong đạo Phật, tâm ý bao trùm vật chất. Một nét đặc thù của tâm ý là “ý định” (hay “tác ý”). Ðể sử dụng tốt cuộc đời và nghiệp kế thừa của mình, ta phải biết chọn một mục tiêu hướng thượng và thực tiễn trong đời sống, và tạo ra một kế hoạch để đi đến đó. Chúng ta sẽ trở nên những gì mà ta mong muốn được như vậy.

Khi ta càng thông hiểu bản thân – qua hành trì tự quán sát và tự phân tích – ta sẽ càng có nhiều khả năng để tự cải tiến và phát triển. Thêm vào đó, ta nên tự hỏi rằng mình sẽ tiến và tiến đến cấp độ nào trong việc tu tâm để mình trở nên độ lượng, an bình, tự tại, dịu dàng, thông cảm, chân thật, hiền lành, chất phác, cẩn thận, tinh tấn, cần mẫn, nhẫn nại, bao dung, và khôn khéo. Ðó là các đức tính cao quý của một Phật tử biết sống hợp thời. Ta phải cố gắng tự cải thiện mỗi khi có cơ hội – mỗi ngày một chút. Ta nên hiểu rằng mỗi khi mình thực hiện một hành động hướng thiện, dần dần nó được huân tập thành một thói quen tốt. Từ các thói quen tốt đó, chúng sẽ thấm nhập tạo thành các đặc tính cao thượng cho bản thân.

Chánh niệm (Sati) là một sự tỉnh giác quan trọng. Chánh niệm là cách nhìn sự vật một cách khách quan, lột bỏ mọi ưa ghét, thành kiến và thiên vị. Ðây là cách nhìn mọi sự vật theo bản thể chân thật của chúng – các sự kiện lột trần. Khả năng làm được điều nầy đánh dấu sự trưởng thành trong Phật Pháp. Nguyên tắc quán sát vô tư phải được áp dụng rốt ráo trong các tư duy hằng ngày. Từ đó, sự suy tư của ta sẽ được rõ ràng, trong sáng hơn và ta sẽ sống hướng thiện hơn, làm giảm thiểu các ảnh hưởng xấu xa tác động vào mình, từ các phương tiện truyền thông quảng cáo tiêu thụ vật chất, và kết quả là ta có được các tăng trưởng về những quan hệ tốt giữa con người với con người.

Vì vậy, một Phật tử có nhân cách thăng bằng là người phải biết tự chủ, tự quyết định, tự tạo ra các ý kiến và kết luận khi phải đối phó với các khó khăn trong cuộc sống, dựa vào các nguyên tắc cơ bản của Phật Pháp. Người ấy có một tri thức và luân lý dũng mãnh. Người ấy sẵn sàng đứng một mình, theo đuổi một con đường sống của mình, cho dù người khác có thể hiểu lầm và dị nghị.

Dĩ nhiên là người Phật tử ấy phải biết đón nhận các ý kiến đóng góp và cố vấn của người khác – bởi vì việc thu nhận các ý kiến xây dựng từ những người có kiến thức và kinh nghiệm thì không phương hại gì đến sự tự do chọn lựa của mình – nhưng cuối cùng rồi thì phải tự mình có những quyết định cho đời mình.

Thấy được quan hệ giữa lòng tham dục và sự khổ đau, chúng ta phải luôn luôn gìn giữ một mức độ xả ly, thoát khỏi các ràng buộc quá đáng của thế tục. Chúng ta phải biết điều chỉnh đời sống của mình trong kỷ cương của năm giới luật cư sĩ (ngũ giới). Từ đó, ta bảo vệ được sự an lành của ta, trong hiện tại và tương lai, qua cách sống thuận hòa với các quy luật phổ quát của Phật Pháp được áp dụng vào đời sống tinh thần và đạo đức của mình. Phát triển đặc tính luân lý và đạo đức (Sila – trì giới) nầy là một điều kiện tiên quyết để huân tập tâm ý và từ đó, làm nền tảng tạo trí tuệ (Panna) cần thiết để thực chứng Niết Bàn.

Ðời sống là vô thường, lúc nào cũng có nhiều thay đổi. Các tai họa hoặc những việc bất ưng ý có thể sẽ xẩy ra cho ta, và khi đó, ta phải biết trực diện chúng một cách bình thản và thăng bằng. Nếu làm được như thế thì chứng tỏ ta đã có sự hiểu biết chân chính, biết nhìn rõ ràng sự kiện xẩy ra theo luật nhân quả, do nhân duyên hợp thành, và biết rằng chính ta là người gieo nhân và chịu trách nhiệm gặt quả – nếu không trong đời sống nầy thì cũng là từ nhiều kiếp trước. Ta sẽ vượt qua các nỗi sợ hãi và lo âu thái quá, không có cơ sở và không có luận lý, bởi vì ta biết chế ngự các cảm tính của mình. Từ đó, những ngộ nhận, những bất công trong đời, những u sầu vì tưởng rằng mình bị đối xử tàn tệ sẽ được ta thông hiểu rõ ràng và đón nhận nhẹ nhàng hơn, vì ta đã hiểu được cặp nguyên lý nghiệp quả và tái sinh.

Còn một lý do nữa để người Phật tử gìn giữ tác phong đạo đức của mình. Người ấy có uy lực bắt nguồn từ các nguồn lực vô hình khác – đó là kho tích trữ các hành động toàn thiện, các đức tính của tự thân, các hạnh phúc có được trong lúc tập hành thiền, tất cả các nguồn lực nầy hoàn toàn độc lập với của cải vật chất. Như thế, người ấy là chủ nhân của một tâm ý tự lực và tự túc.

Người ấy biết sống đơn giản, không có nhiều nhu cầu. Của cải vật chất đối với người ấy chỉ là những đầy tớ, không phải là những chủ nhân ông. Người ấy hoàn toàn tự do, không bị lệ thuộc vào sự sai khiến của các sự vật bên ngoài. Người ấy nhận thức được rằng các sự vật thấy được thì chỉ là tạm bợ và thay đổi luôn. Tóm lại, người ấy có được một tâm ý bình thản, chừng mực, và tri túc. Tri túc, như lời Phật dạy, là một nguồn tài sản lớn nhất, là một trong bốn nguồn hạnh phúc:

Không bệnh là Lợi tối thượng
Tri túc là Của tối thượng
Thành tín là Bạn tối thượng
Niết Bàn là Lạc tối thượng.

(Pháp Cú, 204)

Khi đã thông hiểu như thế, người Phật tử đó sẽ học được cách thích nghi với những hoàn cảnh đổi thay mà không bao giờ sầu khổ than van hay cay đắng.

Nếu ta có Chánh Tín (Saddha), nghĩa là có niềm tin nơi Phật Pháp dựa trên sự hiểu biết, ta phải cố gắng thực hành. Mỗi Phật tử chân chính phải thực hành liên tục bốn điều tinh tấn – Tứ Chánh Cần – vốn là chi thứ sáu của Bát Chánh Ðạo. Ðó là: tinh tấn vượt qua và tinh tấn ngăn chận các pháp bất thiện như là các ý tưởng sân hận; tinh tấn phát triển và tinh tấn nuôi dưỡng các pháp thiện trong tâm ý như là các ý tưởng từ bi. Các tâm ý nầy chẳng những sẽ bảo vệ bản thân ta, mà từ đó cũng sẽ giúp được những người khác chung quanh ta.

Ta phải tập có thói quen suy xét về các tư tưởng và hành động của chính mình để xem chúng có chân thật hay không, bởi vì chân thật với chính mình là một con đường chắc chắn đưa đến tâm ý toàn thiện. Thêm vào đó, chúng ta phải biết dành thì giờ mỗi ngày để tĩnh lặng tự quán soi hay là hành thiền, để ôn lại các việc làm trong ngày, và để suy xét xem ta có đi ngược lại với các nguyên tắc căn bản mà Ðấng Từ Phụ của chúng ta đã từng khuyên dạy, để mà sám hối và tránh phạm các lỗi lầm đó trong tương lai.

Mỗi ngày ta cũng nên đọc một đoạn kinh từ các bài giảng của Ðức Phật. Thói quen hữu ích nầy giúp chúng ta phát triển tâm ý thiện, làm giảm đi các u sầu, phiền muộn, và giúp đưa đời sống của ta đi vào con đường chân chính.

Qua các cách thức nêu trên, là những cư sĩ đệ tử của Ðức Phật, chúng ta sẽ luôn tăng trưởng trong ánh sáng nhiệm mầu của Chánh Pháp, luôn luôn uốn nắn nhân cách của mình, rèn luyện tâm thức, huân tập các cảm tính, và tăng cường ý chí dũng mãnh để tạo các lợi ích phước báo lâu dài cho bản thân và cho người khác.

Lược dịch: Bình Anson


Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2018


1. Hỏi: Những người mới tập thiền phải hành thiền như thế nào?

Đáp: Cũng như những người hành thiền lâu.

(Thiền sư Ajahn Chah)

2. Cỏ hoa, cây cối, núi rừng... sống theo đường lối riêng của chúng. Chúng mọc lên, chúng chết đi cũng theo bản chất riêng của chúng. Chúng sống một cách tự nhiên, vô tri, vô giác, trơ trơ bất động. Chúng ta thì khác, chúng ta quấy động mọi thứ. Nhưng cơ thể  chúng ta cũng chỉ  đi theo đường lối tự  nhiên: sinh ra, trưởng thành, và cuối cùng là chết. Đường lối tự  nhiên của cơ thể  con người là vậy. Ai mong muốn cơ thể đi theo đường lối khác, kẻ đó sẽ đau khổ.

(Thiền sư Ajahn Chah)

3. Một người học trò của Ajahn Chah trong lúc rút dây cắm máy thâu băng ra khỏi  ổ  điện, sơ ý nắm vào chốt điện, và bị  giật nên vội vàng buông bỏ  dây ra. Ajahn Chah, không bỏ  lỡ  cơ hội dạy giáo pháp, bèn nói: "ồ! Sao con có thể  buông bỏ một cách dễ dàng như vậy? Ai dạy con đó?"

(Thiền sư Ajahn Chah)

4. Trong cuộc đời chẳng bao giờ có cái gì là hoàn hảo cả. Tốt hơn cả là đừng nên mong đợi sự hoàn hảo. Tôi không hoàn hảo; tôi sẽ chẳng bao giờ hoàn hảo, và tôi không mong đợi điều đó.

(Thiền sư U Jotika)

5. Nhiều lần lặp lại, tôi phát hiện ra rằng dính mắc dẫn đến đau khổ. Chẳng có lỗi lầm gì trong chuyện đó cả. Hãy canh chừng dính mắc. Lòng tham muốn làm cho bạn tin rằng bạn sẽ hạnh phúc khi sự ham muốn đó được thỏa mãn, nhưng ham muốn thì không bao giờ có điểm dừng. Chúng ta cứ nghĩ rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ hạnh phúc. Một ngày nào đó, một ngày nào đó…và cái ngày đó cứ lùi dần, lùi dần chẳng bao giờ đến. Bạn sẽ là người may mắn khi có thể nói: “Tôi hạnh phúc”.

(Thiền sư U Jotika)

6. Khi bạn cảm thấy bị quấy rầy bởi tâm suy nghĩ, hãy tự nhắc nhở rằng không phải mình hành thiền là để ngăn chặn sự suy nghĩ, mà là để nhận ra và biết rõ suy nghĩ mỗi khi chúng sanh khởi. Nếu không có chánh niệm bạn sẽ không thể biết được là mình đang nghĩ ngợi. Khi nhận ra mình đang suy nghĩ, nghĩa là bạn đã có chánh niệm. Nên nhớ là tâm vẩn vơ suy nghĩ bao nhiêu lần, phóng đi chỗ này chỗ nọ hay bực bội chuyện này chuyện kia - tất cả những điều đó không thành vấn đề, miễn là bạn có chánh niệm, hay biết nó là được.

(Trích từ sách "Đừng coi thường phiền não")

7. Bạn đừng cố gắng bắt buộc mọi thứ phải xảy đến như mình mong muốn, mà hãy cố gắng hay biết những gì đang diễn ra như nó đang là. Nghĩ rằng mọi thứ nhất định phải như thế này thế kia, mong muốn điều này điều nọ phải xảy ra hoặc không được xảy ra, đó là chính mong cầu, mong đợi. Mong cầu sẽ tạo ra lo lắng, bất an và có thể dẫn đến sân. Điều quan trọng là bạn phải ý thức được thái độ của mình như thế nào!

(Trích từ sách "Đừng coi thường phiền não")

8. Theo trung đạo thì yêu, ghét, hạnh phúc, đau khổ, chỉ là những cảm giác thuần túy. Một khi đạt được sự hiểu biết này, tâm sẽ không còn dễ bị lôi cuốn, không còn bị dính mắc vào các cảm giác đó nữa. Đấy là sự thực hành để hiểu rõ tâm không nuôi dưỡng bất kỳ cảm giác nào cũng không chấp giữ, dính mắc vào chúng, được như thế, tâm sẽ tự do trôi xuôi theo dòng nước, không gặp một chút chướng ngại nào, cuối cùng trôi vào đại dương Niết bàn.

(Thiền sư Ajahn Chah)

9. Bất kỳ đang ở nơi nào cũng phải có thái độ tự nhiên và luôn luôn quán chiếu để tự hiểu mình. Nếu hoài nghi phát sanh, hãy để nó đến và đi tự nhiên. Đây là chuyện thật giản dị, hãy xả bỏ tất cả. Cũng giống như đi trên đường, nhiều khi bạn gặp chướng ngại. Khi gặp phiền não, hãy nhìn chúng, chế ngự chúng, rồi xả bỏ, để chúng tự ra đi. Đừng nghĩ tưởng tới những chướng ngại đã qua, đừng lo âu về những chướng ngại chưa đến. Hãy sống trong hiện tại. Đừng quan tâm đến chiều dài của con đường, cũng đừng để ý tới nơi sẽ đến. Mọi chuyện đều thay đổi. Những gì đã gặp qua hãy xả bỏ. Cuối cùng, tâm sẽ đạt được trạng thái quân bình. Bấy giờ dầu bạn đang ngồi nhắm mắt, hay đang rảo bước trong phố thị ồn ào, thì tâm bạn vẫn bình an tĩnh lặng.

(Thiền sư Ajahn Chah)

10. Hãy đọc chính mình chứ đừng đọc sách. Chân lý không nằm bên ngoài, đó chẳng qua chỉ là trí nhớ chứ không phải là trí tuệ. Trí nhớ mà không có trí tuệ thì cũng giống như cái bình thủy trống rỗng, nếu không đổ nước vào bình thì bình sẽ trở thành vô dụng.

(Thiền sư Ajahn Chah)

Thứ Tư, 30 tháng 5, 2018

1. Có thể, tôi không có đủ khả năng để thay đổi thế giới quanh mình, nhưng tôi có thể thay đổi cách nhìn thế giới bên trong mình


(Thiền sư U.Jotika)


2. Nuôi cái giận trong lòng thì khác nào mình uống thuốc độc mà trông chờ người khác chết.
(ST)

3. Giáo pháp nằm ngay trong tâm bạn chứ không phải trong rừng. Đừng nghe ai mà hãy lắng nghe tâm mình. Bạn chẳng cần phải đi nơi nào để tìm kiếm giáo pháp. Giáo pháp nằm ngay trong tâm bạn, cũng giống như trái xoài ngọt đã nằm sẵn trong trái xoài xanh.

(Trích Chỉ là một cội cây)

4. Ngài Ajahn Chah thường dạy các đệ tử của ngài: "Nếu người ta chửi con là chó, thì con hãy nhìn lui xem mình có cái đuôi không. Nếu con có cái đuôi thì họ nói đúng rồi. Còn nếu con không có đuôi, thì cũng đừng lo lắng làm gì. Con không phải là con chó, vậy thì đâu có vấn đề?". Vậy đó, nếu bạn biết rõ giá trị của chính mình, bạn không cần phải tranh đấu để tự khẳng định lại mình khi bị người khác lăng mạ.

(ST)

5. Dính mắc vào sự an tịnh còn tệ hơn là giao động bất an. Bởi vì ít ra bạn còn muốn thoát khỏi giao động, trong khi đó bạn hài lòng với an tịnh và không tiến xa hơn. Khi hành thiền mà tâm an lạc tĩnh lặng thì hãy thản nhiên tiếp tục việc hành thiền mà đừng dính mắc vào chúng.

(ST)

6. Chúng ta sẽ thấy hạnh phúc khi có thể hiểu về bản thân mình. Hạnh phúc này xuất phát từ đâu? Hạnh phúc này là do có sự hiểu biết.

(Trích: Chánh niệm từng khoảnh khắc)


7. "Cốt tủy của Đạo rất đơn giản, chẳng cần phải giải thích dông dài: hãy bỏ yêu ghét, an nhiên trước mọi chuyện xảy ra".

(Thiền sư Ajahn Chah)


8. Không tha thứ là một loại ngục tù. Khi không thể tha thứ cho ai đó, chúng ta tống anh ta vào tù. Nói ví dụ như một người nào đó phạm tội, chúng ta bắt giữ anh ta và giam vào trong tù. Tâm chúng ta cũng như vậy, chúng ta giam giữ rất nhiều người trong nhà tù của mình. Chúng ta khóa chặt họ trong đó. Vì vậy, không tha thứ là một nhà tù – bạn nhốt người khác vào trong tù nhưng chính trong quá trình ấy, bạn cũng tự nhốt chính mình vào tù luôn bởi vì bạn là người giữ chìa khóa và canh cửa. Tôi sẽ không cho anh ra ngoài, tôi có thể thả anh nhưng tôi không thả. Trong lúc ấy thì chính chúng ta cũng đang ngồi tù.

(ST)

9. Hãy quan sát tâm mình và xem nó đang làm gì. Nếu bạn thấu hiểu tâm mình, hầu hết mọi vấn đề của bạn sẽ biến mất, bởi vì hầu hết tất cả mọi vấn đề của con người đều do tâm tạo – không có cái gì có thực bên ngoài tâm mình cả.

(Thiền sư U Jotika)


10. Cốt tủy của việc thực hành là chăm chú quán sát theo dõi tâm, nhận biết ý định của tâm. Muốn nhận biết ý định của tâm, bạn phải có trí tuệ. Đừng có tâm phân biệt, đừng bất bình phiền não khi thấy người khác không làm đúng theo ý thích của mình, đừng khó chịu khi chứng kiến những việc, những điều mà mình không ưa thích. Bạn có cảm thấy buồn khổ khi thấy một thân cây trong rừng ốm yếu cong queo không được to lớn thẳng thắn như những cây khác không? Thật là khờ dại khi buồn khổ như thế. Đừng phán xét những người khác, bởi vì có rất nhiều hạng người trên thế gian này. Tại sao tự mang vào mình gánh nặng muốn thay đổi, muốn sửa đổi tất cả những người khác? Nếu bạn muốn thay đổi, muốn sửa đổi một cái gì đó thì hãy thay đổi, sửa đổi sự vô minh của mình thành trí tuệ.

(Trích Chỉ là một cội cây)




Thứ Tư, 9 tháng 5, 2018




Thiền Sư Ikkyu là một vị đại sư kỳ đặc, phóng khoáng, không câu nệ giới luật hay tiểu tiết gì cả. Một ngày kia, Thiền Sư đi ngang qua một ngôi chùa và ghé vào xin trọ lại một đêm. Đêm đó, trời trở cơn thật lạnh và trong chánh điện không có gì để sưởi ấm ngoài ba tượng Phật gỗ. Sư Ikkyu chẳng nói chẳng rằng, leo lên rinh một pho tượng Phật xuống, chẻ ra chụm đốt sưởi ấm. Lúc đó, ông đạo trụ trì chợt thức giấc và cảm thấy như có cái gì khác thường nên ông đạo đi chung quanh chùa xem xét. 

Đến cửa chánh điện, ông đạo tá hỏa tam tinh lên khi thấy nhà sư lang thang kia đang ung dung tự tại chẻ tượng Phật ra hơ ấm đôi taỵ Ông đạo tức quá, phùng mang trợn mắt la lớn lên: "Trời ơi, ông làm cái gì vậy? Tại sao ông dám chẻ tượng Phật ra chụm lửa vậy trời? Bộ Ông điên rồi hả? Tôi thấy ông là nhà sư nên tôi mới cho ông vào trú chân qua đêm, nào ngờ đâu ông lại dám làm cái chuyện kinh thiên động địa thế này hả?" "Nhưng ông Phật trong tôi lạnh lắm. Tại sao lại hy sinh ông Phật sống này cho mấy ông tượng gỗ kia chứ?" Thiền Sư ikkyu trả lời. Nhưng ông đạo tức giận cành hông nên nào có nghe thấy những gì Sư Ikkyu nói. Ông ta cứ ong óng lên: "Trời ơi, thật đúng là điên qúa cỡ rồi. Thế này thì chết tôi rồi còn gì. Thôi thôi, ông cuốn xéo đi cho tôi nhờ!" Sư Ikkyu lặng thinh, lấy cây que khừi khừi bươi bươi đống tro, có vẻ như muốn tìm tòi cái gì. Ông đạo lạ lùng, hỏi: "Này ông lại muốn làm cái gì nữa đó?" Sư Ikkyu nói: "Ồ, tôi muốn tìm xá lợi Phật cho ông." Ông đạo đang giận mà cũng phải bật cười: "Ông thật đúng là không điên thì cũng mát. Tượng Phật gỗ làm gì có xá lợi?" Sư Ikkyu phá lên cười ha hả: "Thế thì rinh nốt hai pho kia xuống đốt luôn đi. Trời còn lâu lắm mới sáng mà đêm nay thì lạnh lắm, ông đạo ạ." 

Thiền Sư Ikkyu là Thầy của Ninakawa. Ninakawa đang hấp hối trên giường bệnh. Sự sống đang mất dần. Thiền Sư Ikkyu đến thăm và hỏi:


"Ta biết ngươi đang chịu đựng cơn đau ghê gớm. Ta giúp được gì cho ngươi?" "Con đến không đem theo vật gì, ra đi cũng không mang theo gì, ngài giúp được gì cho con?" "Nếu thực sự ngươi nghĩ "Có Đến, Có Đi" thì ta sẽ chỉ cho ngươi con đường "Không Đến, Không Đị" Những lời nói đó đã đưa Ninakawa vào cõi Chân Không vô cùng vô tận với nụ cười giải thoát trên môi."


Thiền Sư Ikkyu nói: "Nếu ngươi nghĩ có đến có đi, đó chỉ là ảo tưởng của ngươi... " Thật khó hiểu và tế nhị sâu sắc quá, phải không? Câu nói của Sư Ikkyu có ý như thế này: "Nếu ngươi nghĩ là có đến có đi, thì ai đến ai đỉ Cái nào của ngươi đến, cái nào của ngươi đỉ Cái tâm của ngươi đến hay cái thân của ngươi đến; cái tâm của ngươi đi hay cái thân của ngươi đỉ Nếu ngươi không giải được, có nghĩa là ngươi chỉ lập đi lập lại lời nói của chư Phật như con vẹt mà thôi.


Sư Ikkyu đã vén bức màn Vô Ngã là Niết Bàn cho đệ tử và Ninakawa thỏng tay an nhiên đi vào cõi Vô Cùng với nụ cười giải thoát trên môi. Nụ cười Ninakawa là nụ cười của Phật, một nụ cười giác ngộ. Câu truyện thật đẹp; thật tuyệt vời, thật cảm xúc. Câu truyện đó là một ẩn dụ cho sự giác ngộ rốt ráo, tột cùng. Chúng ta phải chết đi để sống lại; chúng ta phải chết đi con người đầy tham lam sân hận si mê để sống lại thật tràn đầy an lac giải thoát. Cái chết của Ninakawa không phải là cái chết vật lý tầm thường, đó chỉ là một chuyến viễn du, một cuộc hành trình, một bước chân đi vào một thế giới khác, bắt đầu một cuộc sống khác. Nếu bạn có thể chết với nụ cười giải thoát trên môi thì bạn đã biết nghệ thuật chết; và tinh hoa của tất cả mọi tôn giáo đều nằm gọn trong nghệ thuật Chết đó. Hãy chết như Ninakawa đã chết! Hãy cười như Ninakawa đã cười! Nụ cười Ninakawa! Nụ cười Chư Phật!


Nguồn: http://coinguonhanhphuc.blogspot.com.au/

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2018


 

Trái tim của thiền tập
    Sharon Salzberg

    Khóa tu đầu tiên của chúng tôi tổ chức đặc biệt cho gia đình, tại trung tâm Insight Meditation Society, được dành riêng cho các bậc cha mẹ của các thiền sinh. Ðem thiền tập giới thiệu đến với họ là một cách để giải trừ những lo âu của họ về cái mốt ưa chuộng kỳ lạ của con cái. Một thiền sinh, hiểu rõ về thái độ của mẹ mình khi đến học thiền, nói, "Má tôi là người đàn bà mà sẽ than phiền rằng 'Cái con chim khốn kiếp kia làm ra mất ngủ cả đêm'.". Mà thật, bà ta đã nói y như vậy sau đêm đầu tiên ngủ tại trung tâm! Nhưng đến cuối tuần thì cách lắng nghe của bà đã hoàn toàn thay đổi. Bà đã tập AIS được cách chỉ đơn giản lắng nghe thôi, buông bỏ hết những sự phê phán của mình về tiếng chim kêu trong đêm khuya.

    Có nhiều cách để nghe một âm thanh. Chúng ta có thể nghe một tiếng động nào đó rồi trở nên bực mình và phản ứng, cảm thấy khó chịu. Trong trường hợp âm thanh nào đối với ta là dễ chịu, ta sẽ muốn nó tiếp tục mãi. Còn với những âm thanh không dễ chịu cũng chẳng khó chịu, có lẽ ta chỉ nghe chúng có "nửa tai" thôi. Và ta cũng có thể trực tiếp lắng nghe một âm thanh, mà không phê phán, không thêm bớt - nó chỉ đơn giản là một tác động của thính giác - chừng ấy, cả một thế giới mới sẽ phơi bày trước mặt ta. Kinh nghiệm được mọi hiện tượng trong cuộc sống này bằng đường lối trực tiếp ấy chính là tinh túy của chánh niệm.

    Chánh niệm là một đặc tính của ý thức, có khả năng tiếp xúc trực tiếp với những kinh nghiệm của ta, đối diện chúng thẳng mặt, không để bị bóp méo hoặc làm sai trật bởi những tham muốn, sân hận và si mê. Thói quen tham muốn thường thúc đẩy ta cố gắng vô vọng, muốn làm sao để giữ cho những kinh nghiệm dễ chịu được tồn tại mãi.Thói quen sống theo tâm sân hận và sợ hãi khiến ta tránh né những kinh nghiệm đớn đau, như thể là ta có khả năng ngăn chặn chúng được vậy. Và thói quen sống theo sự si mê đã khiến ta trở nên thất niệm, xa rời giây phút hiện tại, khi những kinh nghiệm của ta không đặc biệt dễ chịu mà cũng không là khó chịu.

    Nếu chúng ta đi cộng lại hết những giây phút ta không thể kinh nghiệm sự sống của mình trọn vẹn, vì sự tham muốn và dính mắc khiến ta không thật sự có mặt, vì sự sân hận và ghét bỏ khiến ta xa cách, vì sự si mê khiến ta lạc lối, những giây phút ấy sẽ là một con số khổng lồ. Và những giây phút của chánh niệm, khi ta thật sự biết sống, chỉ là một con số rất nhỏ nhoi. Ðó là một lối sống vô cùng giới hạn và rất là tội nghiệp.

    Sống tỉnh thức trong giờ phút hiện tại với một sự quân bình, tĩnh lặng và hiểu biết, cho dù kinh nghiệm ta có là dễ chịu, khó chịu hoặc trung hòa, là một chuyện có thể được. Ðó là nhờ sức mạnh của chánh niệm. Chánh niệm là một ý thức thẳm thấu và sâu sắc, không hời hợt bề ngoài. Trong kinh điển, tính chất của chánh niệm được ví dụ như khi ta thảy một nút chai bằng bần xuống nước với lại thảy một hòn đá. Ý thức hời hợt bên ngoài cũng giống như chiếc nút chai sẽ nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Ngược lại, hòn đá sẽ chìm sâu thẳng xuống đáy nước.

    Một ví dụ khác cho tính chất của chánh niệm là hình dung đến việc gì xảy ra khi ta đổ nước vào một cái ly. Nước không nằm yên một chỗ mà nó tràn lan đi khắp nơi, làm đầy hết những khoảng trống trong ly. Cũng vậy, chánh niệm ôm trùm và tràn lan khắp nơi trên đối tượng của nó. Khi chúng ta có chánh niệm, ta bao trùm khắp kinh nghiệm của mình trong một ý thức trọn vẹn. Khi ta nghe một âm thanh, ý thức ta hòa nhập thẳm thấu vào cái nghe ấy.

    Khi ta có chánh niệm, khi ta có thể tiếp xúc trực tiếp với những gì đang xảy ra, thế giới này sẽ trở nên vô cùng sinh động. Thay vì nhìn sự vật qua những lăng kính của hy vọng và sợ hãi, ta có thể mặt với sự việc như chúng là.Với chánh niệm, chúng ta nhìn bằng con mắt quán chiếu, như các nhà tu Sufis thường nói, với "con mắt không bị mê mờ vì sự mong muốn".

    Thật ra, lối nhìn ấy cũng sống như khi chúng ta mới gặp mặt người lạ. Khi gặp một người nào lạ, ta thường có khuynh hướng đem người đó sắp vào một khuôn mẫu nào đã có sẵn trong ta. Ta không chịu nhìn và quan sát, mà tự phóng chiếu nên một ý tượng về người đó hoàn toàn dựa trên bề ngoài của họ. Dần dà, khi sự phóng chiếu của mình giảm bớt, ta bắt đầu chú ý rõ hơn và thấy xuyên qua được những chi tiết giả tạo bên ngoài ấy. Và từ đó, ta mới có thể tiếp xúc được gần gũi với con người thật sự của họ. Cũng vậy, chánh niệm sẽ giúp ta đến gần với thực tại sinh động của kinh nghiệm mình hơn.

    Chánh niệm có thể có mặt ở mọi nơi. Nó không bị giới hạn trong bất cứ một trường hợp đặc biệt nào. Bạn có thể nói, như mẹ của một thiền sinh, "Tôi không thể nào giữ chánh niệm được vì nó ồn quá!". Nhưng đó là một quan niệm rất sai lầm về chánh niệm. Chúng ta có thể có chánh niệm về sự yên lặng, và ta cũng có thể có chánh niệm về sự ồn ào. Chúng ta có thể có chánh niệm về ngay cả những âm thanh chói tai nhất ! Ta có thể có chánh niệm về bất cứ một việc gì nằm trong kinh nghiệm của mình. Chánh niệm là một đức tính của tâm thức mà nó có thể bao gồm và tàng chứa hết tất cả.

    Một đặc tính của chánh niệm là nó không hề bị đối tượng của nó ảnh hưởng. Có nghĩa là ta có thể có chánh niệm về niềm vui trong giây phút này, nỗi buồn trong giây phút kế, và rồi tiếp đến là chán chường chẳng hạn, tự tính của chánh niệm vẫn không hề thay đổi. Cho dù đối tượng của nó là bất cứ một việc gì, tự tính của chánh niệm bao giờ cũng rộng lớn, cởi mở và tự do.

    Sự tu tập chánh niệm cũng giống như ta đang đi trên một hành trình hoặc là đang khám phá một bí mật lớn vậy. Trong cuộc sống hằng ngày, sẽ có biết bao nhiêu lần ta bị rơi vào thất niệm, phản ứng theo thói quen hoặc tách rời với giây phút hiện tại. Nhưng một khi ý thức được điều ấy, ta chỉ cần bắt đầu lại là đủ. Thật ra, ngay khi ta vừa ý thức được mình đánh mất chánh niệm, là ta đã tìm lại được nó rồi, vì sự nhận diện ấy tự chính nó là một chức năng của chánh niệm.

    Mỗi khi chúng ta tiếp tục bắt đầu lại là mỗi lần năng lực của chánh niệm sẽ hiển bày. Sự thực tập kết quả trái ngay trong mỗi giây phút hiện tại, cũng như trong những giây phút tương lai. Chánh niệm không phải là một cái gì mơ hồ, viễn vông hoặc xa vời, nó sống dậy trong mỗi giây phút ta lại bắt đầu, và bắt đầu lại. Và đó chính là trái tim của thiền tập./.

    Nguyễn Duy Nhiên chuyển dịch
    (Trích "Trái Tim Thiền Tập", Sharon Salzberg)

   

   

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2018



Chúng ta nói những thứ này là là các đối tượng có sức mạnh, nhưng chỉ đơn giản rằng tâm của chúng ta yếu. Giống như thầy của tôi, ngài Ajahn Chah, thường nói. Ngài thường chỉ một tảng đá và nói: "Tảng đá đó có nặng không?" Tất nhiên, mọi người sẽ nói, "Đó là một tảng đá lớn, con nghĩ chắc chắn nó phải nặng." Và ngài nói, "Chỉ khi nào các ông cố gắng để nhấc nó lên. Tôi không thấy nặng chút nào hết.” Vậy thì sức nặng của tảng đá nằm ở đâu? Nó chỉ nặng đối với những người dở nó lên và khiêng đi. Như vậy tất nhiên, nó nặng.

Đâu là sức mạnh của món đồ đó, sức mạnh của tình huống, sức mạnh của điều kiện? Sức mạnh chỉ có khi tâm bám níu và  mang chúng đi theo với nó, bị cuốn hút vào trong đó và phản ứng. Sức mạnh đến từ tâm, không phải đến từ đối tượng. 

Đây là nói trong ý nghĩa thực tại rốt ráo. Tôi không bỏ qua thực tế rằng chúng ta nên sửa đổi các điều kiện xung quanh chúng ta và rằng  quan trọng là cố gắng  và tạo các điều kiện tốt cho cuộc sống. Đó cũng là điều quan trọng, và thậm chí ngay cả trên con đường tâm linh này, chúng ta nhấn mạnh nhiều đến các điều kiện phù hợp, hành vi đúng đắn và v.v…; nhưng tối nay tôi đang chỉ đến cội nguồn (đau khổ) của mọi sự, và rốt cục  phải quay trở lại với vấn đề này.

Nếu tôi có thể , tôi sẽ đưa  các quảng cáo khác lên truyền hình. Tôi muốn có những quảng cáo tạo ra sự an tịnh với những người sống đơn giản, nói năng dễ thương,  thực hành thiền, và cảm thấy mãn nguyện... và sẽ có ai đó sẽ nói, "Mình đã có đủ, mình thực sự không cần gì thêm. Hãy tự làm cho mình bình an; mình không cần một chiếc xe hơi mới, mình không cần phải say xỉn, mình không cần phải hút thuốc, mình không cần phải làm  tất cả những điều này. Hãy tận hưởng cuộc sống, hãy bình yên, mình đã có đủ "Ừm, biết đâu được, việc gì cũng có thể xảy ra.

Tối nay tôi không quan tâm nhiều đến việc đó đó, mà quan tâm đến cái ý tưởng làm sao có thể đến được cội nguồn của mọi sự nhiều hơn. Tâm trí chúng ta là nơi mà sự nô lệ tột cùng bắt đầu và kết thúc. Đây là nơi chúng ta có sự lựa chọn cuối cùng. Chúng ta không thể kiểm soát tất cả các điều kiện bên ngoài, đó là điều không thể. Như tôi đã nói, ngay cả những bậc  giác ngộ có thể bị bỏ tù, bị làm cho tàn phế  và bị hạn chế bởi các điều kiện bên ngoài. Họ không thể kiểm soát tất cả mọi thứ, nhưng họ có thể kiểm soát được tâm, đó là một vấn đề khác.

Bên trong chúng ta, có một sự lựa chọn, nhưng rất ít người có thể đòi cái quyền đó và thực hiện sự lựa chọn đó. Nó đòi hỏi phải có sự huấn luyện, và chỉ khi nào sự huấn luyện viên mãn thì người ta mới có được sự tự do tột bực.

Tuy nhiên, chỉ cần bắt đầu sự huấn luyện là bước một bước tiến tới sự tự do. Giai đoạn đầu tiên là quay vào bên trong, để nhìn và thấy những gì đang xảy ra trong tâm. Hãy bắt đầu nhận thấy các sinh hoạt  của tâm, để có thể thấy sự khác biệt giữa một cái tâm an bình, tĩnh lặng và một cái tâm xao động, ồn ào. Từ cái mốc –  một cái tâm an bình, tĩnh lặng - để lấy làm cơ sở so sánh đó, chúng ta sẽ có một quan kiến rõ ràng về sự vận hành của tâm. Nếu chúng ta chỉ trải nghiệm tiếng ồn và những sinh hoạt bên ngoài chung  quanh ta, chúng ta sẽ không có quan kiến, và nếu  không có quan kiến, chúng ta không cách nào hiểu được tình huống  hoặc kiểm soát được nó.

Chúng ta phát triển quan kiến này như thế nào? Học cách để trở nên an tịnh, học để trở nên tĩnh lặng, học cách lắng nghe những  tiếng ồn ào, lao xao bên trong tâm, quan sát quá trình tư duy, suy nghĩ. Cái làm công việc quan sát đó là gì?  Phẩm chất của nó rất quý giá. Chức năng của phẩm chất đó đơn giản là biết. Nó khác với ý thức bình thường, bởi vì ý thức bình thường  có thể có hoặc không có cái phẩm chất này.  Bạn có thể biết suốt ngày ngoại trừ những lúc bạn chợp mắt, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn tỉnh táo hoặc có ý thức theo nghĩa là có sự lắng nghe vào bên trong, quan sát bên trong. Rất hiếm người kinh nghiệm được cái phẩm chất này. 

Đó là bởi vì chúng ta đã không phát triển cái khả năng này, rằng chúng ta đang làm nô lệ, rằng chúng ta đang phục tùng dưới sức mạnh  của thói quen và bản năng của  chính chúng ta, và rằng chúng ta có thể bị thao túng bởi các tình huống và những người xung quanh chúng ta. Tình cảm, ý nghĩ của chúng ta  vì lẽ đó rất dễ đoán được.

Hãy xem xét phẩm chất  này: Bạn đang suy nghĩ gì? Khả năng lắng nghe , khả năng biết  những gì đang hiện hữu trong tâm gì tại thời điểm này,  được gọi là nhận thức, hay chánh niệm. Chính qua phẩm chất  này mà chúng ta có thể nhận biết những gì đang xảy ra trong tâm và có được một quan kiến về quá trình tư duy. Chúng ta có thể thấy ham muốn và dục vọng sinh khởi và chúng ta có thể thấy hậu quả của chúng. Chúng ta có thể  thấy và quán chiếu bản chất của sự sân hận, nó đến như thế nào, nó đến từ đâu và hậu quả của nó. Chúng ta có thể phản tỉnh về bản chất của cảm xúc. Cảm xúc không phải là thứ gì quá bí ẩn, chúng ta có thể hiểu rõ chúng. Chúng đơn giản chỉ là những cơ cấu của tâm thức. Chúng không khác biệt lắm so với tiến trình suy nghĩ, tư duy bởi vì cảm xúc trong thực tế là  kết quả của một quá trình suy nghĩ và cảm nhận.

Nếu chúng ta có thể đầu tư một ít sự quan tâm và năng lượng vào việc thiết lập và duy trì phẩm chất  của sự nhận thức này trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta sẽ học được rất nhiều điều về tâm  và về những gì xảy ra với chúng ta. Chúng ta sẽ biết cách làm thế nào để không trở thành nô lệ cho  sức mạnh của những trạng thái tâm này và tiến trình tư duy này  và bởi các điều kiện bên ngoài, bởi vì khi tâm chúng ta tỉnh táo, chúng ta có thể lựa chọn. Chúng ta có thể chọn để suy nghĩ hay không suy nghĩ. Chúng ta có thể chọn để  theo đuổi một chuỗi suy nghĩ đặc biệt  nào đó hay từ chối làm như vậy. 

Nó đòi hỏi chánh niệm, tỉnh giác và kỷ luật về mặt tinh thần mà chúng ta gọi là sự tập trung (định). Đây là chính xác những gì chúng ta phát triển qua thiền tập. Nhưng không nhất thiết bạn phải hành thiền trong  nhiều năm trước khi có thể trải nghiệm được điều này. Bạn có thể trải nghiệm nó ngay bây giờ và mỗi ngày. Những gì đòi hỏi bạn phải có là khả năng tập trung và sự tỉnh giác, dù chỉ trong một khoảnh khắc.

Tiếp đến là vấn đề về các giá trị. Những gì là quan trọng đối với bạn? Nếu chúng ta cảm thấy rằng tự do hay sự an bình là điều quan trọng nhất, chúng ta sẽ chọn lựa không cho phép mình chìm vào các trạng thái giận dữ, ham muốn và nhầm lẫn. Đây có phải là sự ép buộc không? Không, nó chỉ là một sự lựa chọn, cũng giống như bạn chọn đến đây tối nay.  Bạn thực hiện một sự lựa chọn. Luôn luôn có một sự lựa chọn. Cũng giống như quyết định đi theo một hướng cụ thể nào đó, bạn đi theo con đường đó, bạn thực hiện một sự lựa chọn. Nếu sự lựa chọn bị ảnh hưởng bởi sự sợ hãi và sự thiếu hiểu biết, thì đó là một sự lựa chọn không khôn khéo. Một sự lựa chọn khéo léo đến từ sự hiểu biết .
Nếu bạn muốn được tự do, bạn phải mạnh mẽ. Bạn phải có  năng lực tinh thần hướng đến sự tự do. Sức mạnh tinh thần này chính là sự huân tập hai phẩm chất  biết (chánh niệm) và sự tập trung (định), đó là hai phẩm chất đặc biệt quan trọng cần cho mọi loại tình huống xảy ra cho cuộc sống chúng ta ngày hôm nay. Trong hai phẩm chất, chánh niệm thì quan trọng hơn. Bạn có thể trau dồi chánh niệm trong cuộc sống hàng ngày của bạn, bạn có thể đưa phẩm chất  biết này vào tâm. Tất cả những gì bạn cần phải làm là nhớ luôn có sự tỉnh giác và biết điều gì đang xảy ra trong hiện tại. Trong lúc này, bạn đang trải nghiệm những gì?    Bạn đang suy nghĩ gì 

Những gì gây trở cho việc thực hành chánh niệm này? Quên là chủ yếu, tâm chạy  theo nếp phản ứng và tạo tác một cách bản năng và máy móc. Đây là một lực vô cùng mạnh, nó không phải là thứ có thể khắc phục một cách dễ dàng. Việc này đòi hỏi rất nhiều sự trung thực. Nếu bạn muốn có sự tự do về mặt tinh thần, bạn sẽ phải đầu tư năng lượng và có sự quan tâm để làm việc đó. Bạn phải phấn đấu để thực sự nhận ra cái khả năng  đó bởi sự tỉnh giác ngay trong khoảnh khắc hiện tại, qua những gì bạn đang làm.

Đây là một số thí dụ minh họa cho những gì tôi muốn nói:

Ngay lúc này  trời đang nóng. Không phải là  nóng  quá đỗi, nhưng hãy tưởng tượng rằng thực sự rất nóng và bạn đang bắt đầu đổ mồ hôi và cảm thấy khó chịu. Điều gì sẽ xảy ra với bạn? Bạn có thể nói rằng cơ thể đang nóng và ra mồ hôi, vâng, nhưng điều gì khác sẽ xảy ra? Tâm bắt đầu phản ứng "Tôi không muốn điều này. Thật là khủng khiếp Tôi muốn ra khỏi đây. Hãy để tôi ra khỏi đây. Tại sao không có máy điều hòa không khí? Thật là hết thuốc chữa ... Tôi không biết, những Phật tử này, họ không thể tổ chức khóa tu tốt hơn được sao? Tại sao họ không gắnmột cái máy lạnh ở đây? " Tâm của bạn thực sự có thể đi xuống thị trấn. Trong khi đó tôi đang nói và tâm bạn thì là một nửa ở đây và một nửa ở kia, suy nghĩ, suy nghĩ, suy nghĩ, với sự bực bội , với sự chán ghét, với sự thiếu kham nhẫn, nhẫn nại...

Đó là những gì có thể xảy ra nhưng thường thì bạn không biết  nó đang xảy ra. Nói cách khác bạn đang ở trong nó, đồng hóa với nó, chết đuối trong nó, nhưng bạn không biết rằng bạn đang chết đuối trong đó. Đây là vấn đề đầu tiên, bạn không biết rằng bạn đang chết đuối. Đó là lý do tại sao bạn bị chết đuối thường xuyên - bởi vì bạn không biết bạn đang chết đuối. Cá ở trong nước, nhưng nó không có khái niệm gì về nước. Có phải đây là những gì đang xảy ra? Chúng ta đang trải nghiệm một trạng thái tinh thần bực bội, thiếu kiên nhẫn hoặc chán ghét, nhưng chúng ta không biết ... Thật  là đau khổ.

Nhưng sau đó một lúc bạn tỉnh ra: "Tôi thực sự thấy nóng ở dưới cổ áo - không chỉ thân nóng thôi đâu,  mà còn cái nóng do tức giận, mất kiên nhẫn và khó chịu."Sau đó là gì nữa? Thông thường, bạn lại tiếp tục rơi trở lại vào  trạng thái chết đuối. Điều gì xảy ra nếu bạn có thể duy trì sự hay biết đó với một thái độ khác? Tâm có cần phải ở trong các trạng thái tiêu cực đó không?  Nếu thân nóng bức tâm có cần phải nóng nảy, bực bội như vậy không?  Vậy hãy ngừng lại! Thân nóng, đổ mồ hôi – chúng ta gọi đây cảm thọ khó chịu, nhưng vẫn chịu đựng được mà. Hãy ngưng cái tiến  trình  tiêu cực đó trong tâm: Những suy nghĩ tiêu cực, sự khó chịu, bực bội và mất kiên nhẫn. Nếu bạn ngưng tiến trình đó, tâm sẽ trở nên an tịnh và yên lặng. Có thể có những khó chịu trong thân nhưng tâm thì vẫn thanh tịnh. 

Tâm thậm chí, nếu bạn muốn, có thể  điều chỉnh để phản ứng  theo một hướng khác: "Ồ,  thật là đáng yêu, những Phật tử  thật tử tế này đã tổ chức một  khóa tu như thế để  quán chiếu các đề tài quan trọng và sâu sắc này. Thật là tuyệt vời khi có những người tốt như vậy trong xã hội của chúng ta. "Bạn cảm nhận lòng tốt, tinh thần đoàn kế, lòng biết ơn; bạn thậm chí còn có thể được đưa từ địa ngục lên thiên đàng.

Hoặc bạn có thể dừng lại và để cho tâm trống rỗng, tỉnh táo và an tịnh. Một trạng thái tâm như vậy sẽ không tạo ra địa ngục hoặc thiên đường, nhưng nó tỉnh giác, nhạy cảm, và an tịnh. Nếu bạn có thể giữ trạng thái tâm đó khi quan sát một đối tượng thì bạn có thể áp dụng nó với mọi đối tượng khác. Bạn làm được bao nhiêu, nhiều ít tùy thuộc vào mức độ bạn huấn luyện tâm của bạn, tùy thuộc vào mức độ tỉnh giác, trí tuệ và định tâm mà bạn  huân tập được.
Kinh nghiệm đầu tiên của tôi về điều này là khi tôi đã  làm  một nhà sư đã được một năm rưỡi. Khi ấy tôi đang sống trong một tu viện ở đông bắc Thái Lan . Đó là một tu viện nhỏ chi nhánh của  tu viện chính nơi thầy  của tôi, người mà tôi yêu thương và kính trọng, đang sống. Tôi có sự tín nhiệm và niềm tin nơi vị thầy này,  nhưng tôi không đánh giá cao vị thầy tại  tu viện chi nhánh , và các vị sư ở đây  dường như chẳng  quan tâm gì đến việc hành thiền. Tôi cảm thấy bị bỏ rơi, và tôi thực sự chẳng thấy mình phù hợp với những gì đang diễn ra trong tu viện.  Nó giống như một trại lao động. Có rất nhiều công việc tay chân phải làm mà tâm tôi quyết liệt chống đối . Tôi không trở thành một nhà sư để mà lao động. Nếu tôi muốn trở thành một người lao động tôi chỉ có thể quay trở lại Úc và làm việc. Công việc lao động  không phải là những gì tôi thấy mình cần phải làm. Tuy nhiên, vì đây là một tu viện mới nên có rất nhiều việc phải làm - một thực tế mà tôi đã không thích.

Rồi thầy  của tôi đã đến thăm và tôi  quá đỗi vui mừng khi đến gặp người . Tôi nghĩ rằng tôi sẽ nhận được một số sự khuyến khích từ người. Nhưng khi thầy tôi vừa đến,  dân địa phương tới gặp ngài và tôi thậm chí không thể tới gần ngài. Ngài phải  nói chuyện với họ cũng là lẽ tự nhiên. Ngài nói và nói , giờ này sang giờ khác, và lúc đó chúng tôi  ngồi ở một nơi giống như một nhà hát ngoài trời, không có tường, chỉ có mái lợp bằng thiếc và sàn bằng ván  ghép lại.

Chúng tôi đang ngồi trên sàn bằng ván không được bằng phẳng. Thầy của tôi thuyết giảng vượt  qua thời gian dự kiến - cũng giống như tôi, thuyết giảng  và thuyết giảng cho các cư sĩ -  những người rất thích được nghe Pháp. Họ quá thích thú đến nỗi họ quên  mất các tu sĩ khác đang ngồi ở đó. Chúng tôi chỉ ăn một bữa mỗi ngày, vào buổi sáng khoảng 8 giờ. Hôm đó, chúng tôi thức dậy vào lúc 3 giờ sáng, và chúng tôi đã lên ngồi trên đó suốt cả ngày, vì vậy ngồi trên sàn bằng ván đến gần 10g tối thật là  khó chịu hết sức. Lại còn đám muỗi nữa. Muỗi  liên tục chích và bạn không được phép  giết chúng; bạn có thể phủi để chúng bay  đi nhưng bạn không được phép  giết chúng. Chúng tôi đói, mệt mỏi và buồn ngủ và tôi chỉ cảm thấy chán ngấy với toàn bộ mọi thứ.
Qua vài giờ, tâm của tôi trở nên hết sức tức giận , hết sức tiêu cực, hết sức thất vọng và hết sức đau khổ , với quá nhiều các  suy nghĩ rối bời về những gì tôi muốn - tôi muốn quay trở về và ngủ, tôi chán ngấy và đói ... "  Ít ra họ phải cho mình thứ gì đó để uống, nước giải khát hoặc một cái gì đó ...   đuổi những con  muỗi này đi ...  cái đau ở chân của mình... tại sao thầy phải nói chuyện lâu như vậy? ... những người này, tại sao họ không về nhà và để yên cho các nhà sư?" Tâm của tôi như vỡ ra.

Các nhà sư có bổn phận phải ngồi đó và không được thể hiện bất kỳ thái độ bất thiện nào, chỉ ngồi đó và chịu đựng. Bạn có thể mỉm cười, nhưng bạn không được phép  thể hiện bất kỳ sự tức giận nào . Bởi vì tất cả những điều đó đang diễn trong tâm không được thể hiện ra ngoài nên chúng sôi lên trong tôi.  Không có lối thoát , tôi bị mắc kẹt trong đó . Mọi sự  trở nên tồi tệ đến mức dường như muốn trào cả ra ngoài, bỗng  tâm  của tôi chợt bừng lên một sự nhận thức  sáng chói: "Chuyện gì đang xảy ra ở đây vậy? " Mọi việc chẳng qua là do tôi đã chết đuối trong một trạng thái tâm, không nhận thức những gì đã xảy ra. Tôi chỉ đơn giản là bị chết đuối, và sau đó là tiến tới một sự nhận thức rõ ràng: "Tôi đang chết đuối! Chuyện gì đang  gì xảy ra ở đây? Đây là một sự đau khổ".

Và rồi tôi  suy nghĩ , " Vâng, tại sao mình lại đau khổ quá như vậy? " Tôi nhìn  lại những gì đã diễn ra, cái tâm không ngừng lải nhải,  sự chán ghét: Không muốn cái này, muốn cái kia, mong muốn thoát ra khỏi tình huống, muốn đi ngủ, muốn ở một mình, muốn tránh xa những người này, cái  đau này , đám muỗi kia - tâm đã ở  trong tình trạng hỗn loạn như vậy đấy. Nhìn lại, tôi nhận rõ ra rằng, " Ồ, đây là khổ, đây là cách nó  được tạo ra , đây là cách tôi tạo ra địa ngục. Chuyện gì xảy ra nếu tôi  ngừng cái muốn và không muốn lại? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi  giữ im lặng và ngồi yên?”

Tôi đã trải qua những điều khác nhau mà tôi muốn: Tôi có thể làm mà không có chúng. Những điều mà tôi không muốn : Tôi có thể chịu đựng chúng, chúng  không phải là xấu. Bằng cách chấp nhận sự vật như chúng thực là, rằng tôi không thể thay đổi chúng, tôi dừng lại các phản ứng ám ảnh  tâm của tôi, những phản ứng đã tạo ra tất cả mọi thứ đau khổ.

Chỉ  bằng cách cho phép tâm lắng đọng,  quay về gần với trạng thái chơn nguyên của nó hơn, là đã có sự bình an. Trong tình huống đó,  không có gì thay đổi bên ngoài, nhưng bên trong,  kinh nghiệm là một sự thay đổi từ sự nóng nảy sang tươi mát. Cũng giống như một bước đi trong cái nóng hầm hập  vào giữa trưa  - 49 độ , thật là khủng khiếp - sau đó bạn đi vào bóng râm, vào thiền đường, không khí mát mẻ và yên bình. Đó chính là sự khác biệt xảy ra trong tâm .

Đây là một bài học rất quan trọng. Đây là những gì chúng ta cần phải học hỏi, trải nghiệm và sống trong suốt cuộc đời của chúng ta. Chúng ta có thể làm rất nhiều điều để thay đổi và cải thiện thế giới bên ngoài , nhưng chúng ta  không bao giờ có thể kiểm soát nó hoàn toàn. Chúng ta phải chịu trách nhiệm về tâm của chúng ta để được trở nên tự do, bằng không những kinh nghiệm của cuộc sống sẽ luôn luôn làm tâm trở nên rối rắm, phức tạp, tạo ra thiên đường và địa ngục. Chúng ta  tạo ra nó, vì vậy chúng ta có thể dừng nó lại. Tâm trí có sức mạnh để ở trong trạng thái tự do  nếu chúng ta phát triển được sự nhận thức này, sự hiểu biết về Chánh kiến, và biết được các giá trị nào là đúng. An bình và tự do là những gì quan trọng nhất.

Xin đừng nghĩ rằng bằng cách sống an bình bạn sẽ trở thành vô trách nhiệm và buông xuôi , để mặc cho mọi thứ ra sao thì sao. Ngược lại, khi tâm có sự an bình và trong sáng, khi tâm được tự do để đáp ứng, bạn sẽ ở trong tình trạng tốt nhất. Những gì bạn quyết định làm sẽ đến từ nơi an bình và trí tuệ đó. Nó sẽ cái tốt nhất của bạn, bạn sẽ đối phó với các tình huống một cách  trôi chảy, bạn sẽ làm những gì cần phải làm  và bạn sẽ làm điều đó một cách đúng đắn nhất.

Tôi đưa vấn đề  này ra để các bạn xem xét. Đây là một sự lựa chọn mà bạn có thể thấy  quan tâm. Nếu bạn có sự quan tâm, tôi khuyến khích bạn làm theo nó. Có một con đường và bạn có thể đi trên con đường đó. Có nhiều cách huấn luyện  và bạn có thể chọn sự huấn luyện đó. Có những thành quả của sự huấn luyện và mỗi con người có thể thực hiện được những thành quả này.


Theo: True Freedom

Chuyển ngữ: Supañña Thiện Trí