Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

Câu hỏi 18: Con đang rất đau khổ, bởi vì vợ chồng con bất hòa, mấy tháng trước mẹ con vừa mất thì đến nay bố con không muốn sống nữa, bố con kinh doanh tại nhà và có 1 khoản nợ ngân hàng khổng lồ, với tình hình làm ăn như thế này có thể con phải bán nhà để trả nợ. Cuộc sống đối với con hiện nay như địa ngục. Con phải làm sao?
Thiền sư Ottamasara: Rồi một ngày bạn sẽ mất tất cả mọi thứ: gia đình, nhà cửa, nghề nghiệp, vợ con, tài sản. Điều đó là Sự Thật không thể trốn thoát. Và điều đó chắc chắn sẽ xảy ra, không chỉ với bạn mà với tất cả mọi người. Điều này là hoàn toàn chắc chắn. Bạn cho rằng nỗi đau khổ của bạn xuất phát từ mọi người xung quanh, nhưng bản chất nỗi khổ ấy xuất phát từ việc bạn không có khả năng chấp nhận sự mất mát. Bạn càng có khả năng chấp nhận mất mát, càng có khả năng chấp nhận sự thật thì bạn sẽ càng bớt đau khổ. Đây cũng là sự thật nữa. Bạn không chấp nhận được mất mát là vì bạn nắm giữ, hiểu sai lầm rằng đó là nhà của bạn, cha mẹ, tài sản của bạn. Do có sự hiểu lầm đó nên bạn nắm giữ, điều khiển và không có khả năng chấp nhận sự thật là chúng sẽ mất.
Thật sự rằng cậu đã mất chúng ngay từ khi cậu bắt đầu “ có” chúng, vì hiểu là mình có chúng nên cậu mới mất chúng, còn hiểu được rằng chúng đến với cậu là do các điều kiện nhân duyên hội tụ thì khi không đủ điều kiện nữa nó sẽ ra đi, khi đó cậu sẽ chấp nhận được sự mất mát.
Khi kết hôn bạn cho rằng đó là vợ của mình và sở hữu được người vợ, nắm giữ được họ, khi có con bạn cũng cho rằng con của bạn và nắm giữ ý tưởng đó, cùng hiểu lầm ấy với tài sản, cha mẹ, nhà cửa, nghề nghiệp. Cho nên có thêm một vật gì, điều gì là bạn có thêm sự nắm giữ, và sự nắm giữ ấy nay trở thành thói quen của bạn. Bạn có thói quen nắm giữ chứ không có thói quen chấp nhận mất mát (chấp nhận sự thật). Từ trước tới nay bạn không mất mát nhiều nên khả năng chấp nhận mất mát rất yếu và sự nắm giữ rất mạnh mẽ, chúng được tích lũy cùng với nhau. Bạn cần xây dựng và ghi nhớ sự thật rằng mọi thứ có bản chất riêng, và bản chất tột cùng của chúng là chúng đang thay đổi và bạn sẽ phải mất chúng, hãy ghi nhớ và tạo cho mình khả năng chấp nhận điều đó. Khi bạn nghĩ rằng mình “có” bất cứ điều gì, hãy nhắc nhở và ghi nhớ sự thật đó, chúng không phải là của bạn và bạn không thể nắm giữ được chúng.
Hỏi tiếp: Con còn quá trẻ để mất tất cả những thứ đó, và mất cùng một lúc, nếu như mất từ từ và mất khi con đã già có khi con lại dễ chấp nhận hơn.  
Thiền sư Ottamasara: Với người không có khả năng chấp nhận mất mát thì không có gì để mất là điều tốt nhất cho anh ta, giả sử nếu mất gia đình, mất nhà, mất nghề nghiệp thì bạn sẽ ra sao? Nếu có được bài học lớn từ điều đó, có thể đó là cơ hội cho bạn xuất gia và trở thành tu sĩ không tài sản như tôi đây, có sao đâu (cười). Đó là bạn nghĩ vậy thôi, còn sự thật chưa chắc bạn đã mất tất cả những thứ đó. Bạn còn trẻ, còn sức khỏe nên còn rất nhiều thời gian cho bạn học hỏi và rút kinh nghiệm, những gì đang xảy ra là cơ hội rất tốt cho bạn, là điều rất mừng cho bạn để có thể đối diện, xây dựng tính chấp nhận mất mát cho tương lai. Nếu bạn đã lớn tuổi và bệnh tật, bạn vẫn có thể mất những thứ kể trên nhưng khi đó sẽ còn khó khăn hơn, khó chấp nhận hơn nữa. Nếu bạn mất mát từng thứ một thì khả năng chấp nhận mất mát sẽ rất nhỏ, đây là cơ hội để bạn xây dựng khả năng chấp nhận, mất mát lớn. Đến một ngày, bạn và tôi và tất cả đều sẽ mất cùng 1 lúc, khi đó bạn có đủ mạnh mẽ để chấp nhận rồi. Điều đó là cần thiết. Bây giờ bạn còn trẻ và không phải người trẻ nào cũng có cơ hội tốt như bạn để học hỏi.
Hỏi: Vậy những điều Ngài nói giúp ích gì cho con để giải quyết tình hình hiện nay?

Thiền sư Ottamasara: Bạn không thể điều khiển được tất cả mọi người, tất cả mọi hoàn cảnh, bạn không thể làm cho sự việc, con người, niềm vui tồn tại mãi mãi nhưng bạn có thể xây dựng được cho mình khả năng chấp nhận sự thay đổi ấy. Khi có được sự chấp nhận sự thật ấy, tâm lý bạn sẽ ổn định hơn, khi đó tự bạn sẽ biết cần làm gì để thay đổi con người, hoàn cảnh xung quanh. Khi bạn biết chấp nhận mất mát thì sẽ giúp cho gia đình, người thân cũng biết chấp nhận mất mát, và khi đó có tự do, sự hiểu biết trong tâm trí của mọi người thì gia đình bạn sẽ thay đổi.
(Cảm ơn Sư Cô Hương Thiền đã thông dịch)

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

Sự thật luôn làm bạn đau nhưng ai đó phải nói cho bạn biết. Cuộc sống của bạn do chính bạn tạo nên và người duy nhất có thể giúp bạn là chính bạn.
Nếu bạn sẵn sàng chịu trách nhiệm cá nhân và muốn cải thiện mình, xin mời bạn áp dụng 7 sự thật khó nghe này ngay hôm nay.
1. Không Ai Sửa Cho Bạn Ngoại Trừ Bạn
Nếu bạn đang chờ đợi một chàng hiệp sỹ trong bộ áo giáp bước vào cuộc đời bạn và chữa lành trái tim tan vỡ của bạn, thì hãy chờ đi nhé. Người duy nhất có thể giúp được bạn chính là bạn. Hạnh phúc khi ở bên cạnh những người khác, nhưng đừng quá phụ thuộc vào họ trừ khibạn muốn cảm xúc của mình giống như con tàu lượn siêu tốc lúc nào cũng vượt khỏi tầm kiểm soát của bạn. Bạn cô độc ư? Không, hãy loại bỏ suy nghĩ đó. Nhưng không ai sửa cho bạn, tốt nhất là chịu trách nhiệm về cuộc sống của chính bạn. Khi bạn làm điều đó, bạn sẽ khám phá ra mình mạnh mẽ hơn hẳn những gì bạn nghĩ mình có thể.
2. Cuộc Sống Không Bao Giờ Hoàn Hảo Cả
Nếu bạn đang đợi một thời điểm thích hợp để làm một điều gì đó – tự mở một công ty, bắt đầu kế hoạch luyện tập thể dục, tham gia hẹn hò, hay chuyển đến sống tại một thành phố mới – bạn bè phải đợi chờ mãi mãi. Không có gì gọi là “thời điểm đúng” để làm điều gì đó. Phản ứng này dựa trên sự sợ hãi thay đổi của bạn, đơn giản và dễ hiểu. Nếu bạn đợi chờ “thời gian hoàn hảo để hành động” (hay nói cho tôi biết, đã khi nào bạn từng trải qua một điều tương tự?), điều đó có nghĩa bạn không bao giờ thực sự hành động và đương đầu với nỗi sợ hãi. Hãy làm những điều bạn e sợ. Bạn sẽ rất vui vì mình đã làm nó.
3. Bạn Có Thể Thất Bại (Thất Bại Nhiều Lần)
Nếu bạn cố gắng để đạt được một mục tiêu mới đầy tham vọng, bạn có thể vấp ngã khi đang theo đuổi mục tiêu của mình. Hãy suy nghĩ thực tế! Đây là lúc bạn thay đổi suy nghĩ về thất bại. Nó không phải là một vấn đề lớn, hay xấu mà bạn sợ. Thất bại là một cơ hội để học hỏi và không có gì hơn. Nếu những người thành công từ bỏ theo đuổi mục tiêu của họ sau một vài lần thất bại đầu tiên khi họ cố gắng làm một điều gì mới, thì sẽ có khoảng 0 người thành công. Không có khái niệm “một phát trúng luôn” trong cuộc sống này. Bạn có biết tôi đã thất bại bao nhiêu lần không? Hơn 100 lần. Chỉ có một lý do tôi muốn thực hiện bất kỳ thứ gì vì tôi có niềm tin chắc chắn trong những tiến bộ liên tiếp. Nếu bạn thất bại với một điều gì đó, hãy cách ra một hay hai ngày, bởi vì trăn trở không làm cho vấn đề biến mất và sẽ làm cho nó tồi tệ hơn rất nhiều. Đọc một cuốn sách hay, gặp gỡ một vài người bạn cũ lâu ngày không gặp, hay đi bộ vãn cảnh thiên nhiên. Bạn sẽ xem xét vấn đề với một quan điểm lạc quan. Sau khi bạn đã làm được điều đó, tự hỏi bản thân: “Tại sao kế hoạch của bạn không đi vào hoạt động đúng và làm thế nào để làm tốt hơn vào lần sau” Quá trình này có thể lặp lại vài lần tùy thuộc vào tính chất của mục tiêu, nhưng nếu bạn cam kết chắc chắn cải thiện bản thân liên tục, bạn sẽ phát triển rất nhiều và sự lựa chọn duy nhất còn lại là thành công. Sự xoay sở đúng đắn luôn luôn chiến thắng.
4. Quá Khứ Đã Qua Đi
Bạn đã bao giờ mắc một sai lầm to lớn và bạn ước có thể đi ngược lại đúng thời điểm đó để làm lại tất cả chưa? Tất cả mọi người đều đã từng. Đó gọi là con người! Tôi biết bạn cảm thấy hối tiếc rất nhiều, nhưng dằn vặt bản thân cho những gì đã qua thật là vô ích. Hãy hướng sự quan tâm của bạn tới hiện tại, nơi bạn có thế khiến cuộc sống và hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.
5. Không Có Gì Đảm Bảo Cho Ngày Mai
Steve Jobs là người nói ra sự thật khó nghe nhất cho sự trì hoãn của bản thân ông ấy :
“Suy nghĩ rằng mình sắp chết là công cụ quan trọng nhất tôi đã từng gặp để giúp bản thân có sự lựa chọn tốt nhất trong cuộc sống. Bởi vì hầu như tất cả mọi thứ – tất cả những mong đợi từ bên ngoài, tất cả niềm tự hào, tất cả nỗi sợ hãi bị xấu hổ hay thất bại – đều sẽ biến mất khi đối mặt với cái chết, chỉ còn lại điều quan trọng thực sự.” Hãy sống ở hiện tại và hành động ngày hôm nay, bởi vì đó mới chính là nơi sự tiến bộ xảy ra.
6. Bạn Đang “Bận Rộn” Không Có Nghĩa Là Bạn Đang Hoàn Thành Một Điều Gì Đó
Nếu bạn đang khoe khoang rằng mình giỏi giang thế nào khi có thể đảm nhiệm được nhiều nhiệm vụ, thì hãy dừng lại ngay, bạn đang đùa cợt chính mình. Thay đổi nhiệm vụ mà không có lý do chính là lãng phí năng suất lao động, căng thẳng thêm, và có thể khiến bạn mắc sai lầm. Bạn có thể mất thời gian lâu hơn để hoàn thành2 nhiệm vụ chuyển đi chuyển lại hơn là làm từng việc riêng biệt. Nếu bạn muốn tiết kiện thời gian, thay vì làm nhiều việc cũng một lúc, cố gắng nhóm những nhiệm vụ giống nhau để làm cùng. Có một loạt những email cần phải gửi đi? Hãy làm chúng một lần. Bạn cần phải hoàn thành một bài luận? Hãy làm nó trước khi chuyển sang làm bất kỳ thứ gì khác. Những việc khác nhau yêu cầu tư duy khác nhau,nên hãy tập trung làm một việc tại một thời điểm. Vẻ“bận rộn”không nói lên rằng bạn làm điều gì đó hữu ích (nó có lẽ là bạn đang làm không tốt nhiều việc).
7. Bạn Có Nhiều Thời Gian Hơn Bạn Nghĩ
Bạn nên loại bỏ những cụm từ như, “Tôi không có thời gian”, khỏi từ vựng của bạn, bởi vì nó thực sự không đúng. Có 168 giờ mỗi tuần, hãy đầu tư thời gian. Đó thực dự là một thời gian tương đối dài. Bạn có thể đi đâu đó? Một người trung bình dành 4.09 giờ vào hoạt động giải trí mỗi ngày theo quan sát của Cục Thống Kê Lao Động. Phần lớn thời gian, khoảng 2.8 giờ mỗi ngày, là dành cho Ti-vi. Tôi không biết bạn thế nào nhưng tôi không nghĩ xem Ti-vi nhiều có thể giúp tôi tốt hơn. Bạn có thể dành thời gian để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật làm tăng giá trị cho thế giới, hay đọc sách giúp cải thiện cuộc sống của bạn, hay thay đổi từ ngữ thành “Nó không phải là việc được ưu tiên.” Không có thời gian tập thể dục? cơ thể khỏe khoắn không phải là ưu tiên. Không có thời gian cho việc chuẩn bị một bữa tối chất lượng tại nhà? Sức khỏe không phải là ưu tiên. Không có thời gian làm việc gì đó tốt đẹp cho tình yêu của bạn? Mỗi quan hệ của bạn không phải là ưu tiên. Có vẻ khó nghe, nhưng đó là sự thực. Bạn dành thời gian cho sự lựa chọn của mình như thế nào, hãy dành thời gian đó một cách khôn ngoan.
Hãy nói với chúng tôi
Tối biết sự thật thì dễ mất lòng. Nếu bạn muốn chịu trách nhiệm cho cá nhân mình và xây dựng một cuộc sống bạn hằng mơ ước, tôi đề nghị bạn hãy áp dụng 7 sự thực khó nghe này để cải thiện cuộc sống của bạn ngày hôm nay. Bây giờ tôi muốn biết bạn nghĩ gì: có phải là những gì tôi hy vọng về 7 sự thật sẽ giúp bạn cải thiện cuộc sống?

Trích cuỗn CHÁNH NIỆM, THỰC TẬP THIỀN QUÁN
Bạn nên cố gắng giữ chính niệm trong mọi việc làm và nhận thức của mình trọn ngày, bắt đầu với nhận thức đầu tiên khi bạn vừa mới thức dậy, và chấm dứt với tư tưởng cuối cùng trước khi bạn rơi vào giấc ngủ. Đây là một mục tiêu cực kỳ lớn lao. Bạn đừng mong rằng mình có thể nhanh chóng đạt được. Hãy tiến từng bước một, chậm rãi, và để cho khả năng của mình được tăng trưởng dần. Một cách hay nhất để thực hiện được việc này là chia cắt một ngày của ta ra thành nhiều phần nhỏ. Dành ra một khoảng thời gian nào đó, chỉ riêng cho việc duy trì chính niệm về tư thế của thân, rồi từ đó nới rộng vòng chính niệm ấy ra đến những sinh hoạt đơn giản khác, như là ăn uống, rửa chén, thay quần áo... Thỉnh thoảng trong ngày, bạn cũng có thể bỏ ra chừng mười lăm phút để thực tập quán sát, theo dõi những trạng thái tâm thức riêng biệt, như là những cảm thụ dễ chịu, khó chịu và trung hòa; hoặc những tâm thức chướng ngại hay tư tưởng của mình. Tùy bạn sắp xếp. Điều quan trọng là hãy thực tập ghi nhận những gì đang xảy ra và duy trì chính niệm cho thật trọn vẹn trong suốt một ngày.
Hãy cố gắng đạt đến một chương trình sinh hoạt thường ngày sao cho có thể giảm thiểu được tối đa sự khác biệt giữa khi ngồi thiền và những thời gian khác trong ngày. Hãy để cho cái này trôi chảy tự nhiên sang cái kia. Thân ta không bao giờ hoàn toàn dừng yên được. Lúc nào cũng có những sự di động để ta quán sát. Ít nhất cũng là sự chuyển động của hơi thở. Tâm ta cũng không bao giờ ngừng suy nghĩ, chỉ trừ trong những trạng thái định thật thâm sâu. Lúc nào cũng có chuyện khởi lên để ta theo dõi. Nếu bạn thực hành thiền quán nghiêm túc, sẽ không bao giờ bạn cảm thấy thiếu đối tượng để mình chú ý.
Sự thực tập của bạn phải có thể ứng dụng được vào trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Cuộc đời là một phòng thí nghiệm. Nó cung cấp những cơ hội thực hành và thử thách cần thiết, giúp cho sự thực tập của ta được sâu sắc và chân thật. Nó là lò lửa đỏ tôi luyện, thanh lọc hết những lỗi lầm và giả dối trong sự thực tập. Nó là một sự thử nghiệm axít, cho ta thấy rõ khi nào mình thật sự có tiến bộ, và khi nào ta chỉ tự dối mình. Nếu công phu thiền tập của bạn không giúp bạn đối phó được với những khó khăn và xung đột trong đời sống hằng ngày thì nó còn rất là nông cạn. Nếu những phản ứng cảm xúc của bạn không được rõ ràng hơn, dễ chế ngự hơn, thì bạn chỉ đang hoang phí thì giờ của mình mà thôi. Và bạn sẽ không bao giờ biết được trình độ của mình đang ở mức nào, cho đến khi bạn thật sự dám chịu những thử nghiệm này.
Duy trì chính niệm là một phương pháp thực tập mở rộng, lúc nào cũng có mặt. Ta không thể nào thực tập trong một lúc này và rồi không thực tập trong những lúc khác. Lúc nào ta cũng thực hành cả. Thiền tập mà chỉ thành công khi bạn ngồi yên trong tháp ngà yên tĩnh sẽ là thứ thiền tập còn rất non nớt. Thiền quán là sự thực tập chính niệm trong từng giây, từng phút. Hành giả học cách nhận diện đơn thuần những tính chất sinh, trụ, hoại, diệt của mọi hiện tượng trong tâm. Chính niệm không từ chối cái nào và cũng không bỏ sót một cái nào. Nó gồm có tư tưởng, cảm thụ, hành động và sự ham muốn, đầy đủ tất cả. Chính niệm quán sát hết tất cả và theo dõi liên tục. Nó không phân biệt và không cần biết đó là đẹp đẽ hay xấu xa, cao thượng hay đáng hổ thẹn. Nó nhìn sự vật như đang thực sự hiện hữu với những biến đổi của chúng. Không có một khía cạnh nào của kinh nghiệm lại bị bỏ sót hoặc tránh né. Nó là một tiến trình hết sức chu toàn.
Giữa những sinh hoạt hằng ngày, nếu khi nào bạn cảm thấy có một sự nhàm chán, hãy quán chiếu sự nhàm chán ấy. Thử tìm xem nó có cảm giác như thế nào, hoạt động như thế nào, cơ cấu của nó là gồm những gì. Nếu bạn nổi giận, hãy quán chiếu cơn giận ấy. Khảo sát về cơ chế, cấu trúc của cái giận. Đừng bỏ chạy. Nếu bạn thấy mình đang bị bóng tối của sự tuyệt vọng vây hãm, hãy quán chiếu nỗi tuyệt vọng ấy. Quán sát sự tuyệt vọng đó một cách tò mò và thật khách quan. Đừng nhắm mắt mù quáng bỏ chạy. Hãy thử khám phá và vẽ rõ lại đường đi nước bước trong cái mê đồ ấy. Nhờ đó, bạn sẽ có thể đối phó dễ dàng hơn với cơn tuyệt vọng lần tới, nếu nó lại đến.
Thực tập thiền quán giữa những thăng trầm của cuộc sống hằng ngày là điểm chính yếu của pháp môn vipassana. Sự thực tập này rất gian nan và nhiều đòi hỏi. Nhưng nó sẽ mang lại cho ta một trạng thái tâm thức linh động vô song. Một thiền giả bao giờ cũng giữ cho tâm mình rộng mở trong từng giây phút. Họ luôn luôn khảo sát sự sống, khám xét kinh nghiệm của chính mình, quán sát hiện hữu một cách chăm chú và khách quan. Nhờ vậy mà lúc nào họ cũng sẵn sàng mở rộng để tiếp nhận sự thật, dưới bất cứ hình thức nào, từ bất cứ nơi nào và vào bất cứ khi nào. Đó là một tâm thức rất cần thiết cho sự giác ngộ.
Kinh nghiệm của những người đi trước cho thấy rằng sự giác ngộ có thể đạt đến bất cứ lúc nào, nếu tâm ta sẵn sàng và tĩnh lặng. Những việc tầm thường nhất cũng có thể đủ để khơi dậy sự giác ngộ: ánh trăng qua cửa sổ, tiếng chim kêu, tiếng gió xuyên qua những hàng cây... Những gì ta nhận thức không quan trọng bằng cách ta nhận thức. Trạng thái rộng mở và sẵn sàng ấy vô cùng quan trọng. Nó có thể xảy đến cho bạn ngay trong lúc này nếu bạn sẵn sàng. Cảm giác xúc chạm của ngón tay bạn trên quyển sách này có thể khơi dậy điều ấy. Âm thanh của những chữ này trong đầu bạn cũng có thể là đủ. Bạn có thể đạt được sự giác ngộ ngay trong giây phút này, nếu bạn sẵn sàng.

Trích: CHÍNH NIỆM - THỰC TẬP THIỀN QUÁN
Thiền là một danh từ. Chắc bạn cũng đã nghe nói về nó rồi, nếu không thì có lẽ bạn đã không cầm đến quyển sách này. Chữ "thiền” ngày nay đã được dùng trong đủ mọi lĩnh vực, và nói lên nhiều quan niệm khác nhau. Có những cái đúng, và cũng có những cái hoàn toàn không đúng. Có những quan niệm có thể đúng đối với những hệ thống thiền tập khác, nhưng chúng không liên quan gì đến phương pháp thiền quán vipassana. Trước khi bắt đầu, tôi nghĩ là chúng ta nên gạn lọc hết những ý niệm sai lầm về thiền quán ra khỏi đầu, để có thể tiếp nhận những cái mới. Và bây giờ, chúng ta hãy bắt đầu với những sai lầm rõ rệt nhất.
Tôi sẽ không dạy bạn ngồi suy tưởng về cái bụng của mình hay tụng những âm thanh bí mật nào đó. Bạn cũng không cần phải hàng phục ác quỷ hay là kiểm soát những
13
năng lượng vô hình. Bạn không cần phải đeo đai màu, cũng không cần phải cạo đầu hay
quấn tóc. Bạn không cần cho hết tài sản của mình và đi vào sống trong một tu viện. Thật ra, bạn có thể bắt đầu ngay từ bây giờ để cải thiện cuộc sống của mình, trừ khi là bạn đang sống một cuộc sống bất lương hoặc quá nhiều biến động. Nghe ra thật khích lệ đối với hầu hết mọi người, bạn có thấy vậy không?
Có rất nhiều sách viết về thiền. Đa số được trình bày theo một quan điểm hoàn toàn thuộc về một tôn giáo, hoặc một truyền thống đặc biệt nào đó. Nhưng nhiều khi tác giả không nói rõ cho đọc giả biết điều ấy. Họ có những lời tuyên bố về thiền như đó là một sự thật chung cho tất cả mọi phương pháp thiền, trong khi thật ra nó chỉ là những tính chất
riêng, theo truyền thống đặc biệt của họ mà thôi. Và nhiều khi những lý thuyết, những lời giải thích ấy lại rất mâu thuẫn với nhau. Kết quả là một sự hỗn loạn và lầm lẫn lớn: có trăm ý kiến trái ngược được hỗ trợ bởi ngàn dữ kiện khác nhau.
Quyển sách này rất là riêng biệt. Chúng tôi chỉ trình bày duy nhất phương pháp thiền quán vipassana mà thôi. Tôi sẽ hướng dẫn cho bạn phương cách nhìn, theo dõi những hoạt động của tâm ý mình, một cách khách quan và tĩnh lặng, để ta có thể có tuệ giác về những hành động của chính mình. Mục đích của ta là phát triển chính niệm, một ý thức mãnh liệt, sáng tỏ và tinh tế, giúp ta có thể thấy được thẩm thấu tự tính của mọi hiện tượng.
Tôi thấy có một số quan niệm sai lầm chung về thiền. Những vấn đề này thường xuyên được nêu lên bởi các thiền sinh mới. Vì chúng là những quan niệm sai lầm, nên có thể có ảnh hưởng đến sự thực tập của ta. Tôi nghĩ, chúng ta cần nên mang những sự hiểu lầm ấy ra từng cái một, và hóa giải chúng:
1. Thiền chỉ là một phương pháp nghỉ ngơi?
Sai lầm trong quan điểm này nằm ở chữ "chỉ là”. Nghỉ ngơi là một phần chính yếu của thiền tập, nhưng trong thiền quán vipassana, chúng ta còn nhắm đến một mục tiêu khác cao thượng hơn. Câu ấy có thể đúng với một số phương pháp thiền tập khác. Tất cả những pháp môn thiền đều nhấn mạnh đến việc tập trung tư tưởng, đem tâm ý về một đề mục, một điểm duy nhất.
Khi ta có thể thực hiện được việc ấy một cách thuần thục, ta sẽ đạt đến một trạng thái hỷ lạc và an nghỉ, gọi là Jhana, hay là các tầng định. Trong trạng thái tĩnh lặng ấy, ta sẽ cảm nhận được một sự hỷ lạc rất lớn, một cảm giác hạnh phúc sâu sắc mà ta không thể nào kinh nghiệm được với một tâm thức bình thường. Và đa số những pháp môn thiền đều dừng lại ở chỗ này. Jhana, hay các tầng định, là mục tiêu của họ. Và khi ta đã đạt được nó rồi thì sự tu tập của ta là cứ tiếp tục lặp lại những kinh nghiệm ấy suốt đời mình.
Nhưng thiền quán vipassana thì khác, vì nó hướng đến một mục tiêu khác: sự tỉnh giác. Sự tập trung và nghỉ ngơi chỉ là những yếu tố đi kèm theo sự tỉnh giác mà thôi. Chúng là những yếu tố quan trọng đi trước, những công cụ cần thiết và là những phó sản kỳ diệu. Nhưng chúng không phải là mục tiêu chính. Mục tiêu chính là tuệ giác. Thiền quán là một pháp môn tu tập nhiệm mầu, nhắm đến một mục tiêu duy nhất là làm thanh tịnh và chuyển hóa cuộc sống hằng ngày của ta. Trong một chương sau, chúng ta sẽ có dịp nói sâu hơn về sự khác biệt giữa thiền định (concentration) và thiền quán (insight).
2. Thiền là đi vào một trạng thái xuất thần?
Cũng vậy, quan điểm này có thể đúng với một pháp môn thiền tập đặc biệt nào khác, nhưng nó không phải là thiền quán. Thiền quán không phải là một hình thức thôi miên. Chúng ta không bao giờ cố gắng khóa kín tâm thức mình lại để không còn biết gì cả, hoặc biến ta trở thành một thứ cỏ cây, gỗ đá vô tri giác. Ngược lại, thiền quán sẽ giúp ta trở thành bén nhạy hơn, hòa điệu hơn với những biến đổi trong tình cảm của mình. Chúng ta sẽ hiểu được mình một cách rõ rệt hơn và chính xác hơn.
Trong sự thực tập, sẽ có những lúc có những trạng thái mà đối với người đứng ngoài có vẻ như là hành giả đang xuất thần. Nhưng sự thật hoàn toàn ngược lại. Trong trạng thái xuất thần của thôi miên, hành giả hoàn toàn bị kiểm soát bởi người bên ngoài; còn trong trạng thái định, hành giả hoàn toàn giữ được sự tự chủ. Cả hai chỉ giống nhau ở vẻ ngoài mà thôi. Nhưng dầu sao đi nữa thì những trạng thái này vẫn không bao giờ là mục tiêu của thiền quán. Như ta đã nói, các tầng định này chỉ là những phương tiện, những bước chuyển tiếp trên con đường đi đến tuệ giác cao hơn mà thôi. Vipassana, thiền quán, tự nó có nghĩa là một sự đào luyện chính niệm và tuệ giác. Vì vậy, nếu như trong khi ngồi thiền mà bạn cảm thấy mình trở nên không còn hay biết gì nữa, thì lúc đó bạn không không phải là ngồi thiền theo ý nghĩa của vipassana.
3. Thiền là huyền bí không thể hiểu được?
Điều ấy cũng là gần đúng, nhưng chưa đúng. Thiền có liên quan đến những mức độ tâm thức sâu kín hơn những tư tưởng bình thường của ta. Vì vậy, có một số kinh nghiệm trong thiền tập chúng ta không thể nào giải thích bằng lời được. Nhưng điều ấy không có nghĩa rằng thiền là một cái gì đó huyền bí không thể hiểu được.
Có nhiều cách để ta hiểu sâu sắc một vấn đề gì đó mà không cần dùng đến ngôn ngữ. Bạn hiểu được đi bộ là như thế nào, phải không? Nhưng có thể bạn không giải thích được những sợi thần kinh và những bắp thịt của ta hoạt động chung với nhau như thế nào. Nhưng bạn biết cách thực hành. Thiền tập cũng cần được hiểu theo cách đó - bằng sự thực hành. Ta không thể hiểu thiền qua những lý thuyết trừu tượng, hoặc chỉ bàn luận suông. Ta phải trải nghiệm được nó. Thiền không phải là một công thức máy móc, lúc nào cũng đem lại những kết quả tự động và có thể đoán trước được. Trong giờ thiền tập, ta sẽ không bao giờ có thể đoán chính xác được việc gì sẽ xảy ra. Mỗi lần thiền tập là một tiến trình khám phá, một cuộc thí nghiệm và là một chuyến phiêu lưu. Thật ra, nếu như sự thực tập của bạn
15
đi đến một giai đoạn mà bạn có thể đoán trước được điều sẽ xảy ra, tất cả đều lặp lại
giống như nhau, thì đó là dấu hiệu bạn đã đi sai đường và sự tu tập đang bị đình trệ. Học nhìn mỗi giây phút này như là một giây phút đầu tiên và duy nhất trong cuộc đời mình, đó chính là tinh hoa của thiền quán.
4. Mục đích của thiền là đạt thần thông?
Không phải vậy! Mục đích của thiền là để phát triển sự tỉnh giác. Biết được tương lai hoặc đọc được ý nghĩ của kẻ khác không phải là mục đích của thiền. Bay bổng khỏi mặt đất không phải là mục đích của thiền. Mục tiêu của thiền là giải thoát. Có một sự liên hệ giữa những hiện tượng phi thường với thiền tập, nhưng sự liên hệ ấy rất phức tạp. Trong những giai đoạn đầu của thiền tập, những hiện tượng này có thể xảy ra hoặc không xảy ra. Có người kinh nghiệm được những trực giác khác thường, hoặc nhớ lại quá khứ trong một tiền kiếp nào đó; và cũng có người không thấy gì hết. Thật ra, những hiện tượng này không nên được coi như là một khả năng siêu phàm, đáng tin cậy, hoặc sự chứng nhận cho trình độ tu tập của mình. Chúng ta đừng bao giờ dành cho chúng một sự quan tâm quá đáng.
Thật ra, những loại hiện tượng ấy rất nguy hiểm đối với những thiền sinh mới, vì chúng rất cám dỗ. Chúng có thể là những cái bẫy của tự ngã, lừa gạt chúng ta đi lạc hướng. Cách hay nhất là đừng bao giờ xem những điều đó là quan trọng. Chúng có xảy ra hay không cũng không thành vấn đề. Sẽ có một giai đoạn trên con đường tu tập, hành giả có thể cần phải thực hành để phát triển một số quyền năng nào đó. Nhưng việc đó còn lâu lắm mới xảy ra. Chỉ khi nào hành giả đã đạt đến một tầng định, jhana, rất cao, họ mới có thể tiếp xúc được với những năng lượng này mà không sợ nguy hiểm, không sợ bị chúng kiểm soát và chiếm hữu luôn đời mình.
Những quyền năng ấy bao giờ cũng chỉ được dùng để phục vụ và giúp đỡ kẻ khác mà thôi. Thường thường thì giai đoạn này chỉ đến đối với những hành giả nào đã có hàng chục năm tu tập tinh chuyên. Bạn đừng lo lắng gì hết! Chỉ nên cố gắng thực tập phát triển chính niệm cho mỗi ngày một thêm vững mạnh. Giả sử như có hình ảnh hoặc âm thanh nào lạ hiện lên, bạn chỉ cần ghi nhận chúng rồi buông bỏ đi. Đừng vướng mắc vào chúng.
5. Thiền rất nguy hiểm và nên tránh xa?
Tất cả mọi việc đều nguy hiểm. Khi băng qua đường bạn có thể bị xe đụng. Khi vào buồng tắm bạn có thể trượt chân té gãy xương. Khi ngồi thiền bạn có thể khơi lên những vấn đề xấu xa hoặc rắc rối trong quá khứ của mình. Những điều đã được chôn vùi sâu kín qua biết bao năm tháng ấy, chúng có thể rất đáng sợ. Nhưng khám phá và tìm hiểu chúng sẽ mang lại cho ta những lợi ích rất lớn. Không có một hành động nào mà không kèm theo những sự may rủi, nhưng điều ấy không có nghĩa là ta nên nằm yên co rút trong cái tổ kén của mình! Đó không phải là sống mà là một cái chết khi đang sống. Phương cách để ta đối diện với những nguy hiểm là ý thức được cường độ của nó, biết nó nằm ở đâu, và biết cách đối phó
16
mỗi khi nó khởi lên. Và đó cũng chính là mục đích của quyển sách thực hành này.
Thiền quán, vipassana, là sự phát triển của chính niệm và tỉnh giác. Không có gì là nguy hiểm trong sự thực tập ấy. Ngược lại, chính niệm còn là một sự che chở, bảo vệ ta tránh khỏi những hiểm nguy. Nếu ta thực hành đúng, thiền tập là một tiến trình rất từ tốn và nhẹ nhàng. Cứ thực hành thong thả, sự tiến triển và chuyển hóa sẽ xảy ra một cách rất tự nhiên. Không nên thúc bách bất cứ điều gì. Và sau này, khi bạn đã sẵn sàng, dưới sự hướng dẫn và tuệ giác của một vị thầy có khả năng, bạn có thể gia tăng tốc độ tiến triển của mình bằng cách tham dự những khóa thiền nghiêm túc nhiều ngày hơn. Nhưng trong giai đoạn đầu, bạn hãy thực hành cho thoải mái. Từ tốn mà thực tập, mọi việc sẽ tốt đẹp.
6. Thiền chỉ dành riêng cho các bậc thánh?
Thái độ này thường thấy rất nhiều ở các nước châu Á, trong những nền văn hóa mà các vị sư, tu sĩ rất được tôn thờ và kính nể. Điều này cũng giống như thái độ của người phương Tây đối với những thần tượng ca sĩ, tài tử, và những anh hùng thể thao của họ vậy. Những nhân vật ấy được thiên hạ đóng khung, đặt lên trên thật cao để chiêm ngưỡng, và rồi họ được gán cho những cá tính mà ít có một người nào có thể sống đúng theo được. Và chúng ta cũng có những thái độ tương tự đối với thiền tập. Chúng ta cho rằng thiền giả là một nhân vật rất tôn kính, nơi họ ngồi một chiếc lá cũng không dám rơi. Nhưng chỉ cần tiếp xúc với họ trong vài giây phút là những ảo vọng của ta sẽ tự động tan vỡ hết. Thật ra họ chỉ là những người biết tinh tiến, có một sự ham thích mãnh liệt, sống đời mình với
một nghị lực lớn.
Lẽ dĩ nhiên là đa số những bậc thánh nhân, đạo sư đều có hành thiền, nhưng không phải họ hành thiền bởi vì họ là thánh nhân. Mà ngược lại, họ là thánh nhân bởi vì họ hành thiền; nhờ thiền tập mà họ trở thành thánh nhân. Họ bắt đầu tập thiền trước khi trở thành một thánh nhân, nếu không họ đã không thể nào thánh thiện được! Đó là điểm quan trọng. Có một số thiền sinh quan niệm rằng trước tiên cần phải hoàn toàn trong sạch và có đạo đức rồi mới có thể học thiền. Nhưng việc đó không bao giờ có thể xảy ra. Vì vấn đề đạo đức đòi hỏi ta phải có khả năng kiểm soát được tâm ý mình đến một mức độ nào đó. Ta không thể nào tuân theo giới luật được nếu ta không có một chút gì tự chủ. Mà nếu tâm ta cứ chạy vòng quanh, bất an mãi, thì đâu thể gọi là có tự chủ được? Điều trước tiên chúng ta cần phải có là một số vốn liếng tâm linh.
Thiền tập trong đạo Phật gồm có ba yếu tố chính là giới, định và tuệ. Ba yếu tố ấy cùng phát triển với nhau khi sự tu tập của ta mỗi ngày được thâm sâu hơn. Yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hai yếu tố kia, vì vậy lúc nào chúng ta cũng trau giồi cả ba cùng lúc chứ không riêng rẽ.
Khi bạn có tuệ giác để thấy rõ được vấn đề, tự nhiên bạn sẽ có tình thương đối với tất cả những người đang bị kẹt trong hoàn cảnh ấy, và tâm từ tự nhiên thúc đẩy bạn kiềm chế tư tưởng, lời nói và hành động của mình, không làm những gì có thể gây thêm khổ đau cho mình và kẻ khác. Vì vậy, hành động của bạn tự nhiên sẽ có đạo đức. Chỉ khi nào không hiểu biết ta mới gây ra vấn đề. Khi ta không nhìn thấy được hậu quả chuyện mình làm, ta sẽ hành xử rất dại dột. Nếu ta cứ chờ cho mình thật trong sạch, thật đạo đức rồi mới bắt đầu học thiền, thì ta sẽ phải chờ suốt đời, vì chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra! Người xưa nói việc ấy cũng giống như một người đứng chờ cho biển lặng, sóng yên rồi mới xuống tắm.
Để hiểu hơn về mối liên hệ này, chúng ta hãy ý thức rằng vấn đề đạo đức, hay
giới luật có những cấp bậc khác nhau. Trình độ thấp nhất là tuân hành theo những quy tắc, điều luật do một người nào đó đặt ra. Người ấy có thể là vị giáo chủ của bạn, và cũng có thể là người có quyền hạn, vị tộc trưởng, hoặc cha mẹ... Không cần biết người đặt ra là ai, ở cấp bậc này thì chúng ta chỉ cần nhớ và làm đúng theo luật lệ là đủ. Một người máy cũng làm được chuyện đó. Một con khỉ được huấn luyện cũng có thể làm được, nếu những điều luật tương đối đơn giản, và thỉnh thoảng ta cứ đánh nó vài roi mỗi khi nó phạm luật. Ở trình độ này thì chúng ta không cần gì đến thiền tập. Chúng ta chỉ cần những điều luật rõ rệt và có người cầm roi đứng kế bên là đủ.
Một trình độ giới luật cao hơn là ta vẫn tuân theo bấy nhiêu đó quy luật, cho dù không có ai đứng kế bên để phạt. Ta giữ giới luật vì chúng đã thâm nhập vào mình. Ta tự phạt lấy, mỗi khi ta phạm một giới gì. Ở trình độ này thì nó đòi hỏi ta cần phải có một chút tập luyện tâm ý nào đó. Vì khi tư tưởng ta bất an thì hành động của ta cũng sẽ bị bấn loạn theo. Tập luyện tâm ý sẽ giúp ta được an ổn hơn.
Và một trình độ cao nhất của giới luật, cấp bậc thứ ba, mà ta có thể gọi là "đạo đức”. Trình độ này là một bước nhảy vọt rất xa so với hai trình độ vừa kể, nó là một cái nhìn hoàn toàn khác biệt. Ở trình độ của đạo đức thì một người không nhất thiết cần phải cứng ngắt tuân theo những luật lệ đã được đặt ra, bởi bất cứ một uy quyền nào. Người ấy chỉ chọn tuân theo con đường được hướng dẫn bởi chính niệm, tuệ giác và từ bi. Trình độ này đòi hỏi ta phải có một trí thông minh, một khả năng nhận xét, thấy được hết tất cả những yếu tố trong mọi hoàn cảnh, và lúc nào cũng đi đến những phản ứng sáng suốt. Và hơn nữa, ta phải có khả năng bước ra ngoài cái tầm nhìn nhỏ bé của mình. Ta phải thấy được hoàn cảnh dưới một ánh mắt khách quan, xem những nhu cầu của người khác cũng quan trọng như của chính mình. Nói một cách khác, ta phải thoát ra được khỏi sự kiềm chế của tham lam, sân hận và ganh tỵ, và mọi thứ ích kỷ, nhỏ nhen khác của riêng mình, để còn nhìn thấy được những vấn đề của người kia. Chỉ chừng ấy, ta mới thể thật sự chọn lựa được
những hành động nào là thích ứng cho hoàn cảnh đang có mặt. Và trình độ này, chắc chắn đòi hỏi ta cần phải có một sự thực tập thiền quán, trừ khi sinh ra ta đã là một vị thánh. Ngoài
18
ra, không còn có một phương cách nào khác hơn nữa. Tiến trình này đòi hỏi ta cần có một khả năng phân lọc rất lớn, ta phải biết phân tách và chọn lọc những gì đang xảy ra trong mọi hoàn cảnh. Nhưng tâm thức bình thường của ta không thể nào làm hết được những việc ấy. Nếu như tâm trí của ta cứ phải phân tách, suy xét hết tất cả những gì đang xảy ra, thì chắc chúng ta sẽ không còn thì giờ để làm gì khác được nữa hết. Cũng như một người làm trò múa rối không thiện nghệ, ta không thể nào thảy bấy nhiêu những trái banh và giữ chúng trên không trung cùng một lúc được. Nhưng may mắn thay, ở một mức độ tâm thức thâm sâu hơn, ta có thể làm được việc đó. Thiền quán có thể giúp ta thực hiện được tiến trình phân tách và chọn lọc ấy. Đó là một chuyện hơi lạ, nhưng sự thật là vậy.
Có một ngày kia bạn gặp một vấn đề - ví dụ như là chú Ba sắp sửa ly dị. Hoàn cảnh của chú Ba dường như không còn có lối thoát, dẫu như Trạng Trình tái sinh có muốn giúp cũng không thể có lời khuyên gì được. Ngày hôm sau, trong khi bạn đang đứng rửa chén, và trong đầu đang suy nghĩ về một chuyện đâu đâu nào đó, tự nhiên có một giải pháp lại hiện ra rất rõ ràng. Từ đâu đó sâu xa trong tâm thức, câu trả lời khởi lên và mọi khó khăn đều được giải quyết. Những sự kiện trực giác này chỉ xảy ra khi nào bạn biết tạm gác qua
một bên những suy luận, tính toán bình thường của mình, và để cho phần sâu hơn của tâm thức có cơ hội để ôm ấp vấn đề. Nhiều khi, cái đầu óc suy luận hằng ngày của ta có thể là một chướng ngại. Thiền tập dạy cho ta một phương cách để tự tháo gỡ mình ra khỏi cái tiến trình suy nghĩ ấy. Nó là một nghệ thuật tự tránh qua một bên, để cho chính mình có thể bước tới. Đó là một nghệ thuật rất có ích lợi trong cuộc sống hằng ngày.
Thiền tập không bao giờ là một pháp môn đặc biệt chỉ dành riêng cho những nhà ẩn sĩ, những nhà tu khổ hạnh. Nó là một pháp môn có liên hệ trực tiếp đến những vấn đề trong đời sống hằng ngày, và có thể áp dụng ngay vào cuộc sống của chính chúng ta. Thiền không phải là để dành riêng cho một "thế giới khác”.
Nhưng không may là sự thật này có thể làm cho một số thiền sinh bị thất vọng. Họ bước chân vào thiền với hy vọng sẽ có được những khám phá lớn lao và tức thì, cùng với tiếng thiên thần ca hát vang trời. Nhưng cái mà họ học được là một phương cách làm sao để mang rác ra trước nhà được hữu hiệu hơn, làm sao để giúp chú Ba được nhiều kết quả tốt đẹp hơn... Nhưng thật ra họ cũng đừng nên vội thất vọng. Vấn đề đem rác ra thì bao giờ cũng cần được giải quyết trước tiên, tiếng ca hát của thiên thần thì phải mất thời gian lâu hơn một chút.
7. Thiền tập là sự trốn tránh thực tại?
Hoàn toàn sai! Thiền tập có nghĩa là đi tìm thực tại. Thiền tập không tách rời chúng ta với những nỗi đau của cuộc đời. Ngược lại, nó giúp ta tiếp xúc sâu sắc với mọi khía cạnh của sự sống, giúp ta có thể đi xuyên qua những bức tường khổ đau và vượt thoát ra ngoài. Thiền quán là một phương pháp có mục đích duy nhất là tiếp xúc với thực tại, trải nghiệm cuộc sống đúng thật như nó đang hiện hữu, và ứng xử một cách chính xác với những gì ta thấy. Thiền tập giúp ta phá tan đi những ảo tưởng, thoát ra những điều giả tạo, những lời dối trá hay đẹp mà ta thường dùng với chính mình. Cái gì có mặt thì đang có mặt. Bản thân ta ra sao thì sẽ là như vậy. Khi ta tự dối mình về những yếu đuối, về những động lực thúc đẩy của mình là ta chỉ tự trói buộc vào chúng chặt hơn mà thôi. Thiền quán không phải là một cách để tự quên mình và che giấu đi những vấn đề của ta. Thiền quán là học cách tự nhìn lại cho thật chính xác, thấy được những gì đang thật sự có mặt và chấp nhận chúng. Và chỉ từ đó ta mới có thể chuyển hóa được chúng mà thôi.
8. Thiền tập là một cách đạt đến khoái cảm?
Quan điểm này có phần đúng nhưng cũng có phần sai. Thiền tập đôi khi có mang lại cho ta một cảm giác lâng lâng, thích thú. Nhưng đó không phải là mục đích của thiền, và cũng không phải lúc nào nó cũng xảy ra. Hơn nữa, nếu bạn ngồi thiền với mục đích để có được những khoái cảm ấy, nó sẽ lại càng ít khi nào xảy ra, hơn là những khi bạn chỉ ngồi thiền với một mục đích phát triển chính niệm. Cảm giác hỷ lạc phát sinh từ một sự nghỉ ngơi, và sự nghỉ ngơi là kết quả của sự buông thư hết những căng thẳng trong ta. Nếu như trong thiền tập, ta cố gắng tìm kiếm một cảm giác hỷ lạc, tức là ta đã tạo nên một sự căng thẳng trong ta, và lẽ dĩ nhiên lúc ấy ta sẽ không thể nào buông thư được. Nó ngộ như vậy, ta chỉ có thể có được sự hỷ lạc nếu ta không tìm kiếm và đeo đuổi nó. Vừa đưa tay nắm bắt là nó sẽ biến mất ngay. Nhưng bạn nên nhớ rằng sự khoái lạc không phải là mục tiêu của thiền tập. Nó sẽ khởi lên rất thường, nhưng ta nên nhớ chúng chỉ là những ảnh hưởng phụ thuộc mà thôi. Dù sao thì đây cũng là một hiệu ứng phụ rất dễ chịu, và khi ta càng thiền tập lâu ngày bao nhiêu, chúng sẽ lại càng xảy ra thường xuyên hơn bấy nhiêu. Tôi tin rằng bạn sẽ không bao giờ nghe một thiền giả nhiều kinh nghiệm nào mà lại không đồng ý việc này.
9. Thiền là ích kỷ?
Có lẽ nhìn bề ngoài thì người khác thấy là như vậy. Một thiền sinh nhắm mắt ngồi yên trên tọa cụ. Có phải anh hay chị ta đang cho máu chăng? Không phải! Thế thì anh hay chị đó đang giúp các nạn nhân bị thiên tai chăng? Cũng không phải! Ta hãy thử tìm hiểu xem động cơ nào thúc đẩy một thiền sinh ngồi yên đó. Mục đích của một thiền sinh là làm sao để loại được những sân hận, thành kiến và ghét bỏ ra khỏi tâm ý của mình, cũng như những tham lam, sự căng thẳng và thái độ vô tình của ta. Những yếu tố nào mà đã từng ngăn trở lòng từ bi và tình thương của họ đối với mọi người chung quanh. Và chỉ trừ khi nào những chướng ngại đó không còn nữa, bất cứ những việc làm tốt lành nào của họ cũng sẽ chỉ là một sự biểu lộ của tự ngã mà thôi, và nó sẽ không mang lại một ích lợi lâu dài nào hết.
Gây thương đau cho cuộc sống dưới danh nghĩa cứu đời là một trong những trò xa xưa nhất. Những cuộc thánh chiến và tôn giáo pháp đình vào thời trung cổ ở châu Âu là một ví dụ. Những cuộc thiêu sống các phù thủy ở Salem dưới danh nghĩa "vì lợi ích chung”
cũng thế. Bạn hãy nhìn lại cuộc đời của những thiền giả nhiều kinh nghiệm, đa số họ
những người có tham gia vào các việc làm xã hội. Nhưng bạn sẽ không bao giờ thấy họ hy sinh bất cứ một cá nhân nào cho lý tưởng của họ, dầu cao thượng đến đâu. Sự thật là chúng ta ích kỷ và nhỏ nhen hơn mình tưởng. Bản ngã của ta có khả năng biến những việc
làm cao thượng thành những thứ rác rưởi thấp hèn nếu ta buông thả nó hoàn toàn. Nhờ
thiền tập mà chúng ta ý thức được con người thật của mình, bằng cách thấy được những
hành động thúc đẩy bởi lòng vị kỷ. Và nhờ đó mà ta mới có thể thật sự trở thành hoàn toàn vị tha. Chuyển hóa hoàn toàn lòng ích kỷ của mình, đó không phải là một hành động ích kỷ.
10. Thiền là ngồi nghĩ đến những ý tưởng cao thượng?
Có những truyền thống thiền tập khác làm như vậy. Nhưng đó không phải là thiền quán vipassana.
Thiền quán là một sự thực tập chính niệm, tỉnh giác, có ý thức rõ ràng về những gì đang có mặt, cho dù đó là một chân lý tuyệt vời hay chỉ là một cọng rác nhỏ. Cái gì có mặt thì nó có mặt.
Lẽ dĩ nhiên, trong thiền tập cũng có lúc những tư tưởng cao thượng sẽ khởi lên. Ta không cần phải tránh né chúng. Và ta cũng không cần phải tìm kiếm chúng. Chúng chỉ là những phản ứng dễ chịu của thiền tập. Thiền quán là một phương pháp thực tập rất đơn giản. Nó bao gồm sự trải nghiệm những sự kiện trong đời sống một cách trực tiếp, không để tâm ưa
thích và cũng không thêm thắt vào đó bất cứ một hình ảnh hay ý tưởng nào khác. Thiền quán có nghĩa là nhìn sự sống mình khai mở ra trong mỗi giây mỗi phút, không thiên vị. Việc gì đến sẽ đến. Rất đơn giản như vậy thôi!
11. Sau vài tuần thiền tập, mọi khó khăn sẽ biến mất?
Rất tiếc, thiền tập không phải là một thứ thần dược nhanh chóng trừ được tất cả mọi căn bệnh. Tuy bạn có thể thấy được những thay đổi ngay từ bước đầu, nhưng những hiệu quả sâu sắc sẽ phải cần đến nhiều năm dài. Đó cũng cách cấu thành của cả vũ trụ này. Không một điều gì có giá trị lại có thể đạt được một cách quá nhanh chóng!
Xét theo một vài khía cạnh thì thiền tập là rất khó khăn. Nó đòi hỏi tính kỷ luật kiên trì và đôi khi là cả quá trình rèn luyện vất vả. Sau mỗi lần ngồi thiền, bạn sẽ có được những kết quả chuyển hóa, nhưng những kết quả ấy thường là rất vi tế. Chúng xảy ra trong chiều sâu thẳm của tâm thức và chỉ biểu hiện ra sau đó khá lâu.
Và nếu bạn ngồi thiền với tâm ý luôn mong đợi những thay đổi lớn lao ngay tức thì, bạn sẽ không có được ngay cả những chuyển hóa rất vi tế đó. Rồi bạn sẽ thất vọng, từ bỏ và nguyền rủa rằng thiền tập không mang lại bất cứ kết quả nào.
Sự kiên nhẫn là chìa khóa của vấn đề. Hãy kiên nhẫn. Cho dù bạn không học được gì khác qua thiền tập, bạn cũng học được sự kiên nhẫn. Và đó chính là bài học giá trị nhất luôn sẵn dành cho bạn.



Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta có thể thấy được cả ba loại tham ái
Loại 1: Khi cảm thấy buồn chán, bạn liền đi tìm một món gì đó để ăn, hay mở máy truyền hình để xem, hay uống một cái gì đó, hay gặp một người nào đó để trò chuyện. Tất cả những hoạt động nầy thể hiện lòng tham muốn những thú vui thuộc về giác quan hay ngũ dục.
Loại 2: Nhưng sau khi đã nhàm chán với ngũ dục, bạn có thể quay sang tìm cách cống hiến đời mình cho văn học bằng cách trở thành một nhà văn nổi tiếng, trở thành một người đầu bếp tài ba…vv. Tất cả những mơ ước nầy là ái hữu, nghĩa là mong trở thành một cái gì đó.
Loại 3: Và khi nhàm chán với dục lạc, với sự thành đạt trên đời, bạn chỉ muốn chối bỏ chính sự hiện hữu của bạn. Ngủ nhiều hay uống rượu, dùng ma túy tức là muốn chối bỏ hay quên bẵng đi cuộc sống nầy.
Nhưng khi vừa thức dậy sau một giấc ngủ dài, bạn lại bắt đầu mơ ước trở thành một thành một cái gì đó hay được sống trong dục lạc và vì thế bạn lại tìm một cái gì đó để ăn, để hút, để uống, để ngắm nhìn, để đọc, để suy tư, cho đến khi bạn trở nên nhàm chán và tìm cách quên đi chính những kinh nghiệm nầy! Vòng tuần hoàn này cứ liên tục như vậy đó.
 Khi tỉnh thức và chánh niệm, chúng ta sẽ thấy sự sinh khởi của khổ đau, và cùng lúc đó, chúng ta sẽ thấy được sự dính mắc của chúng ta với tham ái.
Nhưng cả ba loại tham ái nầy đều có sự bắt đầu. Chúng sinh khởi, và do đó, không phải là những điều kiện thường hằng của tâm thức; chúng thay đổi
Khi thấy và biết được sự chấm dứt khổ đau, chúng ta sẽ có khả năng nhìn xuyên thấu và chịu đựng tác động của một số tham ái, thay vì chỉ biết chạy theo thói quen chống lại hay tìm cách thỏa mãn chúng. Chúng ta sẽ bớt dính mắc vào tham ái và bớt chăm lo thỏa mãn những tham muốn của mình. Chúng ta để cho tham ái chấm dứt một cách tự nhiên. Chúng ta trải qua và chịu đựng được sự nhàm chán hay đau đớn, hoài nghi và tuyệt vọng, và hiểu rằng chúng sẽ chấm dứt. Nếu hiểu theo nghĩa đen thì thái độ chấp nhận và chịu đựng khổ đau nầy có vẻ thụ động, bi quan và yếm thế. Nhưng nếu nhìn từ một góc độ khác, khả năng chịu đựng, trải qua và thấy được sự chấm dứt của khổ đau nầy sẽ giúp chúng ta trưởng thành về tâm lý và tình cảm.
Khi bạn tìm cách trừ diệt sự lo sợ hay giận dữ thì điều gì sẽ xảy ra? Bạn sẽ chỉ trở nên bồn chồn hoặc chán nản và để dứt trừ trạng thái bồn chồn hay chán nản này, bạn lại tìm một cái gì đó để ăn, để hút, để uống, hay đi làm một việc gì khác. Nhưng nếu bạn biết chờ đợi và chịu đựng sự bồn chồn và thôi thúc của tham ái, sân hận, hoài nghi, tuyệt vọng và những cơn dã dượi buồn ngủ, và nếu bạn quan sát được sự chấm dứt của những trạng thái tâm lý nầy, tâm bạn sẽ bình tĩnh và sáng suốt. Đây là điều mà bạn sẽ không bao giờ có được nếu bạn cứ luôn chạy theo cái gì đó ở bên ngoài.
………………
Nếu bạn ngồi thiền và kiên nhẫn chịu đựng, tâm bạn sẽ đi vào tĩnh lặng. Sự tĩnh lặng nầy sinh khởi vì bạn không còn tìm cách để trở thành một cái gì đó hay diệt trừ một cái gì đó. Đó là sự tĩnh lặng nội tâm hay thoải mái trong tâm hồn trong đó bạn không còn gắng sức vùng vẫy để trở thành một cái gì đó (ái hữu), để thỏa mãn dục lạc (ái dục), hay để diệt đi những phiền muộn (ái vô hữu). Bạn sẽ trở nên thoải mái với những trạng thái phiền muộn nầy. Bạn bắt đầu sống chung một cách bình thản và dễ chịu với những đau đớn về thể xác, bồn chồn và khổ tâm của mình v.v… Và rồi bạn thấy rằng tâm của bạn sẽ rất trong, rất sáng và rất an tĩnh.
………..
Ngay bây giờ, bạn đang ý thức đầy đủ về tình cảm, tư tưởng hay bất kỳ phản ứng nào khởi sinh trong thân bạn. Đây là những gì chúng ta có thể quan sát được. Và chúng ta quan sát được gì từ những điều kiện nầy? Chúng ta quan sát và thấy rằng chúng sinh ra rồi mất đi và không có tự ngã.
………..
Khi quán sát những điều kiện sinh khởi trong thân và tâm, bạn sẽ nhận ra rằng chúng đến rồi đi; chúng thay đổi. Những điều kiện nầy không phải là chất liệu mà bạn có thể dùng tay rút ra, nắm lấy và tuyên bố rằng: "Nó là của tôi." Khi có những tiếng ồn khó chịu, nếu bạn nghĩ, "Tôi căm ghét những tiếng ồn nầy. Trờiđất nầy không thể dung chứa những tiếng ồn như thế. Tôi sẽ thưa lên nhà cầm quyền sở tại để giải quyết việc nầy," thì rõ ràng là bạn đang xem những tiếng ồn đó là của bạn. Nhưng khi bạn nhận ra được sự thật là những tiếng ồn nầy đến rồi đi và sẽ thay đổi, và nếu bạn kiên nhẫn quan sát điều nầy, thì ngay cả những gì khó chịu nhất cũng sẽ làm cho bạn bình an và tĩnh lặng. Khi bạn sống hòa hợp với thế giới vật chất nầy và với tất cả những gì bạn suy nghĩ, cảm nhận, thể nghiệm qua sự tiếp xúc của năm giác quan và tâm thức với tâm an tịnh, tĩnh lặng và chánh niệm, thì đó chính là cái mà tôi gọi là Kinh nghiệm không thể diễn tả bằng lời, là cảnh giới Bất sinh bất diệt, và là quả vị Niết Bàn. Vì thế chúng ta hành thiền. Hành thiền là nhìn trực tiếp vào sự diễn biến tự nhiên của tất cả sự vật. Chúng ta quan sát đặc tính chung của tất cả hiện tượng do nhân duyên sinh khởi: Chúng sinh rồi diệt;đó là đặc tính vô thường (anicca); Chúng là bất toại nguyện hay đau khổ; đó là đặc tính đau khổ (dukkha) và sự đau khổ nầy có sự bắt đầu và chấm dứt của nó; và tự chúng không có cái ngã; đó là đặc tính vô ngã (anatta).
……
Ngày nào mà bạn không thật sự thể nghiệm trực tiếp mà chỉ dùng suy nghĩ của mình để cho là mình biết về các sự vật thì bạn sẽ luôn bất an và rối loạn. Lý do chủ yếu là vì sự hiểu biết thuần lý chỉ dựa trên các ký hiệu và biểu tượng ngôn ngữ chứ không dựa trên sự thể nghiệm trực tiếp những thực tại của cuộc đời.

Để có thể tập trung quan sát những cảm giác của cơ thể, bạn phải chấp nhận nó. Bạn không nên tập trung quan sát với mục đích xua đuổi nó. Làm như thế là không được và bạn sẽ thất bại; đó vẫn là tháiđộ sân hận, chống đối và ghét bỏ. Bạn phải chấp nhận nó. Và thật ra, bạn phải chấp nhận nó như cái mà sẽ ở với bạn đến suốt đời. Khi bạn đã hoàn toàn chấp nhận nó, cảm giác đau nhức thật vẫn tiếp tục tồn tại nhưng nó chỉ tồn tại như là một cảm giác. Thậm chí bạn không thể nói nó là sự đau đớn. Nó chỉ là một cảm giác, thế thôi. Ý tưởng cho nó thật là khủng khiếp và đau đớn cũng không còn nữa, và từđó những điều kiện hỗ trợ và làm gia tăng sự đau đớn -- như là tình cảm chống ghét, tức giận, và thù hận -- sẽ từ từ giãm đi.
……..
Tôi còn nhớ là tôi luôn thất vọng về người khác vì họ không sống và đáp ứng đúng những tiêu chuẩn của tôi, hay theo cách mà tôi nghĩ là đúng. Tôi có thể gặp một người phụ nữ nào đó và nghĩ, "Ồ! đây rồi, đây chính là người mà tôi hằng mong đợi, một người thật sự từ ái và giàu lòng quảng đại, một người đáng yêu. Cuối cùng tôi đã gặp người lý tưởng của tôi rồi." Nhưng sau đó, tôi lại khám phá ra là người phụ nữ nầy cũng đầy ấp những sân hận, ganh tỵ, lo sợ, ích kỷ, hay tham lam. Và rồi tôi lại nghĩ, "Ôi! cô gái nầy đã làm tôi thất vọng. Tôi phải đi tìm một người bạn gái khác. Tôi phải tìm một người có thể đáp ứng đúng những yêu cầu và tiêu chuẩn cao cấp của tôi." Nhưng sau đó, khi tôi thật sự nhìn lại chính mình và tự hỏi, "Bản thân tôi, tôi có sống đúng theo những tiêu chuẩn nầy hay chưa?", tôi khám phá ra là chính tôi cũng đầy ấp những tâm tánh khó chịu và phiền muộn y như vậy.
………..
Để thoát khổ, chúng ta phải để cho những gì sinh khởi trong tâm tự nó ra đi. Để cho một đối tượng nào đó tự chấm dứt, chúng ta phải không can thiệp vào quá trình vận hành của nó hay tìm cách triệt tiêu nó; chúng ta phải để cho nó tự ra đi.
Điều này có nghĩa là chúng ta phải kiên nhẫn. Do đó, tâm từ cũng là một loại kiên nhẫn, một thái độ thiện chí sẳn sàng sống chung với những điều xấu xa và khó chịu mà không hề suy nghĩ hay quan tâm đến tính chất xấu xa và khó chịu của nó, hay không bị thôi thúc bởi ý muốn nhanh chóng triệt tiêu nó hầu tìm lại sự thoải mái cho bản thân mình.

Hạnh phúc luôn luôn là thất vọng vì nó hiện hữu một cách ngắn ngủi và tiếp theo là đau khổ. Hạnh phúc lúc nào cũng tùy thuộc vào những nguyên nhân khác - Chúng ta hạnh phúc khi chúng ta mạnh khỏe, nhưng cơ thể con người luôn bị đổi thay; chúng ta có thể mất sức khỏe một cách nhanh chóng. Lúc ấy chúng ta thiệt là khổ vì bệnh hoạn làm mất đi cảm giác mạnh mẻ, đầy sức sống.
Do vậy, mục đích của người Phật tử không phải là tìm hạnh phúc vì biết nó không thật. Mục đích thật, nằm ngoài thế giới dục lạc. Không có nghĩa là chối bỏ thế giới nầy, nhưng mà là hiểu được nó một cách cặn kẽ để mà thoát ra khỏi vòng lẩn quẩn. Chúng ta không còn chờ đợi nó mang hạnh phúc lại cho chúng ta nữa. Chúng ta không còn đòi hỏi quá đáng và bắt đầu ý thức về bản chất thật của thế giới mình đang sống.
Chấp nhận bản chất thật của nó trong mọi trường hợp và hoàn cảnh. Ta không còn bám víu vào những cảm xúc nhất thời lúc hạnh phúc cũng như khi đau khổ.  Niết-bàn không phải là trạng thái trống vắng mà là một trạng thái tỉnh thức - khi mà ta không còn bị lôi cuốn theo những pháp trần.
http://www.thiengiuadoithuong.org/2015/08/hanh-phuc-kho-dau-va-niet-ban.html

Trong Thiền định, chúng ta để cho tâm trí rộng mở và để cho những gì bị đè nén, chèn ép, được nhận diện, và khi mà những vấn đề được nhận diện thì chúng sẽ tự dưng chấm dứt. Chúng ta để cho mọi việc trôi theo tiến trình của nó - Sanh và Diệt. Chúng ta để nó tự nhiên mất đi hơn là chúng ta xua đuổi nó đi.

http://www.thiengiuadoithuong.org/2015/08/hanh-phuc-kho-dau-va-niet-ban.html
Chúng ta không bao giờ nhận thức được bản chất thật của sự nhàm chán. Khi mà sự nhàm chán xuất hiện thì tức thời chúng ta chạy tìm những cái hấp dẫn, những thú vui khác để khoả lấp nó. Nhưng trong lúc Thiền định, chúng ta để cho sự nhàm chán bộc lộ. Chúng ta để cho thất vọng, chán chường, ganh tỵ, giận dữ, oán ghét... xuất hiện và ý thức nhận diện chúng với bản chất thật của chúng không thêm không bớt.
Bằng vào từ tâm và trí tuệ, chúng ta để cho những điều nầy tự Sanh và Diệt - tốt hơn là đè nén chúng theo thói quen. Nếu chúng ta cứ muốn đè nén những cảm xúc thì đây là một thói quen không tốt. Khi chúng ta thất vọng và chán chường, chúng ta không thể nào thưởng thức được những vẻ đẹp; vì bình thường chúng ta chưa bao giờ nhận thức được bản chất thật của cái đẹp.

Thứ Ba, 21 tháng 3, 2017

Thiền sư Ottamasara: Suy nghĩ như thế luôn diễn ra, không phải chỉ khi bạn hành thiền. Trong cuộc sống hàng ngày, bạn đã làm cho tâm mình nghĩ. Bạn nghĩ một cách chủ ý trong đời sống hàng ngày nên trong khi thiền, suy nghĩ diễn ra một cách tự động. Đó là tại sao bạn nên cố gắng không bắt tâm phải nghĩ trong đời sống hàng ngày.
Bạn muốn nghĩ là vì ham muốn. Nếu bạn cố gắng không theo ham muốn này, sẽ ngày càng có ít suy nghĩ hơn, và bằng cách đó, sẽ không có vấn đề như thế. Nếu như bạn tuân theo ham muốn của mình, vấn đề sẽ lại tiếp tục. Việc không suy nghĩ là có thể (không không được thể). Nếu bạn có thể buông bỏ thói quen suy nghĩ thì không cần thiết phải nghĩ, những ý tưởng tốt sẽ tự động xuất hiện.
Đó là kinh nghiệm của bản thân tôi. Trước khi hành thiền, tôi đã luôn luôn suy nghĩ. Với thiền, tôi đã có thể hiểu rằng suy nghĩ là không (có gì) hay ho, và không cần thiết. Vì thế, tôi cố gắng buông bỏ thói quen suy nghĩ này và đã làm việc đó thành công. Đó là tại sao tâm tôi được tự do và rất có sức mạnh. Suy nghĩ làm cho tâm bận rộn và không ổn định. Do tôi có thể buông bỏ thành công thói quen suy nghĩ, tôi không cần phải nghĩ nữa và những ý tưởng tốt xuất hiện một cách tự nhiên và tự động.
Đi ngược lại ham muốn của mình là có thể (không không được thể). Trong đời sống hàng ngày, khi tôi làm công việc kinh doanh, việc suy nghĩ là cần thiết, do loại suy nghĩ kiểu như thế, tôi cứ suy nghĩ suốt ngày và không thể kiểm soát thói quen suy nghĩ của mình.
Chỉ khi tôi hành thiền, chỉ khi tôi nghe thầy dạy thiền của tôi, theo thời gian, tôi có thể buông bỏ thói quen suy nghĩ. Cũng như vậy, bạn cũng nên cố gắng làm như thế. Không cần thiết phải nghĩ. Thực hành thiền là trọn vẹn (hay toàn diện). Nếu như bạn hành thiền, không cần phải phụ thuộc vào bộ não của mình, không cần phải nghĩ, không cần phải phụ thuộc vào bản thân mình. Cứ tiếp tục thực hành. Nó sẽ đáp ứng mọi mong muốn của bạn.
Bạn phải can đảm buông bỏ mọi hành động của thân, khẩu, ý. Lúc này bạn đang nghĩ về việc làm thế nào, làm cái gì. Sự hiểu biết đó là sai, là không trọn vẹn. Bạn phải cố gắng hiểu làm thế nào để buông bỏ mọi hành động về thân, khẩu và ý.
Sự chỉ dạy của tôi chú ý đến việc làm thế nào để buông bỏ tất cả mọi hành động. Đó là tại sao bạn thực hành như thế nào thì không quan trọng. Cái gì diễn ra với bạn, kinh nghiệm gì bạn có được: không quan trọng, bạn đang thực tập ở đâu không quan trọng. Liệu bạn có thể buông bỏ được tất cả các hành động về thân, khẩu, ý; liệu bạn có thể buông bỏ được tất cả các hành động của mình hay không cũng không quan trọng. Nếu như bạn thực hành theo một cách hiệu quả và đúng đắn, bạn sẽ có khả năng buông bỏ mọi thói quen, mọi hành động của mình.
Nếu bạn hành thiền không thành công, bạn không có khả năng buông bỏ thói quen suy nghĩ và các thói quen về thân, khẩu khác. Hãy nghĩ về việc buông bỏ tất cả mọi hành động. Đừng nghĩ về việc làm cái gì và làm như thế nào - đó không phải là buông bỏ. Đó là kế hoạch để càng làm nhiều hơn. Nếu như bạn lập kế hoạch để làm nhiều hơn, bạn sẽ có khả năng làm nhiều hơn nhưng bạn sẽ không có khả năng buông bỏ thói quen của mình.
Có nhân, sẽ có quả. Không có nhân, sẽ không có quả. Tôi không chú ý đến việc tạo nhân và hiếm khi chú ý đến quả. Bạn buồn và tâm bạn không ổn địn, bạn làm gì? Bạn nghĩ về việc sẽ làm gì. Bạn đã quen với việc nghĩ làm thế nào để dừng quả nhưng không nghĩ đến việc làm thế nào để dừng nhân.
Tôi chú ý đến việc dừng tạo nhân và theo cách này, sẽ không có quả. Do chúng ta đang làm các công việc thông thường, chúng ta không hiểu về tâm. Do chúng ta không thể dừng việc kiếm tiền, do chúng ta không thể dừng việc cư xử như những người khác - đó là tại sao sự hiểu biết của chúng ta về tâm không được sâu.

Hãy cố gắng buông bỏ các hành động của bạn. Chúng ta phải cố gắng buông bỏ việc bắt chước những người khác. Để làm được như thế, chúng ta cần phải bắt chước Đức Phật và những đệ tử của Ngài. Chúng ta cần phải làm các việc thiện pháp. Theo cách này, sự hiểu biết của chúng ta về tâm sẽ sâu hơn và trí thông minh sẽ ngày càng cao hơn.
(Chuyển ngữ: Phật tử Lan - Nanika)

Chủ Nhật, 19 tháng 3, 2017

Metta Lodge - Malaysia, Tháng 3/2014
Chúng ta tức giận, bởi vì chúng ta chú ý vào tình huống. Chúng ta phải cố gắng buông bỏ thói quen chú ý vào cái gì đó. Do dính mắc như vậy, chúng ta sẽ vui, sẽ buồn, sẽ cáu, sẽ cảm thấy hối tiếc, là do chúng ta chú ý vào đối tượng. Nếu chú ý vào việc mình đang làm thì có thể có sự hoài nghi “liệu mình có đúng không?” hay “liệu mình có sai không?” Đó là do sử dụng với sự nắm giữ. Chúng ta nắm giữ vào hành động, vào nguyên nhân, vào kết quả, vào một trong những hành động của mình. Chúng ta có thể nghĩ, có thể nói, có thể nghe. Và chúng ta đang nói, nghe, nghĩ, v.v… với sự dính mắc. Dính mắc nghĩa là chúng ta không buông bỏ được suy nghĩ, không buông bỏ được việc nghe, không buông bỏ được việc nói. Chúng ta hiểu hành động là để làm, như thế là chưa trọn vẹn. Các hành động cần được làm và cũng cần được buông bỏ. Mọi thứ và mọi hành động cần phải được buông bỏ. Nếu chúng ta không hiểu, chúng ta sẽ không có khả năng buông bỏ hành động.
Nếu chúng ta không hài lòng với một ai đó, là bởi vì chúng ta chú ý đến họ. Đó là do dính mắc vào việc làm như vậy. Bất cứ điều gì diễn ra, tốt hay xấu, chỉ để kinh nghiệm mà thôi, không phải đế chối bỏ, không phải để dính mắc, không phải để hiểu lầm là thực tại hay thực sự quan trọng. Sự Thật là Bản Chất Vô Thường Luôn Mới.
Để biết được Sự Thật, chúng ta phải có khả năng làm điều nên làm và buông bỏ điều không nên làm. Chúng ta có thể nghĩ về quá khứ nhưng phải nghĩ mà không dính mắc vào suy nghĩ, không dính mắc vào quá khứ. Chúng ta có thể hy vọng cho tương lai nhưng không dính mắc vào vào hành động hy vọng cũng như không dính mắc vào tương lai. Chúng ta cũng không được dính mắc vào hiện tại. Sự thực hành xả ly là từ bỏ việc xoay quanh ai đó hay cái gì đó. Hãy dừng việc chú ý vào ai đó, vào cái gì đó. Nếu chúng ta nghĩ về ai đó, có ai đó trong tâm. Nếu chúng ta nghĩ về cái gì đó, sẽ có cái gì đó trong tâm. Chúng ta cứ hiểu rằng ai đó là thực, cái gì đó là thực, như thế là sai lầm. Chúng ta phải có khả năng xóa bỏ cái gì đó hoặc ai đó ra khỏi tâm.
Chúng ta phải chánh niệm về từng hành động của thân, khẩu và ý. Nếu chúng ta chánh niệm, chúng ta sẽ biết hành động hiện tại, những gì đang diễn ra hiện tại của hành động và chúng ta phải cố gắng buông bỏ thói quen chú ý đến hành động đó. Do dính mắc vào cái gì đó nên khi ghi nhận hay niệm, chúng ta sẽ nghĩ sự chánh niệm là cái gì đó. Chúng ta thường sử dụng hành động ghi nhận một cách sai lầm với ý niệm về ai đó hoặc cái gì đó: “hành động của tôi”, “ai đó”, hay “tôi chánh niệm”, “đây là hành động chánh niệm của tôi”. Sự hiểu biết sai lầm đó đang kiểm soát hoặc liên quan đến bất cứ điều gì chúng ta làm. Như thế là đang làm với sự dính mắc.
Để chỉ làm mà thôi và theo Con Đường Trung Đạo, chúng ta phải xóa bỏ ý niệm về cái gì đó, về ai đó ra khỏi tâm và khỏi hành động của mình. Chúng ta không nên nghĩ xem “liệu mình có đúng không nhỉ?” hay “mình có đang sai?”, cũng không nên nghĩ “mình đang làm đúng không?” hay “mình đang làm sai không?”. Chúng ta không nên nghĩ cho bản thân “liệu mình có khả năng theo Con Đường Trung Đạo hay không?”. Điều cần thiết là phải buông bỏ thói quen nghĩ về một ai đó. Nếu chúng ta có thể buông bỏ thói quen này thì chúng ta có thể nghĩ về một ai đó mà không có sự dính mắc, khi đó, hành động của chúng ta sẽ chỉ là làm mà thôi.
Giờ đây, chúng ta là Phật tử, chúng ta phải có khả năng xuất gia làm nhà sư hay tu nữ hay trở thành những thiền sinh trọn đời. Chúng ta nên nghĩ theo cách như thế. Nếu chúng ta không thể làm như thế, là vì chúng ta còn dính mắc vào gia đình, vào cuộc sống của người tại gia. Do dính mắc vào công việc, chúng ta không thể dành hoàn toàn thời gian cho việc làm các thiện pháp.
Tất cả chúng ta phải có khả năng đánh mất cuộc sống, đánh mất những thứ thuộc về mình, điều đó rất là chắc chắn, nhưng rất hiếm khi chúng ta có sự chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống đó. Chúng ta không sẵn sàng chết. Chúng ta không sẵn sàng ngừng công việc của mình. Đó là bởi vì dính mắc. Dính mắc vào cuộc sống, dính mắc vào gia đình, dính mắc vào công việc, dính mắc vào ngôi nhà của mình. Bởi thế, tất cả những gì chúng ta làm, chúng ta đang làm với sự dính mắc, là do chúng ta không cố gắng buông bỏ các hành động của mình.
Chúng ta không dám mất cuộc sống, không dám mất tài sản, không dám mất công việc. Đó là lý do khi hành thiền, chúng ta nắm giữ vào sự thực hành, nắm giữ vào cuộc sống của thiền sinh, nắm giữ vào vị thầy, nắm giữ vào kinh nghiệm. Khi thiền, chúng ta sẽ có những kinh nghiệm nhưng những kinh nghiệm đó không phải để chối bỏ, cũng không phải để dính mắc. Kinh nghiệm không phải để dính mắc vào là kinh nghiệm của tôi hay của bạn, nó chỉ để kinh nghiệm mà thôi. Chúng ta có thể hiểu hay không hiểu, nhưng điều này cũng không để thích hay không thích. Chúng ta phải cố gắng thoát ra khỏi sự thích hay không thích. Chúng ta phải hiểu rằng chỉ làm mà thôi, chỉ biết mà thôi, chỉ kinh nghiệm mà thôi và chỉ sử dụng mà thôi. Cũng không nắm giữ sự hiểu biết là của tôi hay của bạn, không dính mắc và cũng không chối bỏ.
Con người có rất nhiều sự dính mắc. Vì vậy, chỉ thiền không thì không đủ. Một mình chánh niệm thôi cũng không đủ. Nếu như quý vị có ít dính mắc trong khi thiền, quý vị sẽ không trệch khỏi con đường đúng - Con Đường Trung Đạo. Nếu như có sự dính mắc mạnh mẽ, chúng ta cần phải xả ly. Sự thực hành xả ly là khi hành thiền, quý vị không được chú ý đến thời gian, nơi chốn, phương pháp. Thiền có thể tốt hay không tốt, quý vị cần cố gắng buông bỏ cả hai tình huống. Như thế là hành thiền. Có rất nhiều thiền sinh, do dính mắc, quý vị chú ý đến ai đó hay là thiền sinh nào đó. Sự Thật không phải là một ai đó hay một cái gì đó. Ai đó hay cái gì đó chỉ để sử dụng mà thôi, không phải để nghĩ là thực tại. Chúng ta phải hành thiền và chúng ta phải có khả năng buông bỏ sự chú ý đến một ai đó. Cần thiết phải buông bỏ thói quen chú ý đến một ai đó hay một cái gì đó. Nếu quý vị có khả năng buông bỏ, dính mắc sẽ ngày càng ít hơn. Khi không có dính mắc thì quý vị có thể chú ý đến một ai đó hay một cái gì đó.
Khi thiền, quý vị phải hiểu rằng mình chỉ là một trong số những người hành thiền. Bất cứ điều gì diễn ra, quý vị phải hiểu rằng điều đó chỉ để kinh nghiệm mà thôi, không phải là kinh nghiệm của quý vị. Quý vị không được nắm giữ vào kinh nghiệm hay nắm giữ vào sự thực hành, quý vị phải chánh niệm nhưng cũng phải cố gắng để ngừng sự chú ý đến hành động hiện tại của chánh niệm đó.
Hầu hết mọi người không thể xả ly khỏi ai đó hay cái gì đó. Do vậy họ nghĩ phải làm gì, phải đi đâu, đến nơi nào, nghĩ về cái gì đó, ai sai, ai đúng? Do dính mắc vào ai đó mà chúng ta luôn nghĩ về hết người này đến người khác. Vì dính mắc vào cái gì đó mà chúng ta luôn nghĩ về hết cái này đến cái khác: “Làm cái gì?”, “Cái gì sai, cái gì đúng?”. Đó là do chúng ta không thể buông bỏ hành động này. Khi chúng ta không thể buông bỏ hành động này, thế thì chúng ta đang làm với sự dính mắc. Chúng ta cứ hiểu rằng chúng ta phải ăn, phải ngủ, phải học, nhưng hiếm khi hiểu rằng chúng ta phải có khả năng buông bỏ việc ăn, buông bỏ việc ngủ, buông bỏ việc học. Cần phải làm và cần phải buông bỏ tất cả mọi hành động, bởi vì không hiểu như thế, chúng ta dính mắc mạnh mẽ vào việc ăn, việc ngủ. Như thế, chúng ta đang sống vì ăn, v.v...
Chúng ta không muốn chết vì chúng ta muốn ăn và muốn ngủ. Chúng ta muốn làm điều chúng ta muốn. Đó là vì dính mắc vào thức ăn, vào việc ngủ và vào công việc.

Quý vị cần hiểu rằng chánh niệm cùng với sự xả ly, tức là chỉ làm mà thôi, chỉ sử dụng mà thôi, chỉ biết mà thôi, chỉ kinh nghiệm mà thôi. Hãy cố gắng làm tất cả các thiện pháp; hãy cố gắng buông bỏ mọi bất thiện pháp và cố gắng giữ tâm trong sáng, thanh tịnh. Việc đó đôi khi dễ, đôi khi khó. Đôi khi quý vị hiểu, đôi khi không hiểu. Đôi khi quý vị muốn làm, đôi khi không muốn làm. Quý vị không được chú ý đến những gì đang diễn ra trong thân hoặc trong tâm. Hãy chỉ tiếp tục làm những gì cần phải làm. Và cố gắng để có khả năng làm. Chỉ làm mà thôi là cách chúng ta nên làm. Điều chúng ta nên làm là làm các thiện pháp, từ bỏ những hành động không cần thiết, giữ tâm trong sáng và thanh tịnh.
(Chuyển ngữ: Phật tử Lan - Nanika)

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

Mỗi chúng ta đều ở trong một cộng đồng và phải sử dụng hay làm việc trong đó. Chúng ta phải sử dụng phương tiện hay vật dụng trong đời sống. Và ở kiếp này, chúng ta hiểu rằng khi làm và có được một cái gì đó, chúng ta không chỉ sử dụng cho bản thân hay gia đình của mình, mà còn giúp đỡ những người khác. Bởi vì họ cũng cần sử dụng đến. Chẳng những thế, chúng ta còn cần tạo thêm nhiều thiện pháp đối với Ân Đức Phật, Đức Pháp và Đức Tăng. Tài sản như đất đai, nhà cửa,… không phải chỉ để cho riêng mình, chúng ta cần sử dụng cho Pháp Bảo và những người khác nữa.
Thực hành Pháp cũng vậy, Pháp Bảo cũng chỉ là phương tiện để chúng ta sử dụng trong việc thực hành. Những gì chúng ta làm ra không chỉ để cho cá nhân mình mà còn cần làm cho giáo pháp. Chúng ta hướng đến Tam Bảo, những người cần sự giúp đỡ. Khi có tài sản và sự giúp đỡ như vậy, chúng ta không có dính mắc vào đó. Khi thực hành Pháp, chúng ta không nghĩ đến việc sử dụng cho riêng bản thân mình mà phải sử dụng cho người khác. Có tài sản, chúng ta sử dụng nó. Cũng vậy, mục đích sử dụng đối với giáo pháp là gìn giữ ba ngôi Tam Bảo và giúp đỡ người khác. Khi sử dụng tài sản cho mục đích tốt đẹp, nếu không biết cách dùng thì nó lại không đem lại ích lợi. Sử dụng tài sản vào mục đích chân chính sẽ giúp chúng ta tạo ra các hành động thiện cho mình. Với sự không hiểu biết, không có thực hành và không có chánh niệm, chúng ta sử dụng tài sản của mình cho mục đích riêng. Đa phần mọi người trên thế giới khi có được điều gì đó đều chỉ dùng cho mục đích cá nhân. Không có hiểu biết nên chúng ta dính mắc vào tài sản của mình có, chúng ta không thể chia sẻ tài sản cho những người khác.
Nếu cho rằng “tài sản do tôi làm ra thì tôi phải sử dụng nó” thì đây là tâm bất thiện, dính mắc vào tài sản. Không có hiểu biết thì các vấn đề sẽ khởi sinh giữa những người sống trong cùng một cộng đồng xã hội, thậm chí ngay cả chúng ta cũng sẽ gặp rất nhiều rắc rối. Bởi ở trong quá khứ, chúng ta đã có sự hiểu biết sai lệch, hiện tại quả bất thiện đến với chúng ta. Với hiểu biết sai lạc, chúng ta làm sai và các vấn đề xảy ra. Do vậy thận trọng trong từng hành động là rất quan trọng. Vì khi chúng ta hiểu sai, thấy sai, làm sai, mọi rắc rối sẽ nảy sinh trong đời sống, con người và ngay chính trong bản thân chúng ta.
Tôi bắt đầu hành thiền vào năm 1999, lúc đó tôi chưa xuất gia. Tôi cũng làm ra của cải, sử dụng tài sản của mình. Đa phần chúng ta nghĩ tài sản do mình làm ra và phải sử dụng cho chính ta, không được dùng vào những việc như cúng dường, hỗ trợ người khác. Vì không thực hành nên chúng ta hiểu sai, chấp giữ tài sản cho riêng mình mà không muốn sẻ chia. Sự thực hành giúp chúng ta hiểu đúng là chỉ nên sử dụng tài sản như những phương tiện thôi, sử dụng cho người khác, cho những mục đích tốt đẹp khác.
Ở thời đó, trường thiền và thiền sinh còn rất hiếm hoi. Khi không có sự thực hành, chúng ta chấp thủ vào tài sản, chỉ để dùng cho mình và gia đình, không nghĩ đến người khác đang cần được giúp đỡ. Chúng ta không nghĩ về Tam Bảo, đến việc làm thiện pháp đối với Tam Bảo, vì chúng ta dính mắc vào gia đình, chỉ biết đến gia đình mình thôi. Lúc còn là cư sĩ, tôi thọ trì giới, nghe và thực hành Pháp. Chính điều này làm tôi hướng tâm đến ngôi Tam Bảo, nghĩ mình phải làm gì đó cho ngôi Tam Bảo, và muốn giúp đỡ những người khác.
Cố gắng trau dồi những việc thiện (bố thí, trì giới, hành thiền), nếu không làm chúng ta sẽ không bao giờ biết được. Nhưng nếu làm thì các vấn đề rắc rối của chúng ta và với những người trong gia đình, công việc, quốc gia sẽ giảm thiểu, sự hiểu biết sẽ tăng dần. Mỗi hành động được làm với sự cẩn trọng ở hiện tại sẽ là nhân thiện cho ra quả lành. Vì thế, bất cứ hành động nào khi làm, chúng ta cũng cần thận trọng và để tâm. Khi không có được hiểu biết đúng, chúng ta nghĩ rằng mình là tốt và công việc của mình cũng rất tốt, không có việc gì xảy ra cả. Chúng ta nghĩ như vậy vì có hiểu biết sai. Nhưng khi công việc gặp trở ngại, có sai lầm xảy ra, chúng ta lại nghĩ rằng “tôi và công việc của tôi không được tốt đẹp”. Suy nghĩ về “tôi” này và dính mắc vào đó là do hiểu biết sai lệch.
Nếu quá khứ chúng ta thận trọng thì quả trổ ở hiện tại chúng ta cũng không có vấn đề gì bởi đã có hiểu biết chân chánh. Do đó, sẽ có sự đối lập như khó khăn hay dễ dàng, có thể làm hay không thể làm, có thể hiểu hay không thể hiểu, muốn làm hay không muốn làm. Trong việc thọ trì giới, bố thí, hành thiền, tất cả thiện pháp của chúng ta đều phải cẩn trọng, và không bao giờ ngừng làm thiện pháp. Giảng giải về pháp, đó là việc thiện. Tuy nhiên, có những người rất khó nắm bắt, nhưng cũng có người lĩnh hội một cách dễ dàng. Có thể tôi không biết cách truyền đạt để quý vị nắm hết được.
Tất cả những gì dễ hay khó, giảng được hay không giảng được, tất cả những cái đó chỉ cùng bản chất mà thôi. Khi chúng ta thấy cần, chúng ta sẽ cố gắng. Khi cố gắng, chúng ta sẽ làm được. Với sự thực hành, chúng ta sẽ thấy rõ ràng. Chúng ta muốn làm nhiều việc hay không muốn làm gì thì đó cũng chỉ là bản chất của Pháp, chẳng có ai ở đó cả. Việc hiểu hay không hiểu, làm hay không làm, nó chỉ diễn ra như là nó mà thôi, không một có thực thể nào cả. Trong cuộc sống, quá quan tâm đến việc mình làm hay người khác làm, sẽ có nhiều vấn đề “tôi muốn làm, tôi không muốn làm, người đó muốn hay không muốn làm”.
Khi có hiểu biết, muốn hay không muốn làm gì chúng ta sẽ hiểu rất rõ. Chúng ta tự tìm thấy mình qua việc thực hành, chúng ta sẽ hiểu rõ bản thân hơn. Có thể nói rằng, nếu thiền sinh không tự tìm thấy được chính mình mà lại thấy người khác thì có nghĩa là họ đã không có hiểu biết đúng. Chỉ khi nào chúng ta tìm thấy chính bản thân mình, lúc đó chúng ta sẽ hiểu được ta cũng như người khác. Bằng sự thực hành này, chúng ta sẽ dần hiểu và làm được.
Khi có cái hiểu, chúng ta sẽ thấy chỉ có sự làm, chỉ có kinh nghiệm và chỉ sử dụng mà thôi. Thông thường, chúng ta chỉ chăm sóc cho mình và gia đình vì chúng ta dính mắc với điều gì đó ở mình và gia đình. Thực tập bố thí hay hành thiền là chúng ta thực hành cho rất nhiều người, vì khi đó phải hướng đến người khác. Hành thiền chúng ta sẽ dần có hiểu biết đúng, có hiểu biết đúng sẽ không có dính mắc vào việc làm cho mình hay cho gia đình mình. Trì giới, tham thiền là những hành động không chỉ (đem lại lợi ích) cho mỗi cá nhân, gia đình mà còn cho rất nhiều người khác. Và không phải làm chỉ cho mình mà cho những người đang cần giúp đỡ nữa.
Hiểu biết đúng sẽ thấy rằng chỉ có sự làm, sẽ thoát khỏi sự dính mắc trong bất kỳ hành động nào. Điều này rất quan trọng. Hãy để sự việc xảy ra một cách tự nhiên, đúng sai, tốt xấu, tất cả chúng xảy ra theo bản chất của chúng mà thôi. Chúng ta hãy để các pháp sinh khởi tự nhiên, không phân tích, đánh giá tốt xấu hay như nào cả, nó chỉ là bản chất sanh khởi và hoại diệt. Khi thấy đúng thì tâm thiện sinh khởi, khi không chấp nhận sự việc, có sự khó chịu, thì đó là tâm bất thiện sinh khởi. Pháp thực sự là gì? Đó chính là tiến trình sinh và diệt của danh và sắc, đó mới là sự thật. Khi chúng ta cho rằng “tôi, chúng sanh, con người, đàn ông, đàn bà” hay các khái niệm “của tôi, của anh” là thật, đấy là tà kiến. Loài vật không biết và không làm các điều thiện. Còn con người có thể tự tạo thiện nghiệp cho chính mình và người thân hay cho mọi người. Con người khi làm việc gì đó có thể hướng tâm đến Tam Bảo hay người khác, việc này chỉ con người mới có cơ hội làm.
Khi làm những hành động thiện này, chúng ta có thể nói rằng con người có thể làm được việc này, chỉ để làm mà thôi. Chỉ làm cho mình và người thân mà không hướng tâm đến mọi người cũng giống như loài vật chỉ biết đến nó và gia đình nó vậy. Như thế là dính mắc, là tâm bất thiện. Đức Phật dạy rằng, trong 100 ngàn người thì chỉ có một người tái sinh ở cảnh giới an vui, số lượng còn lại rơi vào cõi khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, atula. Khi tạo hành động thiện, mà chúng ta không sử dụng vào mục đích tốt đẹp thì chắc chắn chúng ta sẽ rơi vào cảnh giới súc sanh. Nếu dính mắc mình sẽ tái sinh thành các con vật như con chó giữ nhà, canh giữ tài sản khỏi bị đánh mất. Khi thực hành đúng Pháp, chúng ta sẽ thấy không có ai hết, không có nam nữ, chỉ có nhân quả hoạt động.
Với hiểu biết đúng này, chúng ta sẽ không còn dính mắc vào bất kỳ đối tượng nào, chúng ta chỉ thấy một chuỗi nhân quả đang hoạt động. Vì có nhân nên có quả sanh khởi. Ngay kiếp hiện tại, khi chúng ta nhìn thấy điều không tốt xảy đến với mình và người khác. Nếu hiểu đúng, chúng ta sẽ biết rằng vì quá khứ đã có những nhân bất thiện nên hiện tại cho ra những quả bất thiện. Với sự hiểu biết đúng, chúng ta cũng thấy được chính mình và người khác, thấy được nhân bất thiện đã gieo nên phải gặt quả xấu. Nếu trong quá khứ chúng ta để tâm và cẩn trọng trong từng hành động, chúng ta làm nhiều điều thiện thì chắc chắn trong hiện tại sẽ cho nhiều quả lành tốt đẹp.
Thường thì chúng ta có những tư tưởng sai lạc như “tôi có cái này, anh ta có cái kia, vật này của tôi, vật kia của bạn”… khi chấp vào “tôi” là chúng ta đã hiểu sai. Làm với hiểu biết chân chánh, chúng ta chỉ thấy có hành động làm, cho dù nó xảy ra theo nhân duyên của nó, nó có tốt hay xấu cũng chỉ là bản chất (của pháp) mà thôi, chúng ta không dính mắc. Khi có việc sanh khởi, chúng ta có thể tìm nguyên nhân mà mình đã làm. Những hành động bố thí, trì giới, tham thiền cần được làm với tác ý không chỉ cho mỗi người mà còn cho mọi người. Làm với tác ý chân chánh như vậy, chúng ta phải hướng tâm đến sự dứt bỏ. Khi làm thiện cho người khác với hiểu biết đúng, chúng ta sẽ thấy từng hành động của mình sanh khởi và diệt đi, khi đó ta thấy được Khổ đế hay Sự thật của khổ. Mỗi chúng ta ai cũng có thể làm được như vậy là điều rất tốt đẹp. Làm việc mà chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân hay cho người thân của mình là chúng ta đang tạo nhân bất thiện. Chỉ sử dụng cho riêng mỗi chúng ta, thỏa mãn nhu cầu ăn uống của mình cũng như gia đình thì tâm bất thiện sanh khởi.

Bố thí, trì giới, tham thiền là các nhân thiện. Điều thiện lớn nhất khi làm các việc thiện này là không có sự dính mắc, chúng ta chỉ thấy có danh sắc và tiến trình sinh diệt của nó. Khi làm chúng ta biết rằng chỉ là làm, chỉ để sử dụng mà không có ai ở đây. Không có nam, nữ, người này, người kia, chỉ có tiến trình sanh diệt là bản chất thật của Pháp, đó là điều thiện tối hậu nhất. Một hành động trọn vẹn là một hành động được làm với chánh niệm tỉnh giác, có hiểu biết đúng, và không có dính mắc ở đó. Với hiểu biết đúng của mình, khi làm bất cứ việc gì chỉ hay biết đơn thuần là làm, là sử dụng, không có dính mắc thì chúng ta mới có sự hiểu biết đúng thật sự. Đó là Pháp thực sự. Tôi mong rằng tất cả chúng ta được tái sinh trong kiếp người này đều cố gắng thực hiện các việc làm với sự hiểu biết chân chánh. Với hiểu biết chân chánh chúng ta sẽ chấm dứt được khổ đau.