Thứ Hai, 14 tháng 8, 2017



Một số nét tiêu biểu trong giáo lý Phật giáo Nguyên Thủy.
Pháp Thoại- Sư cô Hương Thiền
Khi bạn trở về nhà, mỗi ngày, hãy tập để có thái độ của một người đã cống hiến đời mình cho sự tu tập. Cố gắng đừng đem những lo âu, phiền muộn trong công việc về nhà với mình. Khi bạn về đến nhà, hãy để chúng qua một bên. Nếu bạn có một bàn thờ nhỏ tại nhà, bạn có thể dành chút thời gian để lễ Phật và tụng Kinh - chỉ để tự đặt mình vào một không gian thích hợp. Và dĩ nhiên bạn phải hành thiền nữa. Hãy cố gắng tập duy trì sự tự kỷ luật và động cơ để thực tập như vậy một cách đều đặn. Bởi vì nếu bạn tập để có một thói quen đều đặn, bạn sẽ thấy rằng bạn luôn luôn có thể tự nạp năng lượng cho những nỗ lực của mình trong việc thực hành, luôn khơi lại lòng tịnh tín của bạn đối với những lời dạy của Đức Phật. Cho đến khi nào mà chúng ta vẫn duy trì sự nỗ lực chân chánh đó, sẽ luôn có một nguồn năng lượng tiềm tàng ở đó. Cho dẫu chúng ta chưa có được sự an tịnh một cách hoàn hảo, chúng ta thấy rằng chúng ta vẫn có được sự nhiệt tâm. Điều này giúp chúng ta cưỡng lại được những tâm trạng bình thường cũng như những trạng thái bất thiện của tâm mà chúng ta có thể vướng vào trong đó. Những gì mà chúng ta phải cẩn thận là tránh đừng để trở nên lười biếng hoặc sao lãng. Nếu chúng ta không tập cho mình những thói quen tốt và sự tự kỷ luật, việc thực hành có thể trở nên vá víu, có nghĩa đôi lúc chúng ta thực hành, đôi lúc lại không. Dần dần những thói quen bất thiện của tâm sẽ có cơ hội quay trở lại, và ngay cả khi chúng ta hành thiền, tâm vẫn bị kẹt vào trong luồng suy nghĩ không dứt và vọng niệm. Cuối cùng, chúng ta thấy rằng việc thực hành của chúng ta chẳng đáng bỏ công, chẳng đi đến đâu và chúng ta có thể bỏ cuộc. Vì vậy chúng ta phải duy trì động lực đó. Hãy tìm cách để đưa nỗ lực của chúng ta vào sự thực hành, cho dù là nhỏ, bởi vì nó luôn giúp để tiếp năng lượng cho tâm và giúp nuôi dưỡng động cơ của chúng ta. Cho đến khi nào bạn còn có nó, bạn sẽ có thể tiếp tục thực hành.
Trước khi tôi trở thành một nhà sư, tôi đã có một công việc ổn định. Tôi thường đi làm và trở về nhà vào buổi chiều. Nhưng do tôi thấy giá trị của thiền tập, tôi luôn luôn cố gắng dành thời gian vào buổi tối để nỗ lực thực hành. Cho dẫu tôi cảm thấy mệt mỏi hoặc kiệt sức như thế nào đi chăng nữa, tôi vẫn dành ra một giờ đồng hồ để tụng kinh và hành thiền. Và tôi thấy rằng do sự nỗ lực cố gắng đó, tôi trở nên bình an, định tĩnh và tất cả những cảm giác mệt mỏi đều biến mất. Tôi cảm thấy tươi mới trong việc thực hành của mình và điều này đã truyền cảm hứng cho tôi tiếp tục thực hành. Hãy duy trì động cơ và những nỗ lực chân chánh của mình, và rồi chúng ta sẽ thấy rằng những chánh niệm và trí tuệ của chúng ta sẽ phát triển ngày càng vững chắc.
Trích sách: Tìm về Sự Thật

Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2017

 CHO ĐI LÀ HẠNH PHÚC VÀ SỬA ĐỔI NHIỀU THÓI XẤU
Khi bạn làm từ thiện, bạn có thể mất đi thời gian, công sức, của cải, nhưng điều bạn được sẽ rất nhiều. Chính vì vậy chúng tôi tri ân những người cho mình cơ hội làm từ thiện để chúng tôi nhận ra sự dính mắc, sự lười biếng, thói ích kỷ…vv của mình, nhận ra để rồi thay đổi. Chúng tôi cũng tri ân những người đã nhận món quà của mình bởi khi đem cho tôi thấy mình vẫn an ổn (mặc dù tài sản có phần ít hơn) giúp tôi bằng lòng và trân trọng hơn những gì mình đang có. Cho đi sẽ hạnh phúc, ý niệm này không tự động đến trong tâm trí chúng ta, chúng ta luôn nghĩ là phải Nhận mới là hạnh phúc, còn Cho thì là sự hy sinh, nhưng khi thực tập bố thí, làm từ thiện ta mới thấy có "hạnh phúc trong sự hiến dâng".


NẮM GIỮ LÀ BẤT HẠNH
Hãy nhìn sâu vào việc mình nắm giữ tài sản, sẽ thấy một khối cảm giác nặng nề, dính mắc vì càng nắm giữ thì càng thấy mình cần nhiều hơn, nhiều hơn nữa, lo lắng sợ mất khối các tài sản đó. Nhưng khi mở lòng giúp đỡ người khác, ta thấy mình đủ đầy hơn nhiều người, thấy ta “giàu có tài sản” rồi, và dần dần trở nên “giàu có tinh thần” hơn. Càng biết cho đi ta càng phá đi được bức rào cản mà con người ta ngăn cách nhau bằng tiền: Tiền trao cháo múc để người gần với người hơn, để ta thấy ấm lòng mỗi khi 1 vật được trao đến tay người nhận và tâm hồn người cho và nhận đều dịu lại, người gần với người hơn.


Nếu làm từ thiện để muốn chứng tỏ bản thân, để xây dựng thương hiệu cá nhân…vv nghĩa là động cơ của việc từ thiện là “thả vật chất” để “ bắt tinh thần”. Tuy nhiên, đây là tinh thần nắm giữ, phát triển, làm phình to cái Tôi. Thay nắm giữ vật chất bằng nắm giữ thanh danh, sự bất an đã rình rập ngay tại đó rồi: Bởi vì khi cái Tôi đứng đằng sau 1 việc thiện thì cái tôi đó chi phối mọi hoạt động, mọi người xung quanh. Ai có ý tưởng trái chiều, có hành động không theo “quyết định của Tôi” thì sẽ dẫn đến sự giận dữ, sự đối kháng. Đây cũng chính là lý do tại sao các nhóm tình nguyện, nhóm từ thiện không tồn tại được lâu dài, phần lớn mang tính tự phát bởi từng cá nhân, hoặc lãnh đạo nhóm làm từ thiện để thỏa mãn thanh danh, thỏa mãn cái Tôi quyền lực, Tôi ảnh hưởng lớn, Tôi, Tôi... và Tôi.


Chỉ khi bạn làm từ thiện để xả bớt tâm tham, và để giảm cái Tôi chi phối, khi đó thiện mới thực sự là thiện, và năng lực của thiện mới đem lại cho bạn và người cùng đội ngũ sự an vui. Khi tâm nhuốm màu tham hay cái Tôi, bạn làm từ thiện nhưng sẽ phải trả giá là trạng thái tâm bất an của mình. Bạn mất công sức, tiền bạc để giúp người khác nhưng lại để nuôi lớn tâm tham và cái Tôi, chẳng bao lâu bạn là kẻ bất hạnh, và việc từ thiện cũng theo đó mà...dừng lại.


KHÔNG CÓ AI CHO VÀ NHẬN
Nếu chúng ta sống trong môi trường toàn những người chỉ Nhận, không bao giờ Cho, tâm chúng ta thật khó lòng mở ra mà Nhận- không sợ hãi và Cho - không tính toán, nhưng nếu bạn có điều kiện hơn ai đó, thì bạn cho họ không chỉ là tài sản vật chất, bạn đang tặng họ cơ hội để học cách biết đem cho, cơ hội để nếm hương vị giải thoát khỏi lòng tham nắm giữ.


Nhóm TGĐT ít khi làm từ thiện vật chất, chúng tôi muốn tặng mọi người những hiểu biết (từ Đức Phật) để họ biết mở lòng đem cho những gì họ có thể, để họ cũng được nếm hương vị giải thoát lòng tham như chúng tôi. Trên đời không ai nghèo cả vật chất đến tinh thần đến mức không thể đem cho bất cứ thứ gì, 1 nụ cười, 1 sự giúp đỡ, 1 miếng ăn khi đói, ai cũng làm được cả. Ai cũng có thể là người cho và người nhận, miễn là chúng ta học cách cho và nhận cho đúng mà thôi. Hãy Nhận để mà Cho, hãy Cho để mà.
- Sư cô Hương Thiền-
Ai thấy SỰ THẬT ngay nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, nơi tất cả cảm giác cảm xúc, nơi những phản ứng, những thái độ, những trạng thái nội tâm, nơi sự tương giao và mối quan hệ với vạn pháp xung quanh…người ấy dễ thông suốt toàn bộ lời dạy của Phật mà không bị giới hạn bởi ngôn ngữ được thuật lại trong kinh điển.
SỰ THẬT ở đây là mọi thứ được sinh ra rồi diệt đi, mà không có linh hồn, bản ngã, chủ thể nào cả, tất cả chỉ là các hiện tượng tự nhiên.
KHÔNG CÓ CÁI TA...NÊN CŨNG ĐỪNG NẮM CÁC THỨ CỦA TA.
- Sư Cô Hương Thiền -
HỎI:
Con có quen biết 1 đôi vợ chồng diễn viên nổi tiếng, họ giàu sang, xinh đẹp, tài năng nên là niềm mơ ước của nhiều người nhưng con thấy họ sống rất căng thẳng, mệt mỏi, cả 2 đều ngoại tình, lăng nhăng nên chính họ khổ, con cái cũng khổ, nhiều lúc con thấy họ còn đáng thương hơn con là người bình thường nhưng sống vui vẻ.
ĐÁP:
- Mở đầu xin hỏi, với 1 chân đi trên thảm đỏ êm ái và 1 chân còn lại đi trên đá nóng, cứng, rát, lúc đó quý vị thấy sao? Có thực sự sung sướng ???.Và họ cũng vậy, dù họ đẹp, giàu có, nổi tiếng, nhưng cũng khổ vì áp lực của sự nổi tiếng, căng thẳng, khủng hoảng, đố kỵ, ghen ghét.
- Họ tìm kiếm những mối quan hệ ngoài luồng vì cảm giác chán ghét cái cũ, cái ko ưng ý để tìm cầu cái mới lạ, ưng ý mà thôi, rồi cái mới trở thành cũ, cái ưng ý lộ ra những điều không ưng ý mới….vòng quay lại lặp lại. Ngay từ khi cưới vợ dựng chồng, nếu họ biết sẽ có 1 ngày mọi thứ sẽ đổi thay, có lẽ nhiều điều sẽ khác, trải qua nhiều những cuộc tình, biết nó sẽ thế nào....có lẽ họ sẽ phản ứng khác
- Tuy có 1 khối tài sản lớn, tài năng vượt trội nhưng họ vẫn đau khổ bởi không thể kéo dài mãi niềm vui, không thay đổi được mình và người khác như mong muốn. Chúng ta cũng vậy, có chăng chúng ta học Phật để xây dựng được cho mình khả năng chấp nhận sự thay đổi ấy
- Cái cần ghìn giữ không phải là cảm giác thích thú, ưng ý trong các mối quan hệ, mà là sự tự trọng, sự chân thực, sự vị tha, tính thông cảm trong mỗi người mà Phật giáo gọi chung là Giới Hạnh
- Tài sản lớn>>> Dễ thỏa mãn giác quan>>> Lòng ham muốn càng nhiều>>> càng phải biết cách kiểm soát, chế ngự, điều tiết các trạng thái tâm >>> càng phải phát triển hiểu biết đúng về chính mình và mọi người. Điều này Phật giáo gọi chung là Trí Tuệ.
Chẳng phải người giàu sang mới cần phát triển điều này, tất cả đều cần phát triển Giới Hạnh và Trí tuệ, nhưng giàu lên bao nhiêu thì khả năng đối diện với những sự " hiểm nguy trong vị ngọt ẩn tàng" cũng phải cao dường như thế.
- Sư cô Hương Thiền -
HỎI: "Tại sao con luôn sống tử tế, sẵn sàng giúp đỡ mọi người và chưa bao giờ làm hại bất kỳ ai mà toàn bị người đời tìm cách hãm hại và toàn gặp chuyện xui xẻo như thế này? Con cảm thấy cuộc đời rất bất công, nhiều khi muốn buông xuôi tất cả. Xin sư cô cho con lời khuyên?"

ĐÁP:
- Thực sự quý vị đã hoàn toàn tốt đẹp??? hay động cơ bên trong vẫn còn nhuốm màu vị kỷ, phục vụ cho cái Tôi và của Tôi. Chỉ khi hành thiền mới nhận ra được " thế lực phiền não" nào đang điều khiển mình.
- Chính những suy nghĩ so sánh, đánh giá này nói lên bạn luôn bất an, mà nội tâm bất an thì hành động, lời nói cũng đem đến phiền não, bất an cho người khác- đó là quy luật tất yếu. Bạn chưa phải là một nguồn suối an lành cho ng khác như bạn tưởng đâu.
- Nếu thực sự tốt thì Nhân Quả sẽ trả lời khi các điều kiện hội tụ, còn nếu bị xui xẻo, vẫn nên tự xét lại mình 1 cách sâu sắc hơn. Chỉ có sự bình an nội tâm, hiểu biết sẽ khiến cho mọi việc ổn định lại, còn việc làm tốt nhưng động cơ chưa tốt, hoặc thái độ xấu ngầm bên trong thì chưa phải là Nhân tốt để chắc chắn ra quả Tốt được.
- Suy cho cùng, sự xui xẻo hiện nay cũng chưa chắc là dở vì bài học này quý vị được học khi còn trẻ, còn có khả năng tư duy và thay đổi thì khó khăn này trở thành cơ hội để trưởng thành. Con người ta dễ ngủ quên trên đệm êm lắm.
- Và ý cuối cùng...thì ĐỪNG QUAN TÂM ĐẾN KẾT QUẢ, HÃY TẠO NHÂN LÀNH, KẾT QUẢ SẼ TỰ ĐẾN.
Thân mến!
- Sư cô Hương Thiền -

Thứ Bảy, 12 tháng 8, 2017

ĐỂ CẦU PHÚC CẦU LỘC. Nếu Cầu mà được thì chúng tôi, những người tu chắc chắn không già, bệnh, chết…
*********
- Bước Chân Vào Cổng Chùa, người Phật tử đã có tâm cúng kính những bậc Cao thượng, lạy Phật hạ mình có tâm khiêm tốn, dọn dẹp, lau chùi do có tâm phục vụ, dâng cúng vật dụng, y áo, thuốc men có tâm cúng dường bỏ Tham. Các thiện tâm được phát triển ngay từ đây
- Khi Hành Lễ, người Phật tử Phật giáo nguyên thủy thường xuyên QUY Y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), quy y là noi gương, là học hỏi theo gương các bậc thiện trí cao thượng, nhằm phát triển tính thiện, trí tuệ ngay trong bản thân mình, không phải để cầu xin cứu độ từ 1 vị Phật, vị Thần nào.
- NGUYỆN GIỮ 5 ĐIỀU ĐẠO ĐỨC (ngũ giới), tự mình sẽ cố ý tránh xa việc sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, dùng chất kích thích để đem lại an toàn cho mình và mọi người xung quanh.

-TỤNG KINH: Với lời chỉ dạy rõ ràng để nhớ, suy xét và thực hành theo. Kinh dạy sự yêu thương, chia sẻ, nhường nhịn, dạy những chân lý cuộc đời cần thẩm định, dạy sự thay đổi chính mình để đời này đẹp hơn, dạy sự buông bỏ những dính mắc, phiền lụy, dạy sự an vui trong hiện tại bằng lòng biết đủ...vv

- TU TẬP THIỀN:
Các Thời Tu Tập như niệm Phật, ngồi thiền Định, thiền hành là để lắng tâm, để cột cái tâm “con khỉ” của mình vào hiện tại, không bất an, sợ hãi hay nghĩ về quá khứ, tương lai. Dần dần người hành thiền với tâm an ổn sẽ bước vào quá trình thanh tịnh tâm bằng cách tự mình quán chiếu với trí tuệ. Người thực hành thiền Tuệ sẽ tự mình chuyển hóa nội tâm hướng đến cuộc sống an lạc và hài hòa; nhờ vậy họ sẽ góp phần xây dựng đời sống xã hội trở nên lành mạnh, an bình và thịnh vượng hơn.
- NGHE GIẢNG PHÁP: Bên cạnh đó không thể thiếu các thời nghe giảng Phật Pháp để biết, để hiểu, và để được định hướng cuộc sống giữa biển đời đang quá nhiều hỗn loạn như hiện nay.

- HỒI HƯỚNG CHIA PHƯỚC: Đây là hành động xuất phát từ việc hiểu biết Nhân- Quả, có lòng tin rằng mình đã làm những điều thiện như trên sẽ phát sinh Quả thiện (Phước), ta chia phước đó tới tất cả, đây không phải như miếng bánh chia nhỏ nhiều phần mà khi tâm hoan hỷ báo truyền việc thiện đã được làm sẽ kích thích thiện tâm ngủ ngầm của người xung quanh để họ biết hoan hỷ với việc thiện mình làm, khi việc thiện mình làm được mình và người khác hoan hỷ thì điều thiện đó sẽ có năng lực lan tỏa, truyền xa rộng.

VẬY ĐÓ!>>>> Đi chùa không để cầu xin, không để an ổn nhất thời hay theo xu hướng đám đông
Đi chùa trước hết để tích Phước do làm thiện, để học cách tạo phước khi về nhà, ra xã hội.
Tiếp đó đến chùa học cách xả ly, để làm phước mà không tham vào Phước đó. Khi biết tu tập rồi, trí tuệ sẽ có mặt dần dần đẩy lùi Tham, Sân, Si, Ngã Mạn, Hoài nghi, Đố kỵ…vv Đó chính là giá trị của việc Đi Chùa
- Sư cô Hương Thiền -
xxx CÓ THỜ ở đây không phải là lập bàn thờ hay đắp mộ đúng hướng, to đẹp mà lễ lạy, thắp hương, đốt vàng mã, van xin … việc lập bàn thờ mang ý nghĩa tưởng nhớ, tri ân, nhưng quan trọng hơn thì
- Thờ Cha Mẹ và các bậc tổ tiên,bậc thầy: cung kính, phục vụ, phụng dưỡng, làm vừa ý…Xem lời Phật dạy về điều này tại đây
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong31.htm
- Thờ Phật: NOI GƯƠNG, TRI ÂN. Phật Thích Ca Mâu Ni- vị Phật có thật mà cả đời nêu gương sống thiện lành, trí tuệ và chỉ dẫn cho mọi người thì chúng ta nên lập bàn thờ để nhớ nghĩ đến Ân đức Ngài, để Noi gương, Tri ân Ngài và phải sống theo những lời dạy, gương lành Từ bi, Trí tuệ của Ngài mới thực là Thờ Phật
xxx CÓ THIÊNG!
Khi quý vị thực hành theo những gì Đức Phật chỉ dạy nghĩa là Thờ ngài đúng cách, chúng ta sẽ có cuộc sống an lạc, bình tĩnh, hòa thuận, sức khỏe…vậy không phải thiêng là gì?
Chúng ta hay nghĩ cái thiêng ở đây là Đức Phật cho ta tiền bạc, chức tước, nhưng người nghèo hay giàu vẫn khổ, người chức tước quyền quý hay bần hàn cũng vẫn bất an, hạnh phúc không tỷ lệ với tiền bạc chức tước. Tu tập theo Đạo Phật đạt những sự “Thiêng”cao hơn thế nhiều. Hãy cố gắng hướng đến thứ hạnh phúc cao thượng hơn từ việc cúng dường, giữ đạo đức và trau dồi hiểu biết đúng chân lý cuộc sống. Nếu chỉ lập bàn thờ rồi van vái cầu xin, thuê người cúng tế thì chỉ thêm tốn kém, mất thời gian và thêm sợ hãi.
xxx CÓ KIÊNG
Kiêng đây không phải kiêng quét nhà ngày Tết, kiêng không xuất hành ngày mùng 5, hay kiêng tuổi X xông đất đầu năm…vv.
Phải Kiêng, Rất nên kiêng, nhưng là kiêng sát sinh, kiêng trộm cắp, kiêng tà dâm, kiêng nói dối và kiêng sử dụng chất kích thích.
Vậy kiêng vậy có Lành không?
xxx Chắc chắn CÓ LÀNH!
Kiêng sát sinh thì có sự từ bi, ít sân hận, ít sợ hãi.
Kiêng Trộm cắp thì bớt tham lam, sự nghiệp ổn định không bị đổ bể.
Kiêng Tà dâm thì gia đình hòa thuận, không có kẻ thù, không bị ghét bỏ
Kiêng nói dối thì được tin tưởng, tâm không bất an sợ hãi
Kiêng dùng chất kích thích thì tâm lý ổn định, dễ bình tĩnh, chăm chỉ cố gắng…vv
Kiêng là vậy>>> và sẽ được rất nhiều điều Lành cho mình, gia đình và xã hội. Có những tính cách thiện lành như vậy thì danh vọng, tài lộc cũng sẽ tới, và tới một cách bền vững.
VẬY QUÝ VỊ THẤY KHÔNG? CÓ THỜ ĐÚNG MỚI CÓ THIÊNG, MÀ CÓ KIÊNG ĐÚNG MỚI CÓ LÀNH!
Đức Phật dạy rằng người nam và nữ trói buộc nhau bởi NGOẠI HÌNH, TIẾNG CƯỜI, LỜI NÓI, LỜI CA, NƯỚC MẮT, TRANG PHỤC, QUÀ TẶNG VÀ SỰ XÚC CHẠM, bị khéo trói buộc bởi các điều ấy, giống như trói buộc bởi bẫy sập"
Tăng Chi Bộ Kinh, chương 8 Pháp, Phẩm Lớn, Phần Sự trói buộc của Nữ Nhân
http://www.budsas.org/u…/u-kinh-tangchibo/tangchi08-0103.htm
..............
Trong ngày này, ngày kỷ niệm tình yêu, những quý vị Phật tử còn đang sống đời vợ chồng, tình yêu đôi lứa thì chính là người giăng bẫy và sập bẫy. Nhưng chúng ta có thể đặt bẫy đó khác đi, sâu sắc và ý nghĩa hơn thì mọi sự cũng khác rất nhiều
- Ngoại hình đẹp không chỉ nhờ Trang Sức, nụ cười mà nhờ tinh thần biết yêu thương, từ ái, giữ đạo đức, và thêm sự tu tập thiền làm nên nét đẹp của sự tự tin, thành thật, ổn định, bình tĩnh, hiểu biết…vv từ tâm tính sẽ hiện ra hình thức.
- Lời nói hay, lời ca hay nụ cười duyên không chỉ ở sự nhẹ nhàng, dễ thương mà còn ở sự chân thật, hài hòa, không dối trá đâm thọc, vô ích hay độc ác
- Quà tặng không chỉ là vật chất, món quà quý hơn hoa, socola hay trang sức, tiền bạc nhiều đó là sự sẻ chia, thấu hiểu, đùm bọc, tôn trọng, an toàn…vv
- Nước mắt không nên chỉ khóc vì mình mà còn vì mọi người
- Xúc chạm không chỉ là sự êm ái nồng nàn cảm nhận giữa hai bên nam, nữ mà còn cùng nhau đem đến sự êm ái, tri ân xoa dịu trong những cái nắm tay, xoa lưng dành cho cha mẹ, ân nhân và tất cả những ai cần chia sẻ.
..................
Chúc Quý vị giăng bẫy và sập bẫy bởi những điều trên thì ít nhiều cũng đỡ đau đớn.-
- Sư cô Hương Thiền -
Sư Cô ơi con phải kiếm tiền
Sư Cô ơi con phải lo cho sức khỏe sau này
Sư Cô ơi con của con nó cần con lúc này, con giúp nó để sau này nó có trách nhiệm với con!
Quý vị có thể dựa vào được tài sản, sức khỏe, con của mình không? Hay ngoài kia có hàng triệu bằng chứng rằng KHÓ LẮM!
Nhưng quý vị có thể dựa được vào Phước của các việc thiện mình làm, và dựa được vào Hiểu Biết của chính mình
Điều đó là CHẮC CHẮN! vì điều đó hợp với luật Nhân Quả, luật mạnh nhất thế gian, và sự “dựa” đó không cần đợi về già, khi có đủ tiền, khi con lớn…mà có thể dựa ngay lúc này (khi mọi thứ đang thay đổi, mọi điều đều có thể xảy ra).
Khi bạn làm thiện pháp (bố thí, giữ giới, hành thiền với hiểu biết đúng), ở ngay đó Phước phát sinh rồi, và điều này thì KHÔNG CẦN CHỜ ĐỢI.
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang ngồi, cây, bàn, thực vật, ngoài trời và thiên nhiên
Vậy là ngày kỷ niệm mừng Phụ Nữ 8/3 sắp tới, đa phần những người đàn ông sẽ nhìn lại những người phụ nữ quanh anh ta: yêu thương, tôn trọng, tri ân, chăm sóc. Từ nhiều năm về trước phụ nữ đã phải lên tiếng để đòi quyền bình đẳng với người Nam về quyền được tự do, quyền được bảo vệ…vv
Nhưng ngày này gợi tôi nhớ đến vị Thánh nữ Gotami,từ gần 2600 năm trước đây, bà đã là người giúp cho chúng tôi (những người nữ xuất gia dưới ánh sáng Phật giáo nguyên thủy) cơ hội để bình đẳng trước quyền được từ bỏ những dục lạc thế gian, quyền được tu học với Đạo Sư (Thầy) mà mình ngưỡng mộ -Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, vị Phật duy nhất có thật trong lịch sử,
Chúng ta, những Phật tử nữ, khi xuất gia vào hàng ngũ người tu, chúng ta có rất nhiều khó khăn, nhưng chúng ta bình đẳng, chúng ta bình đẳng hoàn toàn trước quý vị người Nam về quyền được giải thoát khỏi Tham, Sân, Si, quyền được đạt đến tự do,trí tuệ tối hậu để vượt khỏi sinh tử luân hồi.
Có nhiều người sẽ thắc mắc về những quy định của Đạo Phật dường như không công bằng cho người nữ, nhưng tôi hiểu khác, tôi hiểu rằng để người nữ “ xếp bên dưới” càng có nhiều cơ hội để tu tập, giảm phần ngã mạn, và người tu là Nam, với trọng trách gánh vác càng phải sống xứng đáng hơn. Người nam ở địa vị cao thật ra phải mang gánh nặng của việc tu tập làm sao cho xứng với vị trí “ xếp trên cao”
Rồi nữa, Đoàn thể những người xuất gia có nam có nữ, việc chế định giới luật tạo nên 1 bức tường thành cực kỳ vững chắc ngăn cách, giới hạn mối quan hệ ở tình giao hảo thích nghi giữa hai giới.
Làm tu nữ của Phật giáo nguyên thủy có nhiều khó khăn lắm, nhưng khi hoan hỷ xuất gia không vì lợi ích thế tục, vì một môi trường sống giá trị và lợi ích cho mình và số đông, những thiệt thòi, khó khăn do làm thân Nữ sẽ vượt qua được. Sống dựa vào Phước và Tuệ trong những ngày sống cùng thiện pháp quan trọng hơn rất nhiều việc được gọi tên là gì, vị trí ra sao.
Hỡi các em (vì so tuổi đạo quý vị ít hơn, tuổi đời có thể nhiều hơn tôi nhiều) Hỡi các nữ Phật tử, hãy dũng cảm bước trên con đường chông gai mà bậc Đạo sư đã tìm ra, và các thế hệ Thánh Ni đã đi trước làm gương, con đường tuy xa và gian khó nhưng ánh sáng phía trước lại huy hoàng…Hãy lên đường, hãy thử sức, hãy đến để mà thấy…
NGÀY 8/3 CHÚC CÁC BẠN PHẬT TỬ NỮ THÊM PHẦN DŨNG CẢM ĐỂ CHỌN CON ĐƯỜNG KHÓ KHĂN NHƯNG Ý NGHĨA.
Ảnh: Thánh Ni Gotami, khi chưa xuất gia, tay bế thái tử Gotama, người sau này thành Đức Phật Thích Ca. Bà chính là dì ruột và cũng là dưỡng mẫu lẫn kế mẫu của thái tử, và là vị Ni trưởng đầu tiên của Phật giáo.
- Sư cô Hương Thiền -
Trong Phật giáo Nguyên Thủy, CỨU ĐỘ NGHĨA LÀ GIÚP CHÚNG SINH TỰ CỨU.
................................
Nếu Đức Phật có thể cứu độ tất cả chúng sinh, hay vị Bồ Tát nào đó có thể xuống hỏa ngục cứu độ hết chúng sinh thì đâu cần nhiều Phật, nhiều Bồ Tát như hiện nay ở nhiều chùa đang thờ cúng, chỉ cần 1 vị đã đủ rồi.
Ngày nay chúng ta biết đến giáo lý của Phật Thích Ca, nhưng chúng ta cũng không được Ngài " cứu vớt" nên mới đang ở đây, vẫn chưa giải thoát, chết vẫn luân hồi. Như vậy chính Đức Phật cũng không thể cứu độ chúng sinh bằng cách đưa tay vớt lên. Trong Phật giáo, CỨU ĐỘ NGHĨA LÀ GIÚP CHÚNG SINH TỰ CỨU.
Dù cho nhiều vị Phật đã ra đời rồi nhập Niết Bàn, nhưng luôn luôn lúc nào cũng sẽ có những chúng sinh chưa được Phật cứu nên sẽ còn những vị Phật khác xuất hiện trên thế gian này. Có hạnh nguyện cứu độ tất cả chúng sinh là tốt nhưng thực tế không thực hiện được.
Quá khứ đã có nhiều vị Phật, tương lai cũng vậy, có nhiều Phật và nhiều chúng sinh được cứu nhưng không phải là tất cả. Nếu chỉ khi nào tất cả chúng sinh được cứu độ các vị mới nhập Niết Bàn thì chẳng bao giờ các vị nhập được Niết Bàn cả. Và chúng ta cũng không thể có tâm lý sớm muộn mình cũng được cứu vì đã có các vị phát nguyện cứu mình, chỉ cần xếp hàng chờ đến lượt thôi.
Đừng nghĩ rằng "Cái đó là Của Ta"
Hãy tập cách nghĩ rằng "Cái đó Đến Với Ta"
Khi đủ các điều kiện, nó phát sinh cho ta sử dụng, thế rồi khi các điều kiện tan biến, chúng sẽ ra đi...
>>> Biết như vậy, ta cẩn thận khi đón nhận mọi thứ, vì biết rằng sẽ có cái hiểu sai phát sinh, nhận vơ rằng nó là Của Mình.
>>> Biết như vậy, ta cẩn thận quan sát mình khi sử dụng mọi thứ, đừng để những cảm giác thích thú/ khó chịu do chúng đem lại thấm đẫm trong tâm, tràn ngập tâm, làm ta mất đi hoàn toàn sự trong sạch và ổn định của tâm.
>>> Biết như vậy, ta quán tưởng luôn luôn những điều ta yêu thích: Tuổi trẻ, Sức khỏe, Người thân... rồi sẽ ra đi theo Nghiệp.
- Sư cô Hương Thiền-
Nhiều người Việt Nam mình biết đến danh vị Tam Tạng thường qua phim Tôn Ngộ Không đi thỉnh kinh cùng sư phụ, Tam tạng như một nhân vật hư cấu chỉ có trong tiểu thuyết và cách sống từ bi nhưng ngây ngô này của nhân vật làm chúng ta hiểu nhầm rất nhiều về danh vị này, cũng như vô số những hiểu lầm khác mà người Việt hiểu sai về Đạo Phật
TAM TẠNG chính là danh vị trao tặng cho một số lượng rất hiếm những vị sư chuyên sâu về pháp học (lý thuyết Phật Pháp) ở đất nước Myanmar thông qua các kỳ thi dài và khó nhất thế giới (kéo dài khoảng 5 năm).
Các vị thi phải thể hiện khả năng ghi nhớ và phải tụng đọc Tam tạng Kinh điển bằng tiếng Pali (dày đến 8026 trang giấy, hơn 2.400.000 từ bằng tiếng Pali) và phải viết chính xác hơn 200 quyển kinh sách bằng tiếng Pali.
Tam tạng kinh điển bằng tiếng Pali bao gồm tạng Kinh, Tạng Luật và tạng Vi Diệu Pháp.
Theo thống kê, từ năm 1949 đến 2004, trong vòng 56 năm, có hơn 10.000 Tăng sĩ tham dự kỳ thi Tam tạng Pháp sư, nhưng trong số đó chỉ có 11 vị vượt qua được cả kỳ thi đọc tụng và thi viết một cách rành mạch mà thôi. Từ 2004 đến nay chúng ta có thêm 2 vị Tam Tạng nữa
Chúng ta sử dụng sự phản tỉnh trí tuệ để quán chiếu Pháp (Dhamma), đặc biệt là ba đặc tướng của sự hiện hữu – vô thường, bất toại nguyện và vô ngã. Quán chiếu ba đặc tướng này sẽ giúp giảm bớt vọng tưởng thường làm cho tâm bị kích động. Sử dụng chánh niệm, hành thiền theo thời khóa và bây giờ là sự quán chiếu sẽ giúp cho tâm tỉnh giác hơn và làm giảm bớt sự tưởng tượng và mơ mộng. Chúng ta có thể ghi nhận kịp thời mọi ký ức, tâm trạng và suy nghĩ sanh khởi một cách nhanh chóng hơn và dần dần buông bỏ chúng. Càng buông bỏ càng nhiều vọng tưởng thì chúng ta càng giảm được sự căng thẳng và đau khổ.
Quán chiếu tâm này, cái tâm có xu hướng phóng đi lang thang, thích tưởng tượng, đi lạc vào quá khứ và tương lai. Chúng ta phải tự huấn luyện để thấy sự vật là không chắc chắn, là thay đổi, là vô thường. Cho dẫu chúng ta cố gắng hoạch định tương lai của mình như thế nào đi nữa, nó không bao giờ hóa ra như chúng ta nghĩ. Chúng ta có thể tiêu tốn nhiều thời gian vào loại suy nghĩ như thế này. Nhưng bởi vì chúng ta vẫn còn bị che lấp bởi si mê, những tâm hành này vẫn tiếp tục sanh khởi. Vì vậy một hành giả thiện xảo sẽ chuyên chú quan sát tâm mình, xem tất cả những hiện tượng phóng tâm này như là vô thường, bất toại nguyện và vô ngã. Nếu chúng ta tìm một cái ngã, một con người, một chúng sanh, một cái tôi thực thể hoặc ai đó trong những vọng tưởng này, chúng ta sẽ không thể tìm thấy. Đây được gọi là sử dụng sự vô thường, bất toại nguyện và vô ngã làm đề mục thiền.
Ngài Ajahn Chah thường nói rằng sử dụng ba đặc tướng này làm để mục thiền sẽ đưa đến việc trí tuệ sinh khởi. Nó có sức mạnh thay đổi được quan kiến sai lầm và sửa thẳng lại một cái tâm bị cong vẹo. Nhưng nếu trí tuệ không sinh khởi tột bực, đó là do định của chúng ta không đủ mạnh. Trong trường hợp đó, chúng ta phải quay lại và tái thiết lập chánh niệm tỉnh giác trên hơi thở vào và hơi thở ra, dành cho tâm thời gian để nghỉ ngơi trong sự an tĩnh của định.
Nếu chúng ta quán sát quá nhiều mà không làm cho tâm an tịnh trước tiên hết, chúng ta sẽ thấy suy nghĩ của chúng ta sinh khởi nối tiếp không ngừng, sinh khởi quá mức, và như vậy thì việc quán chiếu của chúng ta hóa ra chỉ là ngồi nhìn những vọng niệm của tâm. Đây không phải là cách đúng đắn để quán chiếu. Vì vậy, chúng ta phải quay lại và làm cho tâm an tịnh, dành cho nó thời gian để nghỉ ngơi và lấy lại sức mạnh. Bất kỳ phương pháp nào chúng ta sử dụng để an tâm, cho dù đó là chánh niệm trên hơi thở, niệm rải tâm từ, niệm Ân Đức Phật hay niệm sự chết, tất cả chúng đều đưa đến một kết quả như nhau.
Trích sách: Tìm về Sự Thật
Thiền và ...đàm phán!
.........................
Trong quá trình đàm phán thương thảo, nếu ta gặp phải đối tác " chuối" nhưng do biết điều tiết cảm xúc tốt người Doanh nhân không nóng giận, không tham lam, không mất bình tĩnh, nhờ vậy mà không lọt vào bẫy của họ.

Trí tuệ tốt: Người Doanh nhân biết được 1 vấn đề với đa chiều nhận thức do tâm trí cởi mở không dính mắc hay chối bỏ khía cạnh nào nên sẽ có phương án xử lý tốt nhất
Và cả 2 điều đó Điều tiết cảm xúc và trí tuệ đa chiều đều được phát triển nhờ Thiền, nhất là Thiền Vipassana của Phật giáo nguyên thủy.
- Sư Cô Hương Thiền-
BỒ TÁT LÀ AI?
MUỐN THÀNH PHẬT, PHẢI PHÁT NGUYỆN TU HÀNH RA SAO ?
Muốn thành Phật trước hết phải là Bồ Tát, để là Bồ Tát phải có hạnh nguyện trở thành Phật. Đầy đủ 8 yếu tố cực kỳ khó khăn để người đó thành 1 vị Bồ Tát
MỖI VỊ BỒ TÁT (SAU NÀY TRỞ THÀNH PHẬT) ĐỀU CÓ LỊCH SỬ GHI LẠI NƠI SINH, DÒNG DÕI, XUẤT GIA TẠI ĐÂU, THÀNH ĐẠO SAU BAO LÂU…VV. Ngày nay có rất nhiều Bồ Tát do người đời sau dựng nên đề thờ cúng van xin nhưng không có lịch sử và giáo lý truyền dạy. Chỉ có duy nhất giáo lý của Phật hiện tiền: Đức Thích Ca Mâu Ni là pháp tối thượng, đem đến chân lý và giải thoát rốt ráo mà thôi. Mọi người hãy cẩn thận để hiểu cho đúng điều gì ích lợi cho mình mà gắng công tìm hiểu, thực hành theo.
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
Có 8 yếu tố để trở thành Bồ Tát: Trong đó có điều rất khó khăn đó là phải gặp được 1 vị Phật còn sống và phát nguyện trước mặt vị Phật hiện tiền này. Vị ấy phải có sự mong muốn mãnh liệt đến độ sẵn sàng đi bộ từ đầu thế giới này đến đầu thế giới kia trên than đỏ để đạt chí nguyện. Quyết tâm dâng hiến mạnh mẽ, kể cả tính mạng mình để đạt quả vị Phật và có tiềm năng trở thành A la Hán giải thoát hoàn toàn.
Khi nào được Đức Phật hiện tiền tiên đoán (hay thọ ký) trở thành một vị Phật trong tương lai thì vị đó mới chính thức trở thành 1 vị Bồ Tát.
Sau đó vị Bồ Tát phải kiện toàn 10 ba la mật để trở thành Phật phải tích lũy nhiều đời, nhiều kiếp, tính theo A tăng kỳ kiếp trái đất và hàng trăm ngàn đại kiếp
Ví dụ về A tăng kỳ kiếp: Phật dạy một tảng đá vuông vức một do tuần (16 cây số ) cứ 100 năm , có một vị Chư Thiên bay xuống lấy tấm lụa quét qua một lượt . Bao giờ tảng đá mòn bằng mặt đất , được gọi là một A TĂNG KỲ .
Đại kiếp trái đất gồm 4 giai đọan Thành- Trụ -Hoại- Không của Trái đất
Nguồn: http://www.budsas.org/…/u-chanh-giac-tong/chanh-giac-03.htm…
và: http://www.thuviennguyenthuy.com/hieu-biet-tron-ven/
xxxxxxxxxxxxxxxxxxx
ẢNH: Xa xưa, Tiền Thân Đức Phật Thích Ca, Lấy Thân Trải Đường Cúng Dường Đức Phật Dipankara (Nhiên Đăng)Prabhapàla và được Phật Nhiên Đăng thọ ký: "Ông hoàng kia là một vị Phật tương lai. Bốn a tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp sau này ông ta sẽ thành Phật tên Cồ-đàm". Ðó là lời của Phật Nhiên Ðăng thọ ký cho ông hoàng Sumedha, sau này trở thành vị Thầy của chúng ta: Phật tổ Thích Ca.
“ Người còn sống đang tranh giành thừa kế
Người chết này chỉ có Nghiệp mang theo”
Nên khi cha mẹ, người thân còn sống hãy sống cho trọn vẹn ân tình, cuộc sống gia đình anh em vợ chồng hòa thuận sẽ làm an lòng cha mẹ và người con hướng được cha mẹ vào đường sống chân chính sẽ giúp họ được an vui hạnh phúc khi còn sống cũng như hưởng Phước khi đã mất.
Khi mất rồi thì vàng mã, xôi oản cho đến mả to, mộ đẹp đều vô ích. Phật dạy vào dịp này, nhớ nghĩ đến tổ tiên thì năng làm việc thiện: bố thí, phóng sinh, cúng dường, giữ giới, nghe Pháp, hành thiền rồi hồi hướng, chia phước cho ông bà, tổ tiên được thọ nhận và hoan hỉ với phước báu mà con cháu đã tạo được.
Người thân ngay khi chết đã tái sinh rồi, nếu họ đang ở trong cảnh khổ sẽ nhận được phước hồi hướng do họ hoan hỷ với việc thiện của gia chủ đã làm và chia phước cho họ. Nhờ sự hoan hỷ ấy mà thân tâm an lạc, đỡ khổ, biết vui, là duyên lành giúp họ tiêu giảm nghiệp bất thiện mà tái sinh sang cảnh an vui. Còn họ đang ở cảnh an vui thì sự an vui càng thêm tăng tiến
Nhiều người ấn tượng và thực hành theo lời nhắc chánh kiến trong thiền của Ngài thiền sư Ottamasara(Chỉ để sử dụng,chỉ để kinh nghiệm,chỉ để biết mà thôi,không dính mắc không chối bỏ) Họ thấy Chánh niệm kèm lời nhắc này sẽ có được sự Xả ly một phần trong tâm khi có phiền não. Bên cạnh đó còn có rất nhiều Pháp thiền Quán khác cũng dùng cách nhắc này cũng rất thú vị và sâu sắc.BƯỚC,BƯỚC, CHẠM,CHẠM,.... trong quán Thân để ko thấy có ai đang bước,đang cầm nắm.CHỈ LÀ CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN trong quán tâm,và CẢM THỌ CỦA AI, AI ĐANG CẢM THỌ trong quán thọ. Nhiều câu nhắc chánh kiến khi áp dụng cùng chánh niệm sẽ thấy vừa xả ly vừa kích thích tò mò tiếp tục chánh niệm,vô cùng thú vị trước sức mạnh xả ly của chánh kiến -HIỂU BIẾT ĐÚNG

Để trả lời cho 1 số bạn trong nhóm Vipassana tp HCM, tôi sẽ liệt kê kèm theo ít phân tích những giá trị của việc hành Thiền Vipassana khi áp dụng vào công việc, cuộc sống
Trước hết phải bắt đầu bằng 2 quan điểm rất quan trọng
1. Hành thiền không phải chỉ là lim dim ngồi thiền, hành thiền là lập ra 1 thói quen mới,thói quen Quan Sát Thân Tâm 1 cách khách quan trong hiện tại, cần áp dụng vào bất cứ thời điểm nào, tư thế nào.
2. Hành thiền là đào luyện, xây dựng, phát triển các phẩm chất tâm thiện như tâm kiên nhẫn, kiên quyết, khôn khéo, thận trọng, minh mẫn, khách quan, ổn định, không tham lam, không nóng giận, không mê mờ…vv, không phải Thiền là ngồi cho thật lâu để có 1 tâm yên lặng, ít suy nghĩ và để có cảm giác bình an nhất thời.

Tiếp theo Hương Thiền xin chia sẻ các giá trị của Thiện tâm khi chúng được áp dụng vào cuộc sống, công việc.

- Nhờ sự cần mẫn, chăm chỉ, kiên nhẫn được phát triển khi thiền, nên trong công việc giảm thiểu được những nóng vội, những quyết định chóng vánh để rồi sai lầm nghiêm trọng..vv

- Người hành thiền tâm tỉnh táo, sáng suốt hơn, khi đó họ trở nên nhạy bén, có khả năng hiểu rõ những tình trạng ở nhiều mức độ khác nhau, hiểu được các điều kiện hiện tại và cần khắc phục thế nào để đủ các điều kiện đưa tới thành công trong tương lai

- Công việc thường đem đến sự căng thẳng, ức chế,hành thiền cũng đem lại sự thư giãn đáng kể ngay cả cho các thiền sinh mới, tuy nhiên Thiền giúp tìm ra nguyên nhân gốc của sự căng thẳng, thông thường là do phải làm việc quá khả năng, hoặc do sự dính mắc, tham đắm kết quả công việc -Tham, hoặc do sự thúc đẩy của cái Tôi bản Ngã – Si mê .

- Thiền sinh giảm bớt được sự chán ghét và tham đắm, không hành động do bị cảm giác nhất thời chi phối sẽ nhận biết sự việc một cách khách quan hơn và như vậy cải thiện được quá trình giải quyết các vấn đề.

- Kinh nghiệm được sự an lạc chân thật của tinh thần, thực sự hưởng được thứ hạnh phúc nội tại không phụ thuộc ngoại cảnh nên không nắm giữ hay nổi giận với ngoại cảnh, và cảm nhận được hạnh phúc thông qua việc giảm bớt bản ngã. Anh ta/cô ta an ổn với thân tâm họ, bên ngoài chỉ là 1 đối tượng mờ, không đủ sức cuốn dòng cảm xúc và suy nghĩ của họ dời khỏi hiện tại, nên thiền sinh sống giữa dòng đời nhưng họ có cuộc sống nội tâm riêng an ổn cúa họ. Khi cần nghĩ và quyết định, họ quyết định với tâm bình an, khi đủ bình tĩnh chứ không quyết định do những xúc cảm mạnh mẽ nhất thời bị thúc đẩy bởi phiền não Tham, Sân, Si.

- Họ thiền là học Quan Sát Khách Quan các hiện tượng Thân, Tâm mình, khi đó tư tưởng xấu, quan điểm bất thiện được quan sát, nghiên cứu ngay khi nó mới xuất hiện, bằng cái nhìn ( bằng tâm) cẩn thận- nhưng thư giãn, chi tiết nhưng khách quan, kiên nhẫn nhưng công bằng, tỷ mỷ nhưng khôn khéo thì cái xấu/ bất thiện không thể “ bùng nổ” thành lời nói hay hành động xấu được. Cái xấu thường có 1 bề ngoài khá dễ thương nhưng nó sẽ không thể lừa được 1 đôi mắt tâm với phẩm chất như nói trên, và rồi nó sẽ dần lui bước . Khi có 1 tư tưởng khó chịu hay dễ chịu phát sinh, ta hay biết chúng và tự nhủ” 1 tâm giận dữ đang có mặt” , không đồng hóa chúng là mình, thư giãn quan sát không mong chúng biến đi hay dính mắc vào chúng, thế là…tâm giận dữ mất dần năng lực của nó.

- Tâm thanh thản, nhẹ nhàng, nhiều thiện tâm giúp ích cho ta thêm sức khỏe( hiệu quả phụ của Thiền)

- Hành thiền là 1 cách thức phục vụ xã hội tích cực, bởi người hành thiền Vipassana khởi đầu bằng việc giữ giới( giữ gìn để không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu và chất say) đem đến sự an toàn cho người khác và xã hội, sau nữa tâm thiền sinh bình lặng và hiểu biết sẽ giúp chữa lành những vết thương tâm cúa người khác, và làm dịu xuống sức nóng cúa các cuộc cãi vã. Một tập thể/xã hội muốn có được sự bình ổn thì những quyết định cần được đưa ra từ những cái tâm bình ổn, ít ích kỷ, giàu tình thương bình đẳng, …và những phẩm chất tâm ấy được xây dựng rất bền vững từ Thiền Vipassana.
- Sư cô Hương Thiền-
Việc chọn lựa cần làm ntn là tùy ở bạn, nhưng hạnh phúc và đau khổ cuộc đời sẽ tùy thuộc ở sự chọn lựa này.
Cách 1: Bạn có thể để cho cơn giận khống chế mình và tiếp tục nuôi dưỡng thói quen phản ứng đó....NO COMMENT

Cách 2: Đè nén cơn giận, tìm cách tiêu diệt nó vì bạn sợ hoặc không thích sự giận giữ bằng cách chuyển hướng sang các đối tượng khác như hơi thở, hoặc các suy nghĩ tích cực, hình ảnh tốt đẹp..vv Có 1 số phương pháp hướng dẫn làm như vậy, chúng ta có thể áp dụng khi cơn giận quá mãnh liệt hoặc bùng phát quá nhanh, tuy nhiên khi đã tâp trung vào 1 đối tượng khác được 1 lúc, tâm yên xuống rồi thì nên chuyển sang cách 3. Nếu tiếp tục đè nén mà không quan sát cách 3, cơn giận bị đè xuống như lò xò và chúng sẽ bộc phát mạnh hơn khi có điều kiện. DỄ LÀM, DỄ HIỆU QUẢ TỨC THỜI NHƯNG HÃY CẨN THẬN HIỆU ỨNG LÒ XO.

Cách 3: Quan sát cơn giận, không quan sát đối tượng ( con người, hiện tượng) gây nên cơn giận, mà quay vào quan sát chính mình. Hãy nhìn cơn giận như một đối tượng khách quan, Nhắc mình rằng " sân hận chỉ là sân hận, chúng chỉ là các hiện tượng tự nhiên,không phải tôi đang giận" Ví dụ ai đó nói bạn không đúng, do tiếng nói đó không hợp với ý tưởng cúa bạn( ý tưởng cho rằng mình đúng), nên cơn giận xuất hiện, hoặc bạn có 1 cái tai bình thường, có 1 âm thanh xuất hiện, trong khi đó bạn có ý tưởng rằng ngồi thiền là phải yên tĩnh, thế là bạn phải nghe thấy âm thanh đó 1 cách tự nhiên và cơn giận có mặt vì bạn cho rằng âm thanh đó đang phá hoại việc hành thiền của bạn. Cơn giận xuất hiện tự nhiên không do bạn muốn có nó, nhưng theo thói quen bạn sẽ không thích giận và tìm cách đẩy nó đi thì thật ra bạn đang tiếp thêm năng lượng cho cơn giận mạnh hơn hoặc chìm sâu hơn vào vô thức, vậy hãy quan sát khách quan, ĐỪNG CHO CƠN GIẬN LÀ CỦA MÌNHvà ĐỪNG CỐ GẮNG ĐẨY NÓ ĐI. Cơn giận ko phải của bạn, vậy sao mà bạn muốn đẩy nó đi, hãy cứ để nó tự nhiên và quan sát nó thôi.
Quan sát xem cơn giận chi phối thân và tâm ta thế nào: Thân co cứng, hơi thở dồn, nóng bức, căng thẳng, suy nghĩ dồn dập, tiêu cực, phóng đại sự việc…
Dần dần, sau rất rất nhiều lần quan sát, bạn hiểu rằng người đau khổ đầu tiên khi giận chính là bạn, đối tượng gây nên giận chưa biết sẽ thế nào nhưng khi giận bạn là nạn nhân, và dần dần sự giận sẽ giảm dần cường độ, thời gian. Cơn giận có mặt càng ngày càng nhẹ hơn, nhanh chóng tan biến hơn, và bình an thực sự có mặt khi bạn hiểu phản ứng của chính mình.
Càng tập luyện để sự ghi nhận càng trở nên liên tục, thì tâm càng nhậy cảm, dễ uốn nắn, chúng vượt trên những thói quen cũ là luôn phản ứng trước lời khen và tiếng chê, hạnh phúc và đau khổ.
Cách thứ 3 là phương pháp thực hành Chánh Niệm trong thiền quán Vipassana.
Và Đức Phật dạy chúng ta hãy thực hành tương tự như vậy với các trạng thái tâm Tham lam, đố kỵ, dính mắc, hoảng sợ, lo âu, mệt mỏi, buồn chán..vv . Để có được sự ghi nhận chánh niệm như trên thì phải luyện tập, trên đệm thiền là thao trường, trong đời thực là chiến trường, thao trường và chiến trường không thể thiếu với người chiến sỹ để rèn kỹ thuật sử dụng lưỡi gươm trí tuệ.
PS: Tất nhiên nói dễ, làm khó, nhưng không làm thì không bao giờ thay đổi được thói quen phản ứng, và không thể giảm thiểu được những gì bất như ý đang xảy ra liên tục.
- Sư cô Hương Thiền-

Khi vội vàng tìm kiếm là ta chối bỏ thực tại mà tìm kiếm ảo tưởng tương lai. Nhưng cái thực mà không chấp nhận thì không hiểu nó, không hiểu thì sao có nền tảng để thay đổi thành tương lai mong muốn. Cuộc sống LƯỚT hiện nay là điển hình như thế!
Không biết dừng lại để yêu và được yêu cho kỹ
Không biết dừng để biết, để cảm nhận và để hiểu
Không biết xây dựng Nhân vững mà chỉ lao đi tìm Quả mới.
Không biết cảm nhận thực sự Quả hiện tại vì bận tìm kiếm quả Ảo tương lai…nên tương lai chỉ càng thêm hỗn loạn.
Chúc mọi người biết rõ và thực hành được việc LẮNG xuống, để sống với những gì có thật, trong hiện tại, thay cho động từ đang thành model hiện nay:LƯỚT… bởi đằng sau nó là rất nhiều những bất thiện tâm: phóng dật, tò mò, tham muốn vô bổ, lười tư duy…vv và tâm bất thiện thì luôn gây bất an, dẫn đến hành động lời nói gây hậu quả xấu ngay cho mình và người xung quanh.
- Sư cô Hương Thiền-
Khi có những cảm xúc bất an, bồn chồn, lo lắng, cho tới thù hận, thống khổ, ta có thể nhìn nhận chúng dưới 1 trong 2 góc nhìn “ "Có sự đau khổ” hoặc là “ Tôi đau khổ”
Góc nhìn TÔI ĐAU KHỔ:
- Là góc nhìn theo thói quen cố hữu, làm tăng trưởng sự sở hữu nắm giữ” cái đau khổ này thuộc về tôi”
- Là góc nhìn cá nhân, nó tạo nên hàng loạt các suy nghĩ từ trong ký ức“ Tại sao tôi phải như vậy, tôi đã làm gì sai, tôi đã từng rất tốt….vv, cách suy nghĩ này làm rối ren mọi thứ, bởi vì đang lấy nhưng suy nghĩ bất an để giải quyết những vấn đề của suy nghĩ bất an thì không thể thoát.
- Suy nghĩ kiểu này dẫn đến quá trình đè nén, hoặc phán xét và kết án chính mình, càng tạo thêm những cảm xúc bất an mới.
Góc nhìn CÓ SỰ ĐAU KHỔ
- Sự thừa nhận đau khổ, không chối bỏ, thừa nhận “ có cảm giác đau, có sự khó chịu…” nhưng không chụp lấy nó là của Tôi, chỉ chứng kiến, quan sát mà không đồng hóa mình với chúng.
- Sự đau khổ không có tính chất cá nhân nữa, vì thực ra ta và con chó đều biết đau, ta và 1 vĩ nhân cũng đều có lúc buồn bực, bất an, và thực tế rằng ta không mời đau khổ tới, không đuổi được nó đi theo ý mình, nên ta không phải là chủ nhân cúa các cảm xúc này.
CHỈ KHI NHÌN NHẬN NỖI KHỔ LÀ MỘT CẢM XÚC KHÔNG CÓ TÍNH SỞ HỮU CÁ NHÂN, CHỈ KHI ĐÓ TA MỚI THẤY ĐƯỢC CHÚNG LUÔN THAY ĐỔI, VÀ KHI ĐÓ TA KHÔNG CÒN BỊ CHÚNG CHI PHỐI, ĐIỀU KHIỂN NỮA.
1. Khi suy nghĩ Tôi đau khổ tạo khuynh hướng chạy trốn hoặc chối bỏ, đó là bản năng rất sâu dày, nhưng lối suy nghĩ đúng đắn “ Có cảm giác đau khổ” là lối tư duy thiện xảo giúp ta tách rời cái Ta khỏi nỗi Khổ, đồng thời kích thích sự tò mò khám phá xem cái đối tượng” cảm giác khổ” đó nó hoành hành thế nào…từ đó những thiền sinh hành thiền duy trì chánh niệm, quan sát cảm thọ với thái độ đúng (qua như lý tác ý đến cái khổ mà không có người chịu khổ)
2. Có nhiều những lời nhắc nhở khác nữa, ví dụ khi thấy cảm xúc nào đó, nhắc mình “không dính mắc, không chối bỏ” cũng rất hiệu quả, tuy nhiên không gợi ý về tính Không Sở Hữu ở đây và không kích thích sự tò mò quan sát- chánh niệm học hỏi để phát triển trí tuệ.
- Sư cô Hương Thiền-


LÀM THIỆN PHÁP (BỐ THÍ, GIỮ GIỚI, HÀNH THIỀN)

Khi ta làm thiện pháp, làm vì quyền lợi của mình và người khác để chính mình và mọi người trở nên có Thân, Khẩu, Ý thiện hơn thì hãy hiểu rằng chúng ta có thể có nhiều ĐỘNG CƠ như sau:
1. Để giúp nhiều ng biết đến Đạo Phật.
2. Để có phước, sau này thành tựu những mong muốn
3. Để trải nghiệm những cảm giác an lạc, thoải mái, hoan hỷ khi làm được việc có ích
4. Để bận rộn làm việc thiện thì bớt làm việc bất thiện, hoặc bớt lười biếng ăn, ngủ, chơi.
5. Để tu tập tâm, thấy ra, hiểu ra và vượt qua dần dần những dính mắc, bất thiện trong mình đang ngăn mình làm việc thiện. Đa phần khi làm những việc cá nhân, không phải là thiện pháp thì bất thiện quá mạnh đến mức không thấy được sự bất thiện đó hoặc thấy mà hoàn toàn đầu hàng, tuân theo tâm bất thiện chi phối
CHỈ CÓ 4,5 LÀ TÁC Ý CHÂN CHÁNH vì nó là việc quay vào trong để sửa mình mà không phụ thuộc người khác. Còn nếu tác ý 1,2,3 thì chỉ làm được 1 thời gian ngắn, rồi CÁI Tôi ngày càng lớn hoặc sự chán nản sẽ nảy sinh cản ngăn mình làm những điều cần làm.
Những điều 1,2,3 sẽ có mặt tự nhiên, là Quả của quá trình tác ý và hành động theo 4,5.
Thông thường mọi người làm thiện pháp theo ý 3 , đúng vậy, khi làm thiện pháp thì an vui có mặt ngay tại đó, nhưng nếu không thiền sâu sẽ không thấy được những trạng thái tâm này mà ngược lại những nóng giận, khó chịu với ngoại cảnh sẽ nổi trội làm ta thấy làm thiện mà bất an.???
Tóm lại, thiện pháp mà không có Thiền quan sát Thân, Tâm để nhận ra các trạng thái tâm, để giúp tâm nhu nhuyến hơn thì thật khó để đó là thiện pháp thực sự (mà sẽ bị phiền não, ô nhiễm chen vào), và thật khó để làm được lâu dài.
- Sư cô Hương Thiền-

Thứ Năm, 10 tháng 8, 2017


Thư giãn và Thiền Minh Sát (Vipassana)

Lắng tâm cùng thiền Vipassana- Sư cô Hương Thiền

Dẫn thiền Vipassana - Sư Cô Hương Thiền (Trung Kính - Hà Nội)
 

Hướng dẫn Thiền Tứ niệm xứ Vipassana Online - Sư Cô Hương Thiền (02/08/2017)


Hỏi: Những điều gì mà Ngài vẫn còn cho đó là một vấn đề đối với bản thân trong việc tu tập của mình?

Thiền sư: Khi bắt đầu dạy giáo pháp tôi đã hết sức quan tâm làm cách nào để các thiền sinh của tôi thực hành tốt. Tôi muốn họ hiểu được giáo pháp và nhanh chóng đạt lợi ích từ việc tu tập thiền. Tương tự, tôi quan tâm về kỷ luật tổng quát cho chùa của tôi. Ðiều này rất quan trọng vì nó tạo cái nhìn tốt đối với sự trợ giúp cúng dường của người tại gia, cho nên mọi người tu tập thiền nghiêm túc. Tôi cảm thấy rằng tôi phải giám sát tất cả mọi sự việc. Bây giờ hầu như tôi đã hoàn toàn xả bỏ điều đó. Nhà chùa đã tiến bộ tốt đẹp. Những đệ tử của tôi học hành có kết quả ở mức độ tự nhiên và phù hợp nhất đối với họ. Tôi đã giáo dục mọi thiền sinh trong một môi trường thích hợp.


Tôi vẫn còn một số vướng mắc trong vấn đề là, từ khi còn nhỏ tuổi tôi đã tu tập tâm từ. Ðiều này vẫn còn là một năng lực mạnh mẽ trong cuộc sống của tôi và tôi bị dính mắc với nó về việc giúp đỡ mọi người. Tôi muốn họ đạt được lợi ích nhanh chóng từ giáo pháp, từ việc hành thiền. Tôi muốn họ nhận thức được sự đoạn trừ khổ đau. Bây giờ, với sự tu tập cho chính bản thân, tôi đang cố gắng chuyển lòng thương và sự chấp thủ này sang một tình thương vi tế hơn nhiều và hỉ xả. Ðiều quan trọng phải biết rằng mọi người phải có bổn phận đối với sự tăng tiến của họ trong giáo pháp. Nó là một tiến trình tự nhiên. Lời dạy của đức Phật là một chất xúc tác cho sự phát triển tự nhiên của trí tuệ. Bây giờ nó tùy thuộc vào bạn.
Cầu xin cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc. Cầu xin cho tất cả chúng sinh đoạn trừ được khổ đau.

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017


“Cô kia, nhanh lại đây!” Khách hàng hét lớn, ông ta chỉ vào chiếc ly trước mặt, hằm hằm nói: “Nhìn đi! Sữa của cô hỏng rồi, nó làm cho tách hồng trà của tôi cũng bị hư theo.”

“Thật xin lỗi!” Cô phục vụ xin lỗi, vừa cười vừa nói: “Tôi sẽ lập tức đổi cho ngài ly khác.”

Tách hồng trà mới nhanh chóng được chuẩn bị, giống với tách trà ban đầu được để cạnh chiếc đĩa, có cho thêm chanh với sữa. Cô gái nhẹ nhàng đặt tách trà trước mặt vị khách, dịu dàng nói:

“Tôi có thể góp ý cho ngài không, nếu đã cho chanh vào trà thì không nên cho thêm sữa, bởi vì có lúc độ chua của chanh có thể làm cho sữa vón cục.”

Mặt của vị khách bỗng đỏ lên, ông ta nhanh chóng uống hết tách trà rồi rời khỏi quán.

Có người cười rồi hỏi cô phục vụ: “Rõ ràng là ông ta sai, sao cô không nói thẳng ra? Ông ta gọi cô thô lỗ như vậy, sao sắc mặt cô không có chút thay đổi vậy?”

Cô gái nói: “Vì là lẽ phải nên không cần phải to tiếng. Những người không có lý, sẽ thường to tiếng lấn át người khác, những người có lý sẽ dùng cách ôn hòa để kết bạn!”

(Sưu tầm)

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

http://www.budsas.org/uni/u-hatngoc/hatngoc-11.htm

Khi bạn bị ai đó xuyên tạc một cách cố ý hay không, hãy nhớ đến lời khuyên của Epictetus "Ồ, bởi sự hiểu biết hời hợt của họ và cái kiến thức yếu ớt của tôi, tôi bị phê bình chút ít. Nếu tôi biết nhiều hơn nữa, ắt hẳn tôi sẽ bị buộc tội nghiêm trọng hơn và lớn hơn nhiều."
..................
* Nhiều những vĩ nhân bị phỉ báng, nói xấu, đầu độc, hành xác và bị bắn. Nhà hiền triết vĩ đại Socrates bị đầu độc. Jesus Christ cao thượng bị đóng đinh tàn nhẫn trên thập tự giá. Mahatma Gandhi không hại ai bị bắn.
Vậy thì, là một người thiện thật nguy hiểm? Ðúng! Trong khi còn sống họ bị công kích, tấn công và bị giết. Sau khi chết họ được tôn sùng như thần thánh và vinh danh.

Những vĩ nhân không màng tới danh dự hay mất danh dự. Họ không rối trí khi bị công kích hay phỉ báng vì họ làm không phải vì  tên tuổi hay danh dự. Họ không màng tới người khác công nhận hay không công nhận sự phục vụ của họ. Làm việc, họ toàn tâm toàn ý nhưng không phải là để hưởng cái quả của việc làm ấy
.........
Giáo pháp dạy:
*Giống như sư tử không run sợ trước những tiếng động
*Giống như luồng gió không bám víu vào mắt mắt lưới.
*Giống như hoa sen không bị hôi tanh bởi bùn nơi nó mọc lên.
* Ði lang thang một mình như con tê giác.
* Như chúa sơn lâm, sư tử không hề biết sợ. Do bản chất chúng không sợ hãi trước những tiếng rống của các con vậy khác. Trong thế giới này, chúng ta có thể nghe những nhận xét trái ngược, lời kết tội sai lầm, lời phỉ báng đê hèn của những giọng lưỡi buông lung. Giống như sư tử, ta không nên nghe. Giống như cái bu mơ răng (đòn bẩy) ném ra rồi sẽ quay về chỗ cũ, tin đồn sai lầm sẽ chấm dứt nơi chúng phát sanh.

Thứ Năm, 3 tháng 8, 2017

Có một lần tôi đang ngồi thiền và nghe ngài Shwe Oo Min thuyết pháp ở gần đó. Bỗng nhiên, tôi thấy cái tâm tĩnh lặng của mình chợt thay đổi cường độ. Tâm tĩnh lặng trước đó giờ đây bỗng bất an. Điều này xảy ra như thế nào nhỉ? Làm sao mà cơn sân đến bất ngờ như vậy trong khi chỉ vài giây trước đó còn rất bình an?

Tâm không còn hứng thú với việc hay biết nữa, vì vậy nó lùi lại đằng sau một chút và bắt đầu đặt câu hỏi. Có cái gì xảy ra bên trong ấy nhỉ? Sự hứng thú tìm hiểu này và chánh tư duy (sammā-sankappa) đã làm thay đổi lối mòn của tâm, từ sân chuyển về Pháp. Nếu không có suy nghĩ đúng này, tâm sẽ còn tiếp tục đi theo cơn sân đó, vẫn tin rằng sân là một phản ứng thích hợp trong tình huống ấy.

Tôi có cắt bỏ cơn sân ấy bằng một công cụ nào khác không? Không. Tâm hứng thú muốn biết sự thật, và vì vậy nó chỉ nhẹ nhàng quan sát cơn sân đang diễn ra. Cơn sân đang tự diễn ra.

Cái gì đang diễn ra trong tâm? Đó là cái tâm nghe âm thanh từ hai hướng khác nhau. Một bên là tiếng Ngài Shwe Oo Min đang thuyết pháp, và một bên kia là tiếng mấy người đang nói chuyện riêng. Tôi chánh niệm ghi nhận nhiều đề mục khác nhau và tâm chuyển qua chuyển lại giữa các đề mục ấy. Tâm không chú vào một thứ, nó đồng thời hay biết nhiều thứ và xem sự chú ý đang thay đổi như thế nào nữa.

Rồi khi ấy tôi nhìn thấy cơn sân! Một mặt tôi muốn nghe Ngài thuyết pháp nhưng lại không nghe rõ được. Tôi cũng thấy tâm mình đang bình luận về tình huống đó và đang tìm đến rắc rối: “Sao lại có người đến mà nói chuyện ở đây trong khi mọi người đang nghe Pháp thế nhỉ?”. Cảm xúc sân tiếp tục sanh lên khi tâm tiếp tục nói.

Tâm quan sát nhìn thấy tất cả những gì đang diễn ra trong tâm. Bạn có thể thấy tầm nhìn lúc ấy rộng mở đến thế nào không? Sau khi thấy tâm đi đi lại lại giữa hai bên vài lần như thế, nó bắt đầu thấy sự bất mãn. Bởi vì tâm không có được cái gì nó muốn, là muốn nghe bài pháp ngài đang nói. Lúc đó có sự nhận ra như vậy. Và lúc đó tâm không còn ưa thích đề mục này hay đề mục khác nữa, mà đứng ở giữa. Nó thấy cái khổ ở đó và rồi (tâm phản ứng) tắt lịm dần. Tôi có thể ghi nhận âm thanh chỉ là âm thanh.

Lúc ấy tôi đã nhận ra được điều gì? Tâm cho một loại âm thanh, tiếng thuyết pháp của Ngài Shwe Oo Min, là tốt, là đáng ưa thích và tiếng nói chuyện của mấy người kia là xấu, không đáng mong cầu.

Tôi nhận ra rằng nếu tham muốn một điều gì đó  30 độ nghiêng về một bên của quả lắc,  thì sẽ nó lắc qua bên phía bất mãn cũng 30 độ tương ứng khi không đạt được tham muốn đó.

Không ai có thể ngăn điều này diễn ra được. Vậy cái gì sẽ xảy ra khi tham muốn đó là 45 độ? 90 độ, 180 độ thì sẽ ra sao? Trước đó, tôi đã nhận ra được rằng ngay cả trước khi cơn sân sanh khởi trong tâm, tâm đã bắt đầu nói khi nó thích một điều gì đó rồi. Bởi vì sự nhận ra này và nhờ có hiểu biết rõ ràng, nên tâm đã tự nhắc nhở chính nó khi tình huống ấy xảy ra.

Thiền Sư Sayadaw U Tejaniya


Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017



Một lớp của trường tiểu học Mỹ có 26 học sinh đặc biệt vì chúng đều có những quá khứ tội lỗi: em thì đã từng tiêm chích, em thì đã vào trại cải tạo, thậm chí có một học sinh nữ trong một năm đã phá thai ba lần. Gia đình đã từ bỏ chúng, các thầy cô giáo và nhà trường cũng coi chúng là đồ bỏ đi. Cuối cùng, lớp học được giao cho cô giáo Phila chủ nhiệm.

Ngay ngày đầu tiên của năm học, Phila đã không dọa nạt, ra oai với chúng như những giáo viên trước mà cô nêu ra cho cả lớp một câu hỏi sau:
“Cô kể cho các em một số điểm trong quá khứ của 3 ứng cử viên như sau:

Người thứ nhất luôn tin vào y thuật của thầy cúng. Ông ấy từng có hai người tình, ông ta hút thuốc và nghiện rượu trong nhiều năm liền.

Người thứ hai đã từng bị đuổi việc hai lần. Ngày nào ông ta cũng ngủ đến trưa, tối nào cũng uống một lít rượu brandy và cũng từng hút thuốc phiện.

Người thứ ba từng là anh hùng trong chiến đấu. Ông ta luôn giữ thói quen ăn kiêng, không hút thuốc, thỉnh thoảng mới uống rượu, thường uống bia nhưng không uống nhiều. Thời thanh niên chưa từng làm gì phạm pháp”.

Cô hỏi cả lớp trong 3 người, ai sau này sẽ cống hiến nhiều nhất cho nhân loại. Các em học sinh đồng thanh chọn người thứ 3, nhưng cô giáo làm cho cả lớp kinh ngạc khi trả lời:

“Các em thân mến, cô biết chắc chắn các em sẽ cho rằng chỉ có người thứ ba mới có thể cống hiến được nhiều cho nhân loại. Nhưng các em đã sai rồi đấy.

Ba người này là những nhân vật nổi tiếng trong thế chiến thứ 2:

Người thứ nhất là Franklin Roosevelt, tuy tàn tật nhưng ý chí kiên cường, ông đảm nhận chức vụ tổng thống Mỹ trong bốn nhiểm kỳ liên tiếp.

Người thứ hai là Winston Churchill, thủ tướng nổi tiếng nhất trong lịch sử nước Anh.

Người thứ ba là Adolf Hitler, ác quỷ phát xít đã cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu người dân vô tội”.

Khi cô nói xong, tất cả học sinh đều ngây người nhìn cô và như không tin nổi những gì chúng vừa nghe thấy. Cô giáo nói tiếp:
“Các em có biết không, những điều mà cô nói về ba nhân vật này là quá khứ của họ. Còn sự nghiệp sau này của họ, là những việc mà họ đã làm sau khi họ thoát ra khỏi cái quá khứ đó. Các em ạ, cuộc sống của các em chỉ mới bắt đầu, vinh quang và tủi nhục trong quá khứ chỉ đại diện cho quá khứ. Cái thực sự đại diện cho cuộc đời một con người chính là những việc làm ở hiện tại và tương lai. Hãy bước ra từ bóng tối của quá khứ, bắt đầu làm lại từ hôm nay, cố gắng làm những việc mà các em muốn làm nhất trong cuộc đời mình, các em sẽ trở thành những người xuất chúng… ”

Sau khi những học sinh này trưởng thành, rất nhiều người trên cương vị công tác của mình đã đạt được nhiều thành tích đáng tự hào. Có người trở thành bác sĩ tâm lý, có người trở thành quan tòa, có người trở thành nhà du hành vũ trụ. Điều đáng nói là, Robert Harrison, cậu học sinh thấp nhất và quậy phá nhất lớp, giờ đây trở thành giám đốc tài chính trẻ nhất của phố Wall.

Trong cuộc đời của con người, mỗi ngày đều có thể là một sự bắt đầu mới mẻ và hướng thiện, những vinh quang và tủi nhục của ngày hôm qua đều trở thành dĩ vãng. Chỉ cần bạn thực sự chịu trách nhiệm với bản thân, chịu trách nhiệm với hiện tại, tích cực nỗ lực để gia nhập vào đội ngũ những người cầu tiến, chắc chắn bạn sẽ thành công.

(Sưu tầm)

Thứ Tư, 26 tháng 7, 2017

Vô ngã, ai đó, cái gì đó, tôi hay bạn đều không có thật. Vì không biết sự thật về vô ngã nên chúng ta hiểu lầm cho rằng có ngã, ai đó hay cái gì đó, có tôi hay bạn, của tôi hay của bạn. Chúng ta muốn làm, muốn ăn, muốn biết điều gì đó đều dựa trên ý niệm về ai hay cái gì đó. Nếu chúng ta có khả năng hiểu được vô ngã - không có thực thể, con người, chúng sinh hay cái gì đó, lúc ấy sẽ không còn ham muốn làm điều gì đó hay biết cái gì đó.
Chúng ta đã quen với việc nghĩ về người nào đó hay cái gì đó, nghĩ về thời gian, nơi chốn. Sở dĩ có thói quen này là do sự hiểu biết sai lầm cho rằng có một cái ngã. Nếu chúng ta muốn biết về vô ngã thì cần phải bỏ thói quen chú trọng vào thời gian, nơi chốn, phương pháp, ngôn từ đang dùng. Những ý tưởng về một thực thể, cái gì đó, thời gian giới hạn, nơi chốn giới hạn đã tồn tại trong tâm chúng ta từ rất lâu. Trước khi đến đây, quý vị có quyết định sẽ ở đây trong bao lâu và có ý niệm về con người, vị thầy, thiền sư Ottamasara. Khi đó, quý vị đã dựa trên cái ngã, dựa trên ai đó, hoặc cái gì đó.
Làm với ý niệm về ngã rất dễ cho chúng ta. Phần lớn các thiền sinh thực hành với ý niệm về ngã, với ai đó, cái gì đó, với thời gian giới hạn, nơi chốn giới hạn. Sự chỉ dạy của tôi nhằm vượt lên trên tự ngã. Thực hành mà không có giới hạn bởi ý tưởng về ai đó, cái gì đó, giới hạn của thời gian hay nơi chốn. Tâm cần được tự do khỏi các ý niệm về ai đó, cái gì đó, thời gian giới hạn, nơi chốn giới hạn. Theo cách này, quý vị có thể thực hành một cách tự do mà không có bất kỳ giới hạn nào.
Lời dạy của tôi chú trọng đến việc xóa bỏ các ý niệm về thực thể, thời gian, nơi chốn. Để có được tâm tự do, chúng ta cần làm phước thiện và hành thiền. Chúng ta cần sự giúp đỡ của Phật Pháp Tăng. Sau khi chúng ta làm một cách tự do với sự giúp đỡ của Phật, Pháp và Tăng, chúng ta cần cố gắng tự mình làm một cách tự do mà không cần sự giúp đỡ của Phật, Pháp và Tăng. Về sau, khả năng và năng lực này trở thành năng lực của chính chúng ta. Đầu tiên, quý vị thực hành dưới sự giúp đỡ của một người thầy, sau đó, quý vị cần có khả năng tự thực hành. Theo cách đó, quý vị có thể có được sự hiểu biết đúng và thực hành đúng của chính mình. Để được như vậy, chúng ta cần có khả năng buông bỏ ý niệm về ngã. Nếu chúng ta không thể buông bỏ, xả ly khỏi bản thân thì chúng ta không thể đại diện cho vị thầy của mình.
Làm việc “vì tôi” không phải là một hành động đúng. Làm mà không có ý niệm về “tôi” hay “ai đó” mới là hành động đúng. Sự hiểu biết của chúng ta và các hành động của chúng ta nên được tự do khỏi các giới hạn về ai đó, cái gì đó, thời gian và nơi chốn. Theo cách này, chúng ta không cần nghĩ về bản thân hay điều gì sẽ xảy ra với chúng ta. Bản thân ta chỉ là một trong số các chúng sinh. Việc xảy ra với ta không khác gì việc xảy ra với các chúng sinh khác. Đây chính là bản chất của chúng sinh và không phải chúng sinh. Bản chất này không phải để dính mắc, không phải để chối bỏ, mà chỉ để sử dụng. Sử dụng mà có sự dính mắc là sai. Sử dụng mà đi ngược lại với sự dính mắc mới là đúng. Nếu chúng ta đang làm các phước thiện thì chúng ta đang đi trên con đường đúng. Nếu chúng ta làm các thiện pháp mà ngược lại với các ham muốn thì chúng ta đang theo con đường đúng.
Ban đầu, thiền sinh nên tuân theo mong muốn của người thầy để xả ly khỏi mong muốn của mình. Không có ai hoàn thiện ngoài Đức Phật. Vì vậy, chúng ta cần có khả năng tuân theo ham muốn của một ai đó. Đồng thời, chúng ta cũng cần có khả năng xả ly khỏi hành động đó.Theo cách này, mỗi hành động của chúng ta chỉ là làm mà thôi, không có sự dính mắc.
(Thông dịch: Phật tử Lan Nanika)
___________________________

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017




Phần lớn, chúng ta hiểu lầm luật nhân quả. Chúng ta lầm với thuyết định mệnh, theo đó người khổ có số khổ được định sẵn và giờ phải chịu. Tôi không nghĩ vậy, và câu chuyện dưới đây giải thích vì sao?

Có 2 bà nội trợ, mỗi bà đang làm một ổ bánh.

Bà thứ nhất dùng nguyên liệu hạng bét, bột mốc meo cần sàng lọc, bơ hôi dầu, đường cũ, mứt là nho khô cứng còng và một cái bếp cổ lỗ sĩ.

Bà thứ hai dùng toàn những nguyên liệu tốt nhất: bột nguyên chất, bơ thực vật thơm lừng, đường mía, mứt làm bằng trái cây của vườn nhà, bếp có những dụng cụ tối tân nhất.

Theo các bạn, ai sẽ là người làm ra chiếc bánh ngon hơn?
Chưa chắc bà thứ hai sẽ làm ra chiếc bánh ngon hơn, vì để làm ra một chiếc bánh cần nhiều yếu tố khác, không phải chỉ có nguyên liệu và dụng cụ tốt là đủ. Sự cố gắng, chăm chút và yêu nghề nhiều khi đem lại kết quả bất ngờ.

Một số bạn tôi có "nguyên liệu" làm "bánh đời" rất tồi. Họ sinh ra trong gia đình nghèo khó, bị đối xử tàn tệ, không xuất sắc trong trường học, thêm chút tật nguyền, nhưng sự hiểu biết về đời của họ giúp họ có cuộc sống đầy ý nghĩa. Bạn có biết ai trong trường hợp này không?

Một số bạn khác của tôi, trái lại, có nguyên liệu làm bánh đời rất tốt. Họ sinh ra trong gia đình giàu sang, đẹp đẽ, thông minh, học giỏi, biết chơi thể thao và được ngưỡng mộ. Nhưng họ phí đời vì nghiện ngập và rượu chè. Bạn có biết ai trong trường hợp này không?

Phân nửa của "nghiệp" chính là nguyên liệu chúng ta có để làm những chiếc bánh đời. Nhưng phần còn lại, rất quan trọng, đó chính là những gì chúng ta làm với "nguyên liệu của đời chúng ta".

Trích "Mở rộng cửa tâm mình"

Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2017

 (KATAÑÑŪ KATAVEDĪ PUGGALA)

Soạn-giả   Tỳ-khưu Hộ-Pháp
Dhammarakkhita Bhikkhu
(Aggamahāpaṇḍita)

Thành Kính Tri Ân

Tất cả chúng con được biết Phật-Giáo Nguyên-Thủy (Theravāda) là nhờ ơn Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông cùng với chư Trưởng-Lão khác đã dày công đem Phật-Giáo Nguyên-Thủy về truyền bá trên đất nước Việt-Nam thân yêu này.

Tất cả chúng con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông cùng quý Ngài Trưởng-Lão với tấm lòng chân thành tôn kính và tri ân sâu sắc của tất cả chúng con.

Lời Nói Đầu

Để phân biệt người thiện là bậc thiện-trí (sappurisa) với người ác vong ơn (asappurisa), Đức-Phật dạy:

* Sappurisa: Người thiện là bậc thiện-trí có đầy đủ 2 đức-tính tốt là biết ơn những người ân-nhân của mình (kataññū) và biết đền đáp xứng đáng công ơn của những người ân-nhân của mình (katavedī).

* Asappurisa: Người ác là người vong ơn có đầy đủ 2 tính xấu là không biết ơn những người ân-nhân của mình (akataññū) và không biết đền đáp công ơn của những người ân-nhân của mình (akatavedī). * Mỗi người được sinh ra trong đời này đều do nhờ công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha.

Nếu không có mẹ cha thì không có người con sinh ra trong đời, cho nên mẹ cha là Người ân- nhân đầu tiên của người con, cũng là vị Thầy đầu tiên của người con.

Bổn phận làm con phải biết ơn mẹ cha và biết trả công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha.

* Người học trò biết đọc chữ, biết viết chữ, biết các bộ môn, … biết nghề nghiệp, … là do nhờ các thầy, cô giáo dạy dỗ.
Cho nên, bổn phận học trò phải biết ơn các thầy, cô giáo và biết đền đáp công ơn dạy dỗ của các thầy, cô giáo.

Mẹ cha và các thầy, cô giáo đem lại sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an-lạc cho người con, người học trò trong kiếp hiện-tại.

* Những hàng đệ-tử Việt Nam biết đọc chữ Pāḷi, biết tụng kinh Pāḷi, hiểu biết giáo-pháp của Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda, có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, kính xin thọ phép quy-y Tam-bảo cùng ngũ-giới, trở thành người cận-sự-nam hoặc cận-sự-nữ, hoặc biết làm lễ xuất gia trở thành tu-nữ, vị sa-di, vị tỳ-khưu trong giáo-pháp của Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda là do nhờ Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông dày công đem Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda về truyền bá tại Việt-Nam.

Nếu Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông không đem Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda về truyền bá tại Việt-Nam thì chúng ta không biết đến Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda, chúng ta không có ai trở thành cận-sự-nam, cận-sự-nữ, tu-nữ, vị sa-di, vị tỳ-khưu trong giáo-pháp của Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda.

Tục ngữ ta có câu“ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

Ngày nay, chúng ta biết được Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda, chúng ta đã trở thành người cận-sự-nam, cận-sự-nữ, tu-nữ, vị sa-di, vị tỳ-khưu trong giáo-pháp của Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda là do nhờ Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông, cho nên, các hàng đệ-tử phải biết ơn Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông và biết đền đáp công ơn của Ngài Sơ Tổ.

Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông ban cho các hàng đệ-tử chúng ta sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an-lạc không chỉ trong kiếp hiện-tại này, mà còn vô số kiếp vị-lai, đặc biệt làm duyên lành, nhân tốt dẫn đến chứng-ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả, Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong 3 giới 4 loài.
Quyển sách nhỏ “Người biết ơn và biết đền ơn” giúp cho mỗi người có bổn phận biết ơn những bậc ân-nhân và biết đền đáp công ơn của những bậc ân-nhân của mình, nếu người có đầy đủ 2 đức-tính tốt này thì gọi là người thiện là bậc thiện-trí, như Đức-Phật dạy.

Người nào không biết bổn phận của mình, không biết ơn những bậc ân-nhân và không biết đền đáp công ơn của những bậc ân-nhân của mình, nếu người có đầy đủ 2 tính xấu này thì gọi là người ác vong ơn, như Đức-Phật dạy.

Cho nên, mỗi người dù ở địa vị nào trong đời, cũng nên biết bổn phận của mình, cố gắng làm tròn bổn phận của mình, để tự mình không chê trách mình, không hối hận về sau, và chư bậc thiện-trí cũng không chê trách mình được. Trái lại, mình vô cùng hoan hỷ làm tròn bổn phận của mình, và chư bậc thiện-trí cũng khen ngợi mình nữa.
Mong mỗi người là bậc thiện-trí có đầy đủ 2 đức-tính là biết ơn những bậc ân-nhân và biết đền đáp công ơn của những bậc ân-nhân của mình một cách xứng đáng.

Phật-Lịch  2558/2014
Chùa Tổ Bửu-Long, Q. 9,
Tp. Hồ-Chí-Minh


NGƯỜI BIẾT ƠN VÀ BIẾT ĐỀN ƠN

(KATAÑÑŪ KATAVEDĪ PUGGALA)

Đức-Phật dạy rằng:

Dveme bhikkhave, puggalā dullabhā lokasmiṃ. Katame dve?
Yo ca pubbakārī, yo ca kataññū katavedī.
Ime kho bhikkhave, dve puggalā dullabhā lokasmiṃ.()

 - Này chư tỳ-khưu! Hai hạng người khó có trong đời này. Hai hạng người ấy là ai?

* Pubbakārī: Hạng người ban ơn trước,
* Kataññū katavedī: Hạng người biết ơn và biết đền ơn đến Người đã ban ơn trước cho mình.
 - Này chư tỳ-khưu! Đó là hai hạng người  khó có trong đời này.

* Mẹ Cha Với Con

Mỗi người chúng ta được hiện hữu trên đời này đều do nương nhờ công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha, nên mẹ cha được gọi là pubbakārī là Người đã ban ơn cho các con trước. Ví như người đã cho con vay nợ trước.

Đối với người con phải có bổn phận biết ơn mẹ cha và biết trả ơn mẹ cha đã có công ơn sinh thành dưỡng dục, từ khi đầu thai vào lòng mẹ, khi sinh ra đời cho đến lúc trưởng thành, nên   được gọi là kataññū katavedī là người con biết ơn mẹ cha và biết trả ơn mẹ cha. Ví như người trả nợ đã vay.

Vị Tỳ-Khưu Phụng Dưỡng Mẹ Cha Già

Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana gần kinh-thành Sāvatthī. Khi ấy, vị tỳ-khưu chí hiếu biết lo phụng dưỡng mẹ cha một cách chu đáo. Hằng ngày, mỗi buổi sáng, vị tỳ-khưu đi khất thực cháo đem về dâng cho mẹ cha dùng buổi sáng.

Buổi trưa, vị tỳ-khưu mang bát vào trong kinh-thành Sāvatthi đi khất thực, đem vật thực về dâng mẹ cha dùng cho no đủ trước. Sau đó, vị tỳ-khưu lại đi khất thực một lần nữa, nếu có được vật thực thì Ngài mời mẹ cha dùng thêm. Khi mẹ cha no đủ, Ngài mới dùng phần vật thực còn lại.

Hằng ngày, vị tỳ-khưu ấy chăm lo săn sóc phụng dưỡng mẹ cha đầy đủ, không để mẹ cha phải chịu cảnh đói khát.

Vị tỳ-khưu đi khất thực có được vật thực đem về dâng cho mẹ cha dùng no đủ trước, nếu còn thừa thì Ngài mới dùng phần vật thực còn lại  ấy. Vì vậy, đời sống của Ngài có bữa no bữa đói, cho nên thân thể của Ngài càng ngày càng gầy, vì thiếu vật thực.

Nếu có được tấm vải mới nào thì Ngài đem dâng tấm vải mới ấy đến mẹ cha mặc. Nếu mẹ cha xả bỏ tấm choàng cũ thì vị tỳ-khưu đem giặt sạch sẽ, rồi nhuộm màu lại vá vào tấm y cũ rách của Ngài, hoặc lượm các tấm vải mà người ta vất bỏ, đem về giặt sạch sẽ, nhuộm màu lại, rồi vá vào tấm y cũ rách của Ngài, cho nên tấm y của Ngài có nhiều miếng vá.

Hằng ngày, vị tỳ-khưu ấy chỉ biết lo chăm sóc phụng dưỡng mẹ cha cho được no ấm mà thôi. Về phần Ngài có thân hình gầy ốm, mặc bộ y cũ có nhiều miếng vá.

Nhìn thấy vị tỳ-khưu ấy gầy ốm xanh xao, mặc bộ y cũ có nhiều mảnh vá như vậy, nên các vị tỳ-khưu khác hỏi Ngài rằng:

- Này pháp-hữu! Trước kia pháp-hữu có thân thể khoẻ mạnh, da dẻ hồng hào, nhưng nay thân thể của pháp-hữu gầy ốm xanh xao như vậy, pháp hữu có mắc phải bệnh gì không?
Pháp-hữu không có y mặc hay sao, mặc bộ y quá cũ có nhiều miếng vá như vậy?

Nghe các vị tỳ-khưu khác hỏi như vậy, vị tỳ-khưu ấy trả lời rằng:

- Này quý pháp-hữu! Thật ra, tôi không bị mắc bệnh gì cả. Hằng ngày tôi có bổn phận phải lo chăm sóc, phụng dưỡng mẹ cha già của tôi cho được no ấm.  
- Này quý pháp hữu! Tôi đi khất thực được phần vật thực, đem về dâng lên cho mẹ cha tôi dùng trước, khi mẹ cha tôi đã dùng no đủ, thì tôi mới dùng phần còn lại,  nên có bữa no bữa đói.
Do đó, thân thể của tôi bị gầy ốm, xanh xao như thế này, vì thiếu vật thực, chứ không bị mắc bệnh gì cả.

Và nếu khi tôi có tấm vải mới nào thì tôi dâng tấm vải ấy đến mẹ cha tôi mặc. Nếu mẹ cha tôi xả bỏ tấm choàng cũ thì tôi lấy, hoặc tôi lượm tấm vải người ta bỏ, đem giặt sạch sẽ, nhuộm màu lại, rồi vá vào tấm y cũ rách của tôi, cho nên, tấm y của tôi có nhiều miếng vá như vậy.

Nghe vị tỳ-khưu thuật lại như vậy, các pháp- hữu bảo với vị tỳ-khưu ấy rằng:

- Này pháp-hữu! Những thí chủ có đức tin trong sạch làm phước-thiện bố-thí các món vật thực, vải may y, … cúng dường đến chư tỳ-khưu-Tăng, Đức-Thế-Tôn không cho phép tỳ-khưu đem những thứ vật thực, vải may y ấy phụng dưỡng người tại gia cư sĩ.

Như vậy, pháp-hữu đã làm việc không nên làm, thật đáng chê trách.

Nghe lời chê trách của pháp-hữu, vị tỳ-khưu ấy cảm thấy hổ thẹn.

Chư tỳ-khưu ấy đem việc này bạch lên Đức-Thế-Tôn rằng:

- Kính Bạch Đức-Thế-Tôn, những thí chủ có đức-tin trong sạch làm phước-thiện bố-thí cúng-dường vật thực, vải may y đến chư tỳ-khưu-Tăng, mà vị tỳ-khưu ấy đem phần của mình lo chăm sóc, phụng dưỡng hai người tại gia cư sĩ. Bạch Ngài.

Đức-Thế-Tôn cho truyền gọi vị tỳ-khưu ấy đến bèn hỏi rằng:

- Này tỳ-khưu! Như-Lai nghe nói rằng: những thí chủ có đức-tin trong sạch làm phước-thiện bố-thí cúng-dường vật thực, vải may y đến chư tỳ-khưu-Tăng, con đã đem phần của con lo chăm sóc, phụng dưỡng hai người tại gia cư sĩ. Chuyện ấy có thậy hay không?

Vị tỳ-khưu bạch với Đức-Thế-Tôn rằng:

- Kính bạch Đức-Thế-Tôn, chuyện ấy có thật như vậy. Bạch Ngài.

- Này tỳ-khưu! Con đem những vật thực, vải may y lo chăm sóc, phụng dưỡng hai người tại gia cư sĩ ấy. Vậy hai người ấy có liên quan với con như thế nào?

- Kính bạch Đức-Thế-Tôn, con đem những vật thực, vải may y lo chăm sóc, phụng dưỡng  hai người tại gia cư sĩ ấy, bởi vì hai người này chính là mẹ và cha của con. Bạch Ngài.

Để cho vị tỳ-khưu ấy phát sinh đại-thiện-tâm hoan hỷ, nên Đức-Phật tán dương ca tụng rằng:

Sādhu! Sādhu! Sādhu! Lành thay! Lành thay! Lành thay! ba lần như vậy.

Đức-Thế-Tôn truyền dạy tỳ-khưu ấy rằng:

- Này tỳ-khưu! Con đã làm bổn phận người con chí hiếu, biết ơn mẹ cha và biết trả ơn mẹ cha, biết chăm lo săn sóc, phụng dưỡng mẹ và cha già.

Con đã làm theo truyền thống dòng dõi của chư Đức-Bồ-tát tiền kiếp của Như-Lai, dù sinh làm người, dù sinh làm loài thú, loài chim đều có bổn phận biết chăm lo săn sóc phụng dưỡng mẹ cha già.

Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Như-Lai đã từng   chăm lo săn sóc phụng dưỡng mẹ cha già mù đôi mắt trong thời quá khứ.

Nghe Đức-Thế-Tôn truyền dạy như vậy, chư tỳ-khưu kính thỉnh Đức-Thế-Tôn thuyết về tiền kiếp của Ngài.



* Tích Suvaṇṇasāmajātaka: Kiếp Đức-Bồ-tát
    Suvaṇṇasāma phụng dưỡng mẹ cha già mù.

Đức-Phật thuyết về tích Suvaṇṇasāmajātaka() Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma là tiền kiếp của Đức-Phật Gotama, sinh làm con của đạo-sĩ Dukūla và nữ đạo-sĩ Pārikā sống trong rừng, thực-hành pháp-hạnh tâm-từ ba-la-mật.

Tích này dài, trích tóm lược phần nói về Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma chăm lo săn sóc phụng dưỡng mẹ cha già mù đôi mắt như sau:

 Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana, gần kinh-thành Sāvatthī. Khi ấy, Đức-Thế-Tôn thuyết giảng về tích Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma  tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, sinh làm con của nữ đạo-sĩ Pārikā và đạo-sĩ Dukūla sống ở trong rừng. Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma được hai vị đạo-sĩ mẹ cha đi vào rừng tìm các thứ trái cây đem về nuôi dưỡng Đức-Bồ-tát trưởng thành.

Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma thực-hành pháp-hành thiền-định với đề-mục niệm rải tâm-từ vô lượng đến tất cả chúng-sinh. Cho nên, các loài thú dữ trong rừng cảm nhận được tâm-từ của Đức-Bồ-tát, chúng đều trở nên các con thú thuần tính, không còn làm khổ lẫn nhau nữa, các loài thú lớn nhỏ đều đến quanh quẩn gần gũi chơi với Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma như những người bạn thân thiết.

Hằng ngày, Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma lo giúp đỡ những công việc như quét dọn sạch sẽ xung quanh hai cốc lá của hai vị đạo-sĩ mẹ cha, mang bình bát đi xuống sông Migasammatā lấy nước uống, nước dùng cho hai vị đạo-sĩ mẹ cha.

Các con thú lớn nhỏ từng đàn, từng đàn đi theo sau, Đức-Bồ-tát đặt cái bình nước trên lưng một con thú lớn, lực lưỡng khỏe mạnh đi xuống sông Migasammatā, khi lấy bình nước xong, lại đặt bình nước trên lưng con thú lớn lực lưỡng khoẻ mạnh ấy mang nước về hai cốc lá của hai vị đạo-sĩ mẹ cha, cho nên, nước dùng, nước uống lúc nào cũng đầy để cho hai vị đạo-sĩ mẹ cha dùng.

Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma trưởng thành lên mười sáu tuổi, hằng ngày có khả năng đỡ đần mọi công việc cốc lá cho hai vị đạo-sĩ mẹ cha.

Hai Vị Đạo-Sĩ Mẹ Cha Bị Mù Đôi Mắt

Một hôm, sau khi tìm các thứ trái cây trong rừng núi xong, hai vị đạo-sĩ từ trong rừng trở về gần đến cốc lá chỗ ở của mình, thì trời đổ mưa lớn, hai vị đạo-sĩ đi vào gốc cây lớn để trú mưa.

Tại dưới gốc cây lớn ấy, có một con rắn độc
nằm trong hang, trận mưa lớn nên nước mưa thấm ướt vào người hai vị đạo-sĩ, nước chảy xuống đất thấm vào trong hang rắn độc, nước mưa có lẫn mồ hôi người của hai vị đạo-sĩ; ngửi mùi mồ hôi người, con rắn độc nổi giận bò lên phun hơi nọc độc vào đôi mắt của hai vị đạo-sĩ làm cho đôi mắt của hai vị đạo-sĩ đều bị mù không còn thấy đường về cốc lá của mình.

Khi ấy, vị đạo-sĩ Dukūla nói với nữ đạo-sĩ Pārikā biết rằng:

- Này nữ đạo-sĩ Pārikā! Đôi mắt của bần-đạo đều bị mù không nhìn thấy nữa.

Vị nữ đạo-sĩ Pārikā cũng thưa với vị đạo-sĩ Dukūla rằng:

- Kính thưa Ngài Đạo-sĩ Dukūla, đôi mắt của  bần-đạo cũng bị mù không còn thấy nữa.

Nữ đạo-sĩ Pārikā khóc than rằng:
Sinh-mạng của chúng ta sẽ bị chết tại nơi đây, mà Suvaṇṇasāma con yêu quý không hay biết.

Tại cốc lá, Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma nghĩ rằng: “Mỗi ngày, mẹ cha của ta, giờ này đã trở về cốc rồi. Hôm nay, một trận mưa lớn vừa qua cũng đã tạnh từ lâu, vì sao  mẹ cha của ta chưa thấy trở về, chắc chắn có điều tai nạn gì đã xảy đến với mẹ cha của ta.”

Nghĩ xong, Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma đi theo
con đường mòn mà hai vị đạo-sĩ mẹ cha thường đi hằng ngày, vừa đi vừa gọi tên mẹ cha rằng:

- Mẹ cha ở đâu? Xin lên tiếng cho con biết!

Nghe tiếng gọi của đứa con yêu quý, hai đạo-sĩ lên tiếng dạy bảo rằng:

- Này con yêu quý! Đôi mắt của mẹ cha bị mù cả rồi.
Ở đây có rắn độc nguy hiểm, con chớ nên đến gần mẹ cha con nhé!    
Đức-Bồ-tát thưa rằng:
- Kính thưa mẹ cha, nếu vậy, thì xin mẹ cha cầm lấy đầu cây này.

Đức-Bồ-tát đưa đầu cây dài đến tận tay của mẹ cha, rồi mẹ cha của Đức-Bồ-tát lần theo cây đến Đức-Bồ-tát.

Đức-Bồ-tát thưa rằng:

- Kính thưa mẹ cha, do nguyên nhân nào mà làm cho đôi mắt của mẹ cha bị mù như thế này?

Hai vị đạo-sĩ mẹ cha bảo cho Đức-Bồ-tát biết rằng:
- Này con yêu quý! Trên đường về đến chỗ này, một trận mưa lớn vừa qua, mẹ cha vào trú mưa dưới cội cây này, không biết dưới cội cây  có hang rắn độc, nước mưa thấm ướt toàn thân chảy xuống miệng hang, ngửi mùi mồ hôi người, con rắn độc nổi giận bò lên phun nọc độc vào  đôi mắt của mẹ cha. Đó là nguyên nhân làm cho đôi mắt của mẹ cha bị mù không còn nhìn thấy gì nữa.

Lắng nghe mẹ cha thuật lại sự việc xảy ra như vậy, nhìn thấy mẹ cha bị mù đôi mắt nên vô cùng xúc động Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma khóc vì thương yêu mẹ cha, rồi nghĩ lại về bổn phận của mình, Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma cười vì hoan hỷ có được cơ hội tốt chăm lo săn sóc phụng dưỡng mẹ cha mù đôi mắt.

Mẹ cha của Đức-Bồ-tát hỏi rằng:

- Này Suvaṇṇasāma con yêu quý! Tại sao con khóc, rồi con lại cười như vậy ?

Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma thưa rằng:

- Kính thưa mẹ cha, sở dĩ con khóc là vì con không nén được nỗi xúc động nhìn thấy mẹ cha  bị mù đôi mắt không nhìn thấy gì nữa.

Và sở dĩ con cười là vì con cảm thấy vui mừng là từ ngay bây giờ về sau, con có cơ hội tốt chăm lo săn sóc phụng dưỡng mẹ cha được an-lạc.

- Kính xin mẹ cha an tâm, con cố gắng hết sức mình để làm tròn bổn phận người con trả ơn  sinh thành dưỡng dục của mẹ cha.

Đức-Bồ-tát thưa lời an ủi mẹ cha xong, cầm tay dẫn mẹ cha trở về lại cốc lá.

Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma cột dây từ mỗi cốc lá của mẹ và của cha dẫn đến chỗ ngồi ăn, chỗ rửa mặt, chỗ tắm rửa, chỗ đi tiểu tiện, đại tiện, chỗ đường đi kinh hành, chỗ ngồi nghỉ mát, v.v..

Đức-Bồ-tát sắp đặt mọi thuận lợi cho mẹ cha khi cần.

Kể từ hôm ấy, Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma làm tròn bổn phận người con biết chăm lo săn sóc phụng dưỡng mẹ cha một cách chu đáo. Đức-Bồ-tát thức dậy sớm thực-hành pháp-hành thiền-định với đề-mục niệm rải tâm-từ vô-lượng đến tất cả chúng-sinh.

Mỗi buổi sáng, Đức-Bồ-tát quét dọn sạch sẽ chỗ ở, giặt các bộ y phục của mẹ cha xong, vào đảnh lễ mẹ cha, rồi đem bình nước cùng đàn thú đi xuống sông Migasammatā lấy nước dùng, nước uống đem về, sắp đặt các loại trái cây ngon lành để mẹ cha dùng bữa sáng.

Sau khi mẹ cha dùng xong, Đức-Bồ-tát dùng phần trái cây còn lại, làm xong mọi công việc, Đức-Bồ-tát vào đảnh lễ mẹ cha, xin phép đi vào rừng núi, mang giỏ đi cùng với các đàn thú vào rừng núi, để tìm các loại trái cây lớn nhỏ các loại củ, các thứ rễ cây.

Đức-Bồ-tát hái trái cây ở chỗ thấp, còn các trái cây chín ở trên cao, thì có các chú khỉ leo lên hái đem xuống, mỗi đàn thú đi theo giúp đỡ Đức-Bồ-tát tìm hái trái cây lớn nhỏ, các loại củ, các loại rễ cây, tuỳ theo khả năng của mỗi loài thú. Khi đầy đủ các thứ, các con thú lực lưỡng khoẻ mạnh có phận sự đem về cốc lá.

Về đến cốc lá vào buổi chiều, Đức-Bồ-tát vào đảnh lễ mẹ cha, dắt dẫn mẹ cha đi tắm sạch sẽ, đem bộ y phục sạch đến mẹ cha thay bộ y phục cũ, sắp đặt các thứ trái cây, kính dâng mẹ cha dùng buổi chiều, và sắp đặt các trái cây còn lại dành để dùng buổi sáng ngày hôm sau.

Đức-Bồ-tát mang bình nước cùng với các đàn thú đi đến sông Migasammatā để lấy nước dùng, nước uống đem về.

Vào mùa lạnh, Đức-Bồ-tát nấu nước ấm để cho mẹ cha tắm, và làm tròn bổn phận phục vụ mẹ cha một cách chu đáo như mỗi ngày.

Buổi tối, Đức-Bồ-tát đến mỗi cốc lá xoa bóp chân tay, thân mình của mẹ cha. Khi trời trở lạnh Đức-Bồ-tát đốt lò sưởi ấm đặt trong mỗi cốc lá của mẹ cha.

Hằng ngày, Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma vô cùng hoan hỷ làm tròn mọi phận sự chăm lo săn sóc phụng dưỡng mẹ cha chu đáo một cách cung kính với đại-thiện-tâm hoan hỷ, không bao giờ phàn nàn một điều gì cả.

Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma coi trọng việc chăm lo săn sóc phụng dưỡng mẹ cha già, đó là bổn phận thiêng liêng của người con biết ơn mẹ cha và biết trả công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha đã cho người con vay từ khi đầu thai 10 tháng, khi sinh ra đời, rồi dưỡng dục cho đến lúc trưởng thành. Cho nên, công ơn của mẹ cha thật là công ơn trời biển, vô lượng đối với người con không có gì trong đời có thể sánh được.

* Tích Mātuposakajātaka: Tích Đức-Bồ-tát
   phụng dưỡng mẹ mù đôi mắt.

Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana gần kinh-thành Sāvatthī. Khi ấy, vị tỳ-khưu chăm lo săn sóc phụng dưỡng mẹ già, nên bị chư tỳ-khưu chê trách.

Đức-Thế-Tôn truyền cho gọi vị tỳ-khưu ấy đến, Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng:
- Này chư tỳ-khưu! Các con không nên chê trách vị tỳ-khưu này, tiền-kiếp của Như-Lai dù sinh làm loài thú cũng phụng dưỡng mẹ mù đôi mắt.

Nghe truyền dạy như vậy, chư tỳ-khưu kính thỉnh Đức-Thế-Tôn thuyết giảng về tiền-kiếp của Ngài.

Đức-Thế-Tôn thuyết giảng tích Mātuposaka-jātaka() Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa là tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, phụng dưỡng voi mẹ mù được tóm lược như sau:   Trong thời quá-khứ, Đức-vua Brahmadatta ngự tại kinh thành Bārāṇasī, trị vì đất nước Kāsi. Khi ấy, Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, sinh làm con Bạch-tượng chúa có thân hình xinh đẹp, có sức mạnh phi thường thật đáng kính mến, lãnh đạo đàn voi 80.000 con sống trong khu rừng Himavanta.

Voi mẹ của Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa bị mù đôi mắt. Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa có được những trái cây ngon lành, truyền lệnh các con voi đem những trái cây ngon lành đến kính dâng voi mẹ của Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa, chúng nó không đem những trái cây ấy đến kính dâng, mà chúng nó tự ăn hết những trái cây ấy.

Sau khi biết voi mẹ bị đói, nên Đức-Bồ-tát  Bạch-tượng chúa nghĩ rằng: “Ích lợi gì lãnh đạo đàn voi này, ta nên từ bỏ chúng, rồi dẫn voi mẹ của ta đến một nơi thanh vắng, để ta chăm lo săn sóc phụng dưỡng voi mẹ của ta một cách chu đáo. Đó là điều tốt hơn hết.”

Đến lúc ban đêm, đàn voi không hề hay biết,   Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa dẫn voi mẹ rời ra khỏi đàn voi đông đảo ấy, đi đến chân núi Caṇḍoraṇa có một cái động lớn, voi mẹ và Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa sống ở trong động ấy, gần hồ sen thiên nhiên.

Hằng ngày, Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa đi tìm các loại trái cây ngon lành đem về kính dâng lên voi mẹ, chăm lo săn sóc phụng dưỡng voi mẹ một cách chu đáo được thoả nguyện.

Thuở nọ, một người thợ săn là dân kinh-thành Bārāṇasī bị lạc trong khu rừng ấy, không tìm ra  phương hướng, nên ngồi khóc than ra tiếng lớn.

Nghe tiếng khóc của người thợ săn, Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa nghĩ rằng: “Người ấy bị lạc trong khu rừng, sẽ bỏ xác nơi đây. Khi ta còn hiện hữu, ta không thể để cho người ấy chết nơi đây được.”

Nghĩ như vậy xong, Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa tìm đến người ấy. Khi nhìn thấy Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa, người ấy hoảng sợ bỏ chạy, Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa truyền bảo người ấy rằng:

- Này người thợ săn! Ngươi chớ nên sợ hãi, chắc chắn không có tai hoạ nào xảy đến với ngươi đâu.

Nghe Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa truyền bảo như vậy, người thợ săn mới hoàn hồn.

Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa truyền hỏi rằng:

- Này người thợ săn! Tại sao ngươi khóc than như vậy?

Người thợ săn thưa với Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa rằng:

- Kính thưa Ngài, tôi bị lạc đường mà không tìm ra phương hướng để ra khỏi khu rừng này đã trải qua 7 ngày rồi. Thưa Ngài.

Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa nói cho người thợ săn an tâm rằng:

- Này người thợ săn! Ngươi chớ nên lo lắng, ta sẽ đưa ngươi ra khỏi khu rừng này, đến phần đất của loài người.

Truyền bảo xong, Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa nâng người thợ săn đặt trên lưng của mình, đưa ra khỏi khu rừng đến phần đất của loài người rồi mới trở lại.

Ra khỏi khu rừng được an toàn, người thợ săn nghĩ ác rằng: “Con Bạch-tượng này có thân hình xinh đẹp phi thường thật xứng đáng làm phương tiện cho Đức-vua. Vậy, ta nên đánh dấu cây to, núi lớn để dễ nhận biết đường đi tìm con Bạch-tượng này.”

Nghĩ như vậy, nên người thợ săn đi thẳng đến kinh-thành Bārāṇasī. Khi ấy, con voi báu của Đức-vua vừa mới chết, Đức-vua Brahmadatta truyền lệnh gần xa khắp toàn đất nước Kāsi, hễ ai nhìn thấy con voi nào xứng đáng làm phương tiện cho Đức-vua thì hãy đến tâu lên Đức-vua, để được trọng thưởng.
Đến kinh-thành Bārāṇasī, biết được tin này, người thợ săn chộp lấy cơ-hội liền đến chầu Đức-vua Brahmadatta tâu rằng:

- Muôn tâu Hoàng-thượng, kẻ tiện dân này đã thấy con Bạch-tượng toàn màu trắng xinh đẹp phi thường, thật là xứng đáng làm phương tiện cho Hoàng-thượng.

-  Muôn tâu Hoàng-thượng, kẻ tiện dân này sẽ dẫn đường đi đến khu rừng ấy.

Nghe lời tâu của người thợ săn ấy, Đức-vua Brahmadatta vô cùng hoan hỷ cho truyền gọi vị thầy dạy voi, cùng với đoàn lính trong triều đến chầu, Đức-vua truyền bảo rằng:

- Này các khanh! Người thợ săn này đã thấy con Bạch-tượng có thân hình xinh đẹp phi thường, các khanh hãy đi theo người thợ săn này dẫn đường đi đến khu rừng ấy bắt con Bạch-tượng toàn màu trắng đem về dâng Trẫm.

Tuân theo lệnh Đức-vua Brahmadatta, vị thầy dạy voi, cùng với đoàn lính trong triều rất đông đi theo người thợ săn dẫn đường đi đến khu rừng ấy. Vị thầy dạy voi và người thợ săn đứng từ xa nhìn thấy Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa đang đi tìm các thứ trái cây, lá cây đem về phụng dưỡng voi mẹ mù đôi mắt.

Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa cũng nhìn thấy vị thầy dạy voi và người thợ săn, biết rõ rằng:
“Tai hoạ này xảy ra do người thợ săn ác, vong ơn bội nghĩa ấy. Ta có sức mạnh phi thường có khả năng đánh bại 1.000 con voi, khi nổi giận có thể tiêu diệt các đoàn quân, tàn phá kinh-thành rộng lớn một cách dễ dàng.”

Hôm nay, ta xin phát nguyện bằng lời chân-thật rằng: “Dù chúng nó phóng lưỡi giáo vào đầu của ta, ta cũng không phát sinh tâm sân.”

Sau khi phát nguyện bằng lời chân-thật xong, Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa cúi đầu xuống, đứng yên một chỗ.

Vị thầy dạy voi lội xuống hồ sen, đứng quan sát xem xét Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa, thấy Đức-Bồ-tát Bạch-tượng toàn màu trắng có đầy đủ các tướng tốt mà chưa có con Bạch-tượng nào như vậy.

Nhìn thấy con Bạch-tượng chúa có vẻ hiền lành, nên vị thầy dạy voi đến gần Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa cung kính thưa rằng:

- Kính thưa Đức Bạch-tượng, chúng tôi xin kính thỉnh Ngài ngự về kinh-thành Bārāṇasī ở trong hoàng cung giúp đỡ Đức-vua Brahmadatta.

Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa hoàn toàn không muốn rời xa voi mẹ mù, nhưng đành phải chịu đi để gặp Đức-vua Brahmadatta.

Cuộc hành trình đi từ khu rừng suốt 7 ngày mới đến kinh-thành Bārāṇasī.
 Voi mẹ của Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa chờ đợi không thấy Đức-Bồ-tát Bạch-tượng trở về, nằm nhịn khát nhịn đói, khóc than vì thương nhớ đến Đức-Bồ-tát Bạch-tượng.

Trên đường trở về kinh-thành Bārāṇasī, vị thầy dạy voi cho lính đem tờ tấu trình lên Đức-vua truyền lệnh trang hoàng kinh-thành Bārāṇasī nhất là những con đường mà Đức Bạch-tượng sẽ đi qua về đến cung điện.

Vị thầy dạy voi thoa dầu 4 chân, xịt nước dầu thơm trên thân hình của Đức Bạch-tượng, ra lệnh thợ trang hoàng chuồng voi xinh đẹp lộng lẫy, treo rèm mới xung quanh, trần làm mới lộng lẫy.

Vị thầy dạy voi mời Đức Bạch-tượng vào chuồng voi, rồi vị thầy dạy voi đến chầu Đức-vua, kính thỉnh Đức-vua ngự đến ban món ăn, thức uống đến Đức Bạch-tượng đầu tiên.

Đức-vua Brahmadatta ngự đến chuồng voi,  cầm trên tay món ăn ngon lành, truyền bảo rằng:

- Này Đức Bạch-tượng! Khanh hãy nên dùng  những món ăn ngon lành này, không nên để thân hình gầy yếu, phận-sự trong triều đình có nhiều, trông chờ khanh giúp đỡ.

Nghe Đức-vua Brahmadatta truyền bảo như vậy,  Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa tâu rằng:

- Muôn tâu Hoàng-thượng, kẻ tiện thú này  không thấy voi mẹ mù đôi mắt, sẽ không chịu ăn món ăn nào cả.

- Muôn tâu Hoàng-thượng, voi mẹ mù đôi mắt chắc chắn sống cô độc, vì xa voi con yêu quý của mình, không có voi con dẫn đường, voi mẹ mù đôi mắt đụng phải gốc cây té nằm xuống tại chân núi Caṇḍoraṇa, khóc than thảm thiết nhớ thương đến voi con.

Nghe Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa tâu như vậy, Đức-vua Brahmadatta truyền hỏi rằng:

- Này Đức Bạch-tượng! Voi mẹ mù đôi mắt không có voi con dẫn đường, đụng phải gốc cây té nằm xuống tại chân núi Caṇḍoraṇa, voi mẹ mù đôi mắt ấy liên quan với Đức Bạch-tượng thế nào?

- Muôn tâu Hoàng-thượng, voi mẹ mù đôi mắt chính là voi mẹ của kẻ tiện thú. Chỉ có hai mẹ con sống trong động mà thôi.
Hằng ngày kẻ tiện thú này có bổn phận đi tìm các trái cây, lá cây đem về phụng dưỡng voi mẹ mù đôi mắt. Nếu không có kẻ tiện thú phụng dưỡng thì voi mẹ mù đôi mắt không thể sống được. Kẻ tiện thú này không muốn địa vị cao cả nào của Hoàng-thượng.
Đến nay đã 7 ngày qua, voi mẹ mù đôi mắt của tiện thú đã chịu cảnh đói khát.

Nghe Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa tâu như vậy, Đức-vua Brahmadatta liền truyền lệnh cho các quan rằng:

- Này các khanh! Các khanh hãy thả ngay tức thì Đức Bạch-tượng này trở về phụng dưỡng voi mẹ mù đôi mắt.

Tuân theo lệnh của Đức-vua Brahmadatta, Đức-Bồ-tát bạch tượng chúa được thả ra khỏi chuồng voi. Khi ấy, Đức-Bồ-tát bạch tượng chúa thuyết pháp 10 pháp-vương (rājadhamma) tế độ Đức-vua Brahmadatta rằng:

1- Này Hoàng-thượng! Xin Hoàng-thượng phụng dưỡng Hoàng-thái-hậu và Thái-thượng-hoàng bằng thiện-pháp trong đời. Đại-thiện-nghiệp ấy cho quả tái-sinh kiếp sau trên cõi trời dục-giới.

2-  Này Hoàng-thượng! Xin Hoàng-thượng có tâm-từ, tâm-bi tế độ hoàng-hậu, hoàng-tử, công-chúa bằng thiện-pháp trong đời. Đại-thiện-nghiệp ấy cho quả tái-sinh kiếp sau trên cõi trời dục-giới.

3- Này Hoàng-thượng! Xin Hoàng-thượng đối xử các quan trong triều bằng thiện-pháp trong đời, …

 4-  Này Hoàng-thượng! Xin Hoàng-thượng có tâm-từ, tâm-bi tế độ quân lính, voi, ngựa bằng thiện-pháp trong đời, …    

5- Này Hoàng-thượng! Xin Hoàng-thượng đối xử với thần dân trong kinh-thành và ngoài kinh-thành bằng thiện-pháp trong đời, …

6- Này Hoàng-thượng! Xin Hoàng-thượng đối xử với thần dân các vùng xa và vùng biên giới  bằng thiện-pháp trong đời, …

7- Này Hoàng-thượng! Xin Hoàng-thượng hộ độ chư sa-môn, Bà-la-môn có giới một cách cung kính trong đời, …

8- Này Hoàng-thượng! Xin Hoàng-thượng có tâm-từ, tâm-bi đối với các đàn thú rừng, chim chóc bằng thiện-pháp trong đời, …

9- Này Hoàng-thượng! Xin Hoàng-thượng thực-hành mọi thiện-pháp trong đời. Đại-thiện-nghiệp này sẽ cho quả an-lạc trong kiếp hiện-tại và nhiều kiếp vị-lai trên cõi trời dục-giới.

10- Này Hoàng-thượng! Đức-vua trời Sakka,  chư-thiên, chư phạm-thiên hưởng mọi sự an-lạc trên cõi trời đều do quả của thiện-nghiệp.

Vậy, Hoàng-thượng không nên dể duôi (thất niệm) trong mọi thiện-pháp.

Đức-vua Brahmadatta cùng các quan, quân lính cúng-dường Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa xong. Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa tạ từ Đức-vua Brahmadatta và toàn thể mọi người, rồi vội vã ra khỏi kinh-thành Bārāṇasī, trở về gặp voi mẹ mù.

Trước khi vào gặp voi mẹ mù, Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa lội xuống hồ sen lấy nhiều ngó sen, dùng vòi hút đầy nước lên bờ đi vào chỗ voi mẹ đang nằm thiếp vì đói khát, vì nhớ thương voi con yêu quý mấy ngày qua, Đức-Bồ-tát bạch tượng chúa phun nước lên thân hình voi mẹ mù để cho tươi tỉnh lại.

Voi mẹ của Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa tưởng trời mưa, nên nói lẩm bẩm rằng:

“Trời mưa không phải thời, voi con yêu quý của ta, phụng dưỡng ta đã mất tích mấy ngày qua rồi!

Nghe voi mẹ nói lẩm bẩm như vậy, Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa đánh thức tỉnh voi mẹ rằng:

- Kính thưa mẹ, kính mời mẹ đứng dậy, mẹ nằm làm gì nữa. Con của mẹ đã trở về gặp mẹ rồi! Đức-vua Brahmadatta trị vì đất nước Kāsi thả con trở về với mẹ để lo phụng dưỡng mẹ.

- Kính mời mẹ đứng dậy, dùng ngó sen. Thưa mẹ của con.

Nghe lời lẽ của voi con yêu quý, voi mẹ mù đứng dậy một cách khoẻ khoắn, rồi tán dương ca tụng Đức-vua của đất nước Kāsi rằng:

“Đức-vua nào thả voi con yêu quý của ta, là voi con luôn luôn biết phụng dưỡng voi mẹ mù, cầu mong Đức-vua ấy được sống lâu, trị vì đất nước Kāsi cho được thịnh vượng, thần dân thiên hạ sống trong cảnh an cư lạc nghiệp.”

Đức-vua Brahmadatta có đức-tin trong sạch nơi Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa, nên truyền lệnh xây cất một chuồng voi rất tiện nghi không xa tỉnh Naḷinī, để cho voi mẹ mù và Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa ở cho được thuận tiện, có hồ sen lớn để tắm và hằng ngày có đầy đủ các món ăn thức uống để cung cấp cho voi mẹ mù và Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa.

Về sau, voi mẹ qua đời, Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa làm lễ hoả táng thi thể voi mẹ xong, Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa đi lên núi Hima-vanta, đến tu viện Kāraṇḍaka có 500 vị đạo-sĩ, Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa làm phước-thiện cúng-dường đến quý vị đạo-sĩ ấy, rồi hồi-hướng phần phước-thiện đến voi mẹ quá vãng.

Khi Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa băng hà, Đức-vua Brahmadatta tổ chức làm lễ hoả táng xong, Đức-vua Brahmadatta truyền lệnh làm  tượng voi bằng đá to lớn giống như Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa, để cho mọi người sau này đến tưởng niệm đến ân-đức của Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa.

Tích Mātuposakajātaka Liên Quan Kiếp Hiện-Tại

Tích Mātuposakajātaka, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama là Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa  phụng dưỡng voi mẹ mù đôi mắt trong thời quá-khứ. Đến khi Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, hậu-kiếp của những nhân vật trong  tích Mātuposakajātaka liên quan đến kiếp hiện-tại như sau:

- Đức-vua Brahmadatta, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Ānanda.
- Người thợ săn, nay kiếp hiện-tại là tỳ-khưu Devadatta.
- Vị thầy dạy voi, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta.
- Đức-Bồ-tát Bạch-tượng chúa, nay kiếp hiện-tại là Đức-Phật Gotama.


* Tích Sālikedārajātaka: Tích Đức-Bồ-Tát
    Chim Vẹt Chúa Phụng Dưỡng Mẹ Cha Già.

Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana gần kinh-thành Sāvatthī. Khi ấy, vị tỳ-khưu chăm lo săn sóc phụng dưỡng mẹ cha già,  bị các pháp-hữu tỳ-khưu chê trách, rồi các vị tỳ-khưu ấy bạch với Đức-Thế-Tôn về vị tỳ-khưu  phụng dưỡng hai người tại gia già ấy.

Đức-Thế-Tôn cho truyền gọi vị tỳ-khưu ấy đến bèn hỏi rằng: - Này tỳ-khưu! Con chăm lo săn sóc phụng dưỡng hai người tại gia già có thật hay không?

Vị tỳ-khưu ấy bạch với Đức-Thế-Tôn rằng:

- Kính bạch Đức-Thế-Tôn, con chăm lo săn sóc phụng dưỡng hai người tại gia già, điều ấy có thật. Bạch Ngài.

- Này tỳ-khưu! Hai người tại gia già ấy có liên quan với con như thế nào?

- Kính bạch Đức-Thế-Tôn, Hai người tại gia già ấy chính là mẹ và cha của con. Bạch Ngài.

Để cho vị tỳ-khưu ấy phát sinh đại-thiện-tâm hoan hỷ, nên Đức-Phật tán dương ca tụng rằng:

Sādhu! Sādhu! Sādhu! Lành thay! Lành thay! Lành thay! ba lần như vậy.

Đức-Thế-Tôn truyền dạy tỳ-khưu ấy rằng:

- Này tỳ-khưu! Con đã làm bổn phận người con chí hiếu, biết ơn mẹ cha và biết trả ơn mẹ cha, biết chăm lo săn sóc, phụng dưỡng mẹ và cha già.

Con đã làm theo truyền thống dòng dõi của chư Đức-Bồ-tát tiền kiếp của Như-Lai. Như tiền kiếp của Như-Lai sinh làm loài chim có bổn phận biết chăm lo săn sóc phụng dưỡng mẹ cha già.

Nghe Đức-Thế-Tôn truyền dạy như vậy, chư tỳ-khưu kính thỉnh Đức-Thế-Tôn thuyết về tiền kiếp của Ngài.
Đức-Thế-Tôn thuyết tích Sālikedārajātaka() Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa, là tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama được tóm lược như sau:

Trong thời quá-khứ, Đức-vua Magadha ngự tại kinh-thành Rājagaha, trị vì đất nước Magadha.
Vùng Đông bắc của kinh-thành Rājagaha có ngôi làng Bà-la-môn tên Sāliddiya, ông Bà-la-môn tên Kosiya gieo 1.000 mẫu (karīsa) lúa sāli. Ông thuê người lãnh phần trông nom ruộng lúa sāli, mỗi người lãnh phần 50 mẫu, hoặc 60 mẫu, hoặc 100 mẫu, v.v… còn lại 500 mẫu, một người lãnh phần trông nom hết. Mỗi người làm hàng rào bao quanh phần mẫu lúa sāli, làm chòi canh ở trong phần mẫu lúa sāli của mình, trông nom chu đáo suốt ngày đêm.

* Hướng Đông bắc của ruộng lúa sāli ấy có khu rừng gai lớn bên sườn núi. Bầy chim vẹt có hằng trăm con nương nhờ ở khu rừng gai lớn ấy.

Khi ấy, Đức-Bồ-tát tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama sinh làm con (suvaputto) của chim vẹt chúa (suvarañño).

Trong bầy chim vẹt, Đức-Bồ-tát là con chim vẹt có thân hình to lớn rất xinh đẹp, có sức mạnh phi thường. Khi chim vẹt chúa đến tuổi già truyền gọi toàn thể bầy chim vẹt đến tụ hội, chim vẹt chúa truyền bảo rằng:

- Này toàn thể chim vẹt! Nay ta đã già không có khả năng bay xa được nữa, ta trao quyền lãnh đạo bầy chim vẹt lại cho chim vẹt con của ta làm chim vẹt chúa. Vậy, từ nay về sau, các ngươi hãy nghe theo lệnh chim vẹt chúa con của ta.

Sau khi Đức-Bồ-tát chim vẹt chính thức trở thành chim vẹt chúa (suvarājā), Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa thỉnh chim vẹt mẹ và cha ở tại tổ, không bay đi kiếm ăn như trước nữa. Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa tha lúa sāli đem về phụng dưỡng mẹ cha già, trả ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha.

Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa dẫn đầu bầy chim vẹt bay vào rừng núi Himavanta kiếm ăn lúa sāli mọc tự nhiên. Hằng ngày, Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa kiếm ăn xong, rồi tha bông lúa sāli đem về phụng dưỡng mẹ cha già, các vẹt con còn nhỏ chưa bay được và các chim vẹt già yếu.

Một hôm nhóm chim vẹt đến tâu với Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa rằng:

- Muôn tâu chim vẹt chúa, từ trước vào thời gian này, dân chúng gieo lúa sāli trong vùng đất  Magadha. Nay, không biết họ có còn gieo lúa sāli hay không?

Nghe tâu như vậy, Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa truyền lệnh 2 con chim vẹt khoẻ mạnh bay đến nơi ấy quan sát xem xét để biết rõ sự-thật.

Tuân lệnh Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa, 2 con chim vẹt khoẻ mạnh bay đến vùng ruộng lúa sāli của dân chúng Magadha, thuộc về hướng Đông bắc của kinh-thành Rājagaha. Hai con chim vẹt đáp xuống ăn lúa sāli, rồi tha bông lúa sāli đem về đặt dưới chân Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa, rồi tâu rằng:

- Muôn tâu chim vẹt chúa, đây là những bông lúa sāli từ ruộng lúa sāli mà dân chúng Magadha đã gieo đến thời kỳ chín rộ. Tâu bệ hạ.

Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa mổ bông lúa sāli lên xem, thấy hạt lúa sāli đã chín mùi. Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa truyền bảo rằng:

- Này các chim vẹt!  Ngày mai chúng ta cùng nhau bay đến kiếm ăn nơi ruộng lúa sāli ấy.

Sáng ngày hôm ấy, Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa dẫn đầu bầy chim vẹt hằng trăm con bay đến ruộng mổ ăn lúa sāli, nhằm phần ruộng của người lãnh trông nom 500 mẫu.

Thấy bầy chim vẹt đông hằng trăm con ăn lúa sāli trong phần thửa ruộng của mình trông nom, người ấy chạy đuổi bên này, bên kia, hoàn toàn bất lực không thể ngăn cấm bầy chim vẹt được.

Người ấy đứng nhìn thấy bầy chim vẹt ăn no rồi, đều bay lên chờ, chỉ còn con chim vẹt chúa to lớn rất xinh đẹp, có sức mạnh phi thường tha một chùm bông lúa sāli dẫn đầu bay về tổ.

Ngày hôm sau, Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa dẫn đầu bầy chim vẹt đông hằng trăm con ấy cũng bay đáp xuống đúng ngay chỗ thửa ruộng ngày hôm trước, mổ ăn lúa sāli, người trông nom ấy cố gắng chạy đuổi bên này, bên kia, cũng không thể ngăn cấm bầy chim vẹt được.

Cũng như ngày hôm trước, người ấy đứng nhìn thấy bầy chim vẹt ăn no, rồi đều bay lên chờ, chỉ còn con chim vẹt chúa to lớn rất xinh đẹp, có sức mạnh phi thường tha một chùm bông lúa sāli dẫn đầu bay về tổ.
 
Người có phận-sự trông nom 500 mẫu lúa sāli của ông Kosiya nghĩ rằng:

 “Ta lãnh phần trông nom 500 mẫu lúa sāli của ông Kosiya. Nay, lúa sāli đến thời-kỳ chín, mà bầy chim vẹt đông hằng trăm con mỗi ngày đến ăn lúa sāli như thế này, chẳng bao lâu lúa sāli sẽ sụt giảm, chắc chắn ông Kosiya sẽ bắt đền ta.
Vậy, ta nên đến gặp ông Kosiya, thưa cho ông biết sự việc xảy ra như vậy.”

Nghĩ như vậy xong, người ấy đem theo một bó bông lúa sāli, vội vã lên đường đi đến gặp ông chủ Kosiya.

Vừa nhìn thấy người trông nom ruộng lúa sāli, ông Kosiya liền hỏi rằng:

- Này người trông nom ruộng lúa sāli! Ruộng lúa sāli có được tốt hay không?

Nghe ông chủ Kosiya hỏi như vậy, người ấy liền thưa rằng:

- Kính thưa ông chủ, ruộng lúa sāli được mùa rất tốt, nhưng hiện nay bầy chim vẹt đông hằng trăm con bay đến ăn phần thửa ruộng lúa sāli 500 mẫu của tôi, mà tôi hoàn toàn bất lực không thể ngăn cấm bầy chim vẹt ấy được.
Nay, tôi xin trả 500 mẫu ruộng lúa sāli ấy lại cho ông.
- Kính thưa ông chủ, bầy chim vẹt ấy ăn no rồi, đều bay lên chờ, chỉ còn con chim vẹt chúa to lớn rất xinh đẹp, có sức mạnh phi thường tha một chùm bông lúa sāli dẫn đầu bay về tổ.

Khi nghe người trông nom ruộng lúa sāli thưa như vậy, ông không quan tâm đến bầy chim vẹt ăn lúa sāli của ông, mà ông quan tâm đến con chim vẹt chúa to lớn rất xinh đẹp, có sức mạnh phi thường tha một chùm bông lúa sāli bay về tổ, nên ông Kosiya bảo người trông nom ruộng lúa sāli bằng lời thân mật rằng:
- Này con thân mến! Con có khả năng đặt bẫy bắt sống con chim vẹt chúa ấy đem đến cho ông có được hay không?

Nghe ông Kosiya không quở mắng, bắt phạt về lỗi để bầy chim vẹt ăn lúa sāli của ông, mà ông lại nói với lời thân mật bảo mình đặt bẫy bắt sống con chim vẹt chúa ấy đem đến cho ông.
Người trông nom ruộng lúa vô cùng hoan hỷ thưa với ông Kosiya rằng:

- Kính thưa ông chủ, con xin nhận nhiệm vụ mà ông đã giao phó, cố gắng hết sức mình đặt bẫy bắt sống cho được con chim vẹt chúa ấy đem đến cho ông chủ.

Người ấy khi đi với tâm lo ngại, nhưng lúc trở về với tâm phấn khởi. Về đến nơi, người ấy mỗi ngày cố công theo dõi con chim vẹt chúa ấy bay đến thường đáp xuống chỗ nào, đi ăn lúa sāli chỗ nào, đều đánh dấu nhớ rõ.

Sáng hôm ấy, người ấy đặt mấy cái bẫy sẵn, đợi con chim vẹt chúa ấy dẫn đầu bầy chim vẹt bay đến, con chim vẹt chúa ấy đáp xuống đi kiếm ăn bị mắc bẫy, dù con chim vẹt chúa ấy bị mắc bẫy rồi, vẫn nằm yên không cho bầy chim vẹt biết, để chúng nó ăn lúa sāli no bụng, rồi mới báo cho bầy chim biết mình đã mắc bẫy.

Bầy chim vẹt hoảng sợ, bay trở về khu rừng gai chỗ tổ của mình.
Con chim vẹt chúa nằm than vãn rằng:
“Bầy chim vẹt dòng dõi của ta ăn no, bay trở về tổ trong khu rừng gai cả thảy, chỉ còn một mình ta bị mắc bẫy nằm ở đây.”

Khi ấy, người trông nom ruộng lúa sāli đi đến  thấy con chim vẹt chúa to lớn rất xinh đẹp tuyệt vời nằm yên, liền phát sinh tâm vô cùng hoan hỷ, nỗi vui mừng khôn xiết do nghĩ rằng:

 “Ta đặt bẫy muốn bắt sống con chim vẹt chúa nào, nay bắt sống con chim vẹt chúa ấy.”

Khi ấy, người ấy thận trọng gỡ bẫy ra, bắt con chim vẹt chúa cột 2 chân lại, rồi ôm sát bên mình vội vã lên đường đi đến ngôi làng Sāliddiya gặp ông Kosiya.

Người ấy cung kính trao con chim vẹt chúa,  ông Kosiya đưa 2 tay nâng con chim vẹt chúa to lớn rất xinh đẹp tuyệt vời với đại-thiện-tâm kính yêu vô hạn, nỗi vui mừng khôn xiết, ông Kosiya nhẹ tay mở dây cột đôi chân ra, rồi đặt con chim vẹt chúa nằm trên bắp đùi của ông.

Ông Kosiya chuyện trò thân mật với con chim vẹt chúa rằng:

- Này chim vẹt chúa thân mến! Cái bụng của ngươi to lớn hơn các con chim khác phải không? Cho nên ngươi ăn lúa sāli của ta no rồi, còn tha đem về nữa.

- Này chim vẹt chúa thân mến! Hoặc ngươi có bồ lúa sāli để trong khu rừng gai chưa đầy phải không? Cho nên ngươi ăn lúa sāli của ta no rồi còn tha đem về cho đầy bồ.

 - Này chim vẹt chúa thân mến! Hoặc ngươi muốn gây oan trái với ta phải không? Cho nên ngươi ăn lúa sāli của ta no rồi còn tha đem về.

- Này chim vẹt chúa thân mến! ngươi cất giấu lúa sāli của ta nơi nào? Ta hỏi ngươi, vậy ngươi giải đáp cho ta biết rõ.
 
Nghe ông Kosiya hỏi như vậy, con chim vẹt chúa giải đáp rằng:

- Kính thưa ông Kosiya, gây oan trái với ông thì điều ấy tôi không hề nghĩ đến bao giờ.
- Tôi không có bồ lúa sāli nào để trong khu rừng gai cả.

 - Kính thưa ông Kosiya, tôi tha lúa sāli của ông đem về khu rừng gai:

* Một phần, tôi phải trả món nợ cũ mà tôi đã vay từ trước.
* Một phần, tôi cho vay món nợ mới, để tôi  hưởng quả về sau.
* Một phần, tôi chôn cất làm của riêng đem theo bên mình.
- Kính thưa ông Kosiya, tôi đã giải đáp xong, xin ông hiểu biết như vậy.

Nghe lời giải đáp của con chim vẹt chúa, ông Kosiya chưa hiểu biết rõ, nên ông hỏi lại rằng:

- Kính thưa chim vẹt chúa quý mến,
* Ngài trả món nợ cũ của ai, mà Ngài đã vay từ trước?
* Ngài cho ai vay món nợ mới, đến khi nào  Ngài hưởng quả về sau?
* Ngài chôn cất nơi nào mà làm của riêng đem theo bên mình được?
- Kính thưa chim vẹt chúa quý mến, xin Ngài giải đáp cho tôi hiểu biết rõ.

Nghe ông Kosiya hỏi như vậy, con chim vẹt chúa giải đáp rằng:

 - Kính thưa ông Kosiya, tôi tha lúa sāli của ông đem về khu rừng gai:

* Một phần, tôi phải phụng dưỡng mẹ cha già của tôi là Bậc đã có công ơn sinh thành dưỡng dục tôi đến lúc trưởng thành, gọi là tôi phải trả món nợ cũ mà tôi đã vay từ trước.

* Một phần, tôi nuôi nấng các con của tôi còn nhỏ dại chưa bay đi kiếm ăn được, cho chúng nó trưởng thành. Đến khi tôi về già, các con phụng dưỡng lại tôi, gọi là tôi cho vay món nợ mới, để tôi hưởng quả về sau.

* Một phần, tôi làm phước-thiện bố-thí đến các con chim vẹt già yếu không thể bay kiếm ăn được, gọi là tôi chôn cất làm của riêng đem theo bên mình, bởi vì bậc thiện-trí dạy đại-thiện-nghiệp là của riêng mình, theo mình trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai.

- Kính thưa ông Kosiya, ông nên biết:

* Tôi trả món nợ cũ của mẹ cha tôi mà tôi đã vay từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành.

* Tôi cho con tôi vay món nợ mới, đến khi tôi về già, con tôi phụng dưỡng lại tôi.

* Tôi làm phước-thiện bố-thí đến các con chim vẹt già yếu không đi kiếm ăn được, nghĩa là tôi chôn cất làm của riêng đem theo trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai được.

Sau khi nghe lời giải đáp xong, ông Kosiya phát sinh đức-tin trong sạch nơi Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa, rồi tán dương ca tụng Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa là loài chim có thiện-pháp cao quý, mà loài người có mấy ai hiểu biết thiện-pháp cao quý như vậy.

Ông Kosiya thưa với Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa rằng:

- Kính thưa chim vẹt chúa quý mến, Ngài cùng với dòng họ chim vẹt của Ngài được phép ăn lúa sāli trên 1000 mẫu ruộng của tôi.

- Kính thưa chim vẹt chúa quý mến, tôi rất hân hạnh được gặp Ngài hôm nay và sau này.

Nghe ông Kosiya thưa như vậy, Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa thưa với ông Kosiya rằng:

- Kính thưa ông Kosiya, tôi và dòng họ chim vẹt của tôi chỉ xin ông 8 mẫu lúa sāli mà thôi, phần còn lại tôi xin hoàn lại cho ông.

Ông Kosiya tiếp đãi Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa với những món ăn thịnh soạn trên cái đĩa bằng vàng.

Ông Kosiya truyền bảo những người gia nhân làm hàng rào khoanh 8 mẫu lúa sāli dành riêng cho Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa và dòng họ chim vẹt được phép ăn lúa sāli tại nơi ấy.

Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa khuyên dạy ông  Kosiya không nên dể duôi (thất niệm) trong mọi thiện-pháp, nên làm phước-thiện bố-thí, giữ gìn giới của mình cho được trong sạch, biết chăm lo săn sóc phụng dưỡng mẹ cha một cách chu đáo, cúng-dường đến chư sa-môn, Bà-la-môn.

 Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa xin từ giã ông Kosiya bay trở về, trên đường ghé ruộng lúa sāli tha một chùm bông lúa sāli bay về phụng dưỡng mẹ cha, các con và các chim vẹt già yếu.

Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa thấy mẹ cha đang nằm khóc than nhớ thương con.

Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa thưa rằng:
- Kính thưa mẹ cha, con đã về với mẹ cha. Kính xin mẹ cha đứng dậy ăn lúa sāli.

Nghe tiếng con, mẹ cha của Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa vô cùng vui mừng nhìn thấy Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa.

Khi ấy, bầy chim vẹt cùng nhau đến vui mừng thấy Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa được an toàn trở về.

Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa thuật lại cuộc gặp gỡ ông Kosiya và thông báo cho biết ông Kosiya ban 8 mẫu lúa sāli cho bầy chim vẹt được tự do ăn lúa sāli trong phần ruộng lúa sāli ấy.

Khi nghe báo tin lành như vậy, tất cả bầy chim vẹt vô cùng hoan hỷ, chúng sẽ được ăn lúa sāli một cách an toàn.

Tích Sālikedārajātaka Liên Quan Kiếp Hiện-Tại

Tích Sālikedārajātaka, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama là Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa phụng
dưỡng mẹ cha già trong thời quá-khứ.

Đến khi Đức-Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, hậu-kiếp những nhân vật trong tích Sāli-kedārajātaka liên quan đến kiếp hiện-tại như sau:

- Ông Kosiya, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Ānanda.
- Người trông nom ruộng lúa sāli, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Channa.

- Cha và mẹ chim vẹt, nay kiếp hiện-tại là Đức Phụ-vương Suddhodana và Chánh-cung Hoàng-hậu Mahāmayādevī.

- Đức-Bồ-tát chim vẹt chúa, nay kiếp hiện-tại là Đức-Phật Gotama.

Bậc-tiền-bối dạy làm người phải nên biết:  

1- Biết trả nợ cũ đã vay của mẹ cha từ khi đầu thai vào lòng mẹ, khi sinh ra đời, nuôi nấng nên người.

* Bổn phận làm con phải biết trả công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha.

2- Biết cho con vay nợ mới, nghĩa là mẹ cha nuôi nấng con nên người. Đến khi con khôn lớn trưởng thành, đồng thời mẹ cha cũng đến lúc tuổi già sức yếu, hoặc bệnh hoạn ốm đau, người con phải biết bổn phận trả nợ cũ, là phải biết phụng dưỡng mẹ cha một cách chu đáo.

3- Biết chôn cất của cải đem theo bên mình, nghĩa là biết làm mọi phước-thiện, bởi vì mọi thiện-nghiệp là của riêng mình, được tích-luỹ trong tâm của mình, rồi cho quả tốt lành, sự an-lạc trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai.
 
 Trả Ơn Mẹ Cha Không Dễ
     (Na Suppatikāraṃ)

Mỗi người được hiện hữu trên cõi đời do nhờ công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha, cho nên, công ơn của mẹ cha thật là lớn lao vô lượng, vô biên mà bổn phận làm con khó mà đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha một cách xứng đáng được.

Đức-Phật dùng ví dụ rằng:

Người con đặt mẹ bên vai phải, đặt cha bên vai trái, cung phụng đầy đủ mọi thứ nhu cầu cần thiết trong cuộc sống hằng ngày của mẹ cha, tắm rửa, xoa bóp, xức nước hoa, ăn uống ngủ nghỉ, thậm chí mẹ cha đi tiểu tiện ở trên vai của người con, suốt thời gian tuổi thọ 100 năm như vậy.

Dù người con có thật sự làm được như vậy, thì cũng chưa có thể gọi là người con chí hiếu trả công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha một cách xứng đáng, bởi vì mẹ cha có công ơn lớn lao vô lượng, vô biên, … đối với người con. Mẹ cha cho con sinh ra đời, nuôi nấng, dưỡng dục con nên người.

Vậy, người con có cách nào để trả công ơn mẹ cha một cách xứng đáng hay không?


Đức-Phật dạy 4 pháp với ý nghĩa:

* Người con nào biết mẹ cha là người không có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo; không tin nghiệp và quả của nghiệp,… người con ấy nên thuyết phục mẹ cha trở thành người có đức-tin đầy đủ (saddhāsampadā).
 
* Người con nào biết mẹ cha là người không có ngũ-giới,… trong sạch, người con ấy nên thuyết phục mẹ cha trở thành người có ngũ-giới trong sạch và đầy đủ trọn vẹn (sīlasampadā).

* Người con nào biết mẹ cha là người có tâm bủn xỉn, keo kiệt trong của cải tiền bạc của mình,… người con ấy nên thuyết phục mẹ cha trở thành người có đại-thiện-tâm hoan-hỷ trong sự làm phước-thiện bố-thí, cúng-dường đến chư tỳ-khưu-tăng, v.v… người có sự bố-thí đầy đủ (cāgasampadā).

* Người con nào biết mẹ cha là người không có trí-tuệ sáng suốt,… người con ấy nên thuyết phục mẹ cha trở thành người có trí-tuệ sáng suốt, thấy rõ biết rõ thật-tánh của các pháp, trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ biết rõ các sắc-pháp, danh-pháp tam-giới và siêu-tam-giới, người có trí-tuệ đầy đủ (paññāsampadā).

Ví như Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta thuyết pháp tế độ mẫu thân trở thành bậc Thánh-Nhập-lưu. Cho nên, Ngài Đại-Trưởng-lão dạy rằng:
“Tôi đã trả ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ tôi rồi.”

Nếu người con nào có khả năng thuyết phục:

* mẹ cha là người không có đức-tin, trở thành người có đức-tin đầy đủ (saddhāsampadā).

* mẹ cha là người không có ngũ-giới,… trở thành người có ngũ-giới trong sạch và đầy đủ trọn vẹn.

* mẹ cha là người có tâm bủn xỉn, keo kiệt trong của cải, tiền bạc của mình, trở thành người hoan-hỷ trong sự bố-thí đầy đủ (cāgasampadā).

* mẹ cha là người không có trí-tuệ, trở thành người có trí-tuệ sáng suốt, có trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ biết rõ thật-tánh của các sắc-pháp, danh-pháp đầy đủ (paññāsampadā).

Thì người con ấy mới được gọi là người con biết ơn mẹ cha và biết trả ơn mẹ cha của mình  một cách xứng đáng.
Nếu trường hợp người con không có khả năng thuyết phục mẹ cha được thì thỉnh mời các vị Trưởng-lão đến thuyết giảng để cho mẹ cha trở thành người có đức tin, có giới trong sạch, biết bố thí, có trí-tuệ thì người con ấy cũng được gọi là người con biết ơn mẹ cha và biết trả ơn mẹ cha của mình một cách xứng đáng.
Thật vậy, dù người con cung phụng những nhu cầu cần thiết trong cuộc sống hằng ngày đến mẹ cha thì cũng chỉ giúp đỡ về phần thân thể của mẹ cha được an-lạc trong kiếp hiện-tại mà thôi.

Nếu người con nào có khả năng thuyết phục  mẹ cha trở thành người có đức-tin đầy đủ (saddhāsampadā), có ngũ-giới trong sạch và đầy đủ (sīlasampadā), có sự bố-thí đầy đủ (cāga-sampadā), có trí-tuệ đầy đủ (paññāsampadā) thì mẹ cha chắc chắn không chỉ hưởng sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an-lạc trong kiếp hiện-tại mà còn hưởng vô số kiếp vị-lai, nhất là làm nhân-duyên dẫn đến chứng-ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả, Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong 3 giới 4 loài.

Cho nên, người con ấy được gọi là người con chí hiếu biết ơn mẹ cha (kataññū) và biết trả công ơn (katavedī) sinh thành dưỡng dục của mẹ cha một cách xứng đáng.


* Thầy Với Học Trò

Mỗi người được hiện hữu trong đời này là do nhờ mẹ cha sinh con ra, nuôi nấng dưỡng dục, dạy dỗ con tập nói, tập ngồi, tập đứng, tập đi, tập ăn, uống, v.v… càng ngày càng lớn khôn hiểu biết mẹ cha, anh chị em, bà con thân quyến.

Như vậy, mẹ cha là vị Thầy đầu tiên (pubbā-
cariya) của người con, cho nên, người con phải có bổn phận biết ơn mẹ cha và biết trả công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha.

Nếu không có mẹ cha sinh ra thì không có con được hiện hữu trên đời này.

* Khi con đến tuổi đi học, mẹ cha dẫn con đến nhờ thầy, cô giáo dạy học trò biết đọc, biết viết chữ, biết môn học này, biết nghề nghiệp, v.v… đều do nhờ thầy, cô giáo dạy dỗ.

Như vậy, các thầy, cô giáo là vị Thầy sau (pacchācariya) của người học trò, cho nên, người học trò phải có bổn phận biết ơn thầy, cô giáo và biết đền đáp công ơn dạy dỗ của thầy, cô giáo.

Nếu không có thầy, cô giáo dày công dạy dỗ thì không có người học trò nào biết chữ nghĩa, biết nghề nghiệp làm ăn sinh sống trong kiếp hiện-tại.

Nay, người học trò trở thành người có chức trọng quyền cao, có cuộc sống đầy đủ sung túc đều do nhờ công ơn dạy dỗ của thầy, cô giáo. Cho nên người học trò phải có bổn phận biết ơn thầy, cô giáo và phải biết đền đáp công ơn dạy dỗ của thầy, cô giáo của mình.

Tất cả những sự hiểu biết, nghề nghiệp có được từ mẹ cha, các thầy, cô giáo chỉ đem lại sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an-lạc trong kiếp hiện-tại mà thôi, không liên quan đến kiếp vị-lai.

Còn đại-thiện-nghiệp biết ơn và biết trả ơn mẹ cha, biết đền đáp công ơn các thầy, cô giáo thì chắc chắn cho quả tốt an-lạc không chỉ trong kiếp hiện-tại mà còn vô số kiếp vị-lai nữa.


* Ngài Trưởng-Lão Và Đệ-Tử

Người nam hoặc người nữ nào đã đến nương nhờ nơi Ngài Trưởng-lão nào, phát sinh đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, kính xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ-trì ngũ-giới, trở thành người cận-sự-nam hoặc cận-sự-nữ, hoặc xuất gia trở thành tu-nữ, vị sa-di, vị tỳ-khưu trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama, người cận-sự-nam hoặc cận-sự-nữ, tu-nữ, vị sa-di hoặc vị tỳ-khưu ấy có cơ-hội tốt, có nhân-duyên lành phát triển mọi thiện-pháp đó là dục-giới thiện-pháp, sắc-giới thiện-pháp, vô-sắc-giới thiện-pháp cho đến siêu-tam-giới thiện-pháp.

* Dục-giới thiện-pháp đó là 8 dục-giới đại-thiện-tâm có 8 dục-giới đại-thiện-nghiệp cho quả an-lạc trong kiếp hiện-tại.

Sau khi người ấy chết, dục-giới đại-thiện-nghiệp có cơ-hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi người, hoặc trong 6 cõi trời dục-giới, hưởng mọi sự an-lạc trong cõi trời ấy cho đến hết tuổi thọ trong cõi ấy.

* Sắc-giới thiện-pháp đó là 5 sắc-giới thiện-tâm, hưởng sự an-lạc của bậc thiền ấy trong kiếp hiện-tại.
Sau khi hành-giả chết, chắc chắn sắc-giới thiện-nghiệp bậc cao cho quả tái-sinh kiếp sau làm phạm-thiên trên 1 trong 16 cõi trời sắc-giới.
Được sinh trong cõi sắc-giới nào hoàn toàn tuỳ thuộc vào bậc thiền sở đắc của hành-giả, hưởng sự an-lạc trong cõi trời sắc-giới ấy cho đến hết tuổi thọ trong cõi trời ấy.

* Vô-sắc-giới thiện-pháp đó là 4 vô-sắc-giới thiện-tâm hưởng sự an-lạc của bậc thiền ấy trong kiếp hiện-tại.

Sau khi hành-giả chết, chắc chắn vô-sắc-giới thiện-nghiệp bậc cao cho quả tái-sinh kiếp sau làm phạm-thiên trên 1 trong 4 cõi trời vô-sắc-giới.

Được sinh trong cõi vô-sắc-giới nào hoàn toàn tuỳ thuộc vào bậc thiền sở đắc của hành-giả, hưởng sự an-lạc trong cõi trời vô-sắc-giới ấy cho đến hết tuổi thọ trong cõi trời ấy.

* Siêu-tam-giới thiện-pháp đó là 4 Thánh-đạo-tâm không cho quả tái-sinh kiếp sau, mà trái lại giảm kiếp tái-sinh kiếp sau theo năng lực của mỗi bậc Thánh-đạo-tâm.

Hành-giả chứng đắc Thánh-đạo-tâm nào sinh rồi diệt liền cho quả là Thánh-quả-tâm ấy sau 1 sát-na-tâm không có thời gian khoảng cách, trở thành bậc Thánh-nhân ấy như sau:


4 Thánh-Đạo-Tâm Và 4 Thánh-Quả-Tâm
4 Bậc Thánh-Nhân

* Hành-giả chứng đắc Nhập-lưu-Thánh-đạo, Nhập-lưu-Thánh-quả, trở thành Bậc Thánh-Nhập-lưu (Sotāpanna).

* Hành-giả chứng đắc Nhất-lai-Thánh-đạo, Nhất-lai-Thánh-quả, trở thành Bậc Thánh-Nhất-lai (Sakadāgāmī).

* Hành-giả chứng đắc Bất-lai-Thánh-đạo, Bất-lai-Thánh-quả, trở thành Bậc Thánh-Bất-lai (Anāgāmī).

* Hành-giả chứng đắc A-ra-hán-Thánh-đạo, A-ra-hán-Thánh-quả, trở thành Bậc Thánh-A-ra-hán (Arahanta).


Kiếp Sau Của Mỗi Bậc Thánh-Nhân

* Bậc Thánh-Nhập-lưu đã diệt-đoạn-tuyệt được 2 loại phiền-não là tà-kiến và hoài-nghi, nên kiếp hiện-tại không còn khổ tâm do 2 loại phiền-não ấy nữa.
Sau khi bậc Thánh-Nhập-lưu chết, chắc chắn vĩnh viễn không còn tái-sinh trong 4 cõi ác-giới: địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh nữa, chỉ có dục-giới đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi-thiện-giới là cõi người hoặc 6 cõi trời dục-giới nhiều nhất 7 kiếp nữa mà thôi.
Đến kiếp thứ 7, chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh-A-ra-hán, rồi tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới.

* Bậc Thánh-Nhất-lai đã diệt-đoạn-tuyệt được 1 loại phiền-não là sân loại thô, nên kiếp hiện-tại không còn khổ tâm do sân loại thô ấy nữa.
Sau khi bậc Thánh-Nhất-lai chết, dục-giới đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau trong  cõi người hoặc cõi trời dục-giới một kiếp nữa mà thôi. Trong kiếp ấy chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh-A-ra-hán, rồi tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới.

* Bậc Thánh-Bất-lai đã diệt-đoạn-tuyệt được 1 loại phiền-não là sân loại vi tế, nên kiếp hiện-tại không còn khổ tâm do sân nữa.
Sau khi bậc Thánh-Bất-lai chết, chắc chắn sắc-giới thiện-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau làm phạm-thiên trên cõi trời sắc-giới, sẽ chắc chắn trở thành bậc Thánh-A-ra-hán, rồi sẽ tịch diệt Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam-giới.

* Bậc Thánh-A-ra-hán đã diệt-đoạn-tuyệt được 7 loại phiền-não còn lại là tham, si, ngã-mạn, buồn-chán, phóng-tâm, không biết hổ-thẹn tội lỗi, không biết ghê-sợ tội lỗi không còn dư sót, nên kiếp hiện-tại hoàn toàn không có khổ do phiền-não nữa.
Bậc Thánh-A-ra-hán ngay kiếp hiện-tại tịch diệt Niết-bàn (chết), không còn tái-sinh kiếp nào nữa, giải thoát khổ hoàn toàn tử sinh luân hồi trong tam-giới.

* Đức-Phật dạy Ngài Trưởng-lão Ānanda rằng:

“- Này Ānanda! Người nào nương nhờ nơi Ngài Trưởng-lão nào, rồi phát sinh đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, kính xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ-trì ngũ-giới, …

Như-Lai không truyền dạy người đệ-tử ấy đền đáp công ơn của Ngài Trưởng-lão ấy một cách xứng đáng bằng sự đón rước, đảnh lễ, cúng-dường bằng y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc trị bệnh,… ()”

Trong Chú-giải bài kinh Dakkhiṇāvibhaṅga-suttavaṇṇanā giảng giải đoạn kinh này:

Người đệ-tử nào nương nhờ nơi Ngài Trưởng-lão nào, phát sinh đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, kính xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ-trì ngũ-giới, …

Dù cho người đệ-tử ấy luôn luôn có lòng tôn kính đảnh lễ Ngài Trưởng-lão, khi biết Ngài Trưởng-lão ở hướng nào, người đệ-tử hướng tâm về hướng ấy đảnh lễ Ngài Trưởng-lão; khi ngủ, nằm quay đầu về hướng ấy, …

Dù cúng-dường những thứ vật dụng quý giá như những tấm y đắt tiền, những món vật thực ngon lành, những chỗ ở sang trọng, những thuốc trị bệnh tốt chất chồng trải rộng khắp trên toàn mặt đất, có chiều cao đến tận đỉnh núi Sineru, cũng chưa có thể gọi là người đệ-tử đền đáp công ơn của Ngài Trưởng-lão được, bởi vì ân-đức của Ngài Trưởng-lão là vô-lượng, vô biên không sao kể xiết được.

Cho nên, người đệ-tử biết ơn Ngài Trưởng-lão của mình và biết đền đáp công ơn của Ngài Trưởng-lão của mình, cần phải có bổn phận duy trì Phật-giáo cho được trường tồn lâu dài trên thế gian, để đem lại sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an-lạc cho nhân-loại thế hệ sau và chư-thiên.

Biết Ơn Và Biết Đền Ơn

Trong tích Rādhattheravatthu() Đức-Phật ngự tại ngôi chùa Jetavana, gần kinh-thành Sāvatthī, đề cập đến Ngài Trưởng-lão Rādha được tóm lược như sau:
Ngài Trưởng-lão Rādha khi còn là vị Bà-la-môn Rādha lớn tuổi lâm vào hoàn cảnh khổ, trong kinh-thành Sāvatthī, nên nghĩ rằng: “Ta nên đến phục vụ chư tỳ-khưu trong ngôi chùa Jetavana để sống qua ngày”.

Sau khi nghĩ như vậy, vị Bà-la-môn Rādha đến ngôi chùa Jetavana, hằng ngày, vị Bà-la-môn siêng năng làm mọi công việc như quét dọn sạch sẽ xung quanh chùa, lấy nước uống, nước dùng cho chư tỳ-khưu, v.v… một cách chu đáo.

Chư tỳ-khưu chỉ tế độ vật thực cho vị Bà-la-môn để sống qua ngày mà thôi. Vị Bà-la-môn Rādha lớn tuổi muốn xuất gia trở thành tỳ-khưu, nhưng không có vị tỳ-khưu nào cho xuất gia.

Vì không được xuất gia trở thành tỳ-khưu, nên vị Bà-la-môn Rādha khổ tâm làm cho thân hình gầy yếu.

Vào canh chót đêm ấy, sau khi Đức-Phật xả  đại-bi định, xem xét chúng sinh nên tế độ, thì vị Bà-la-môn Rādha hiện rõ, Đức-Phật thấy rõ biết rõ vị Bà-la-môn Rādha có duyên lành trở thành bậc Thánh-A-ra-hán, nên buổi chiều hôm ấy, Đức-Phật ngự đi đến chỗ ở của vị Bà-la-môn Rādha, truyền hỏi rằng:

- Này Bà-la-môn Rādha! Con đang làm công việc gì vậy?

Vị Bà-la-môn Rādha kính bạch với Đức-Phật:

- Kính bạch Đức-Thế-Tôn, hằng ngày, con lo phục vụ mọi công việc cho chư tỳ-khưu. Bạch Ngài.

- Này Bà-la-môn Rādha! Con được chư tỳ-khưu tế độ những gì vậy?

- Kính bạch Đức-Thế-Tôn,  chư tỳ-khưu chỉ tế độ vật thực cho con sống hằng ngày mà thôi, không cho phép con xuất gia trở thành tỳ-khưu. Bạch Ngài.

Gương Bậc Biết Ơn Và Biết Đền Ơn

Nghe vị Bà-la-môn Rādha lớn tuổi bạch như vậy, nên Đức-Phật truyền gọi chư tỳ-khưu hội họp,  Đức-Thế-Tôn truyền hỏi rằng:

- Này chư tỳ-khưu! Có ai còn nhớ đến ơn của  vị Bà-la-môn Rādha này không?
Khi ấy, Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta bạch với Đức-Thế-Tôn rằng:
- Kính bạch Đức-Thế-Tôn, con nhớ rõ, khi con đi khất thực trong kinh-thành Rājagaha, vị Bà-la-môn Rādha này đã từng cúng-dường để vào bát của con một vá cơm. Bạch Ngài.

Khi ấy, Đức-Thế-Tôn truyền bảo rằng:
- Này Sāriputta! Con đã biết ơn vị Bà-la-môn Rādha này, thì con nên tế độ vị Bà-la-môn Rādha thoát khỏi nỗi khổ tâm được không?
- Kính bạch Đức-Thế-Tôn, sādhu! Lành thay!
Con sẽ cho làm lễ xuất gia cho vị Bà-la-môn Rādha này.

Vị Bà-la-môn Rādha được Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta cho xuất gia trở thành tỳ-khưu.   Tỳ-khưu Rādha là vị tỳ-khưu rất dễ dạy, lắng nghe lời giáo huấn của vị Thầy tế độ, Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta một cách cung kính, rồi thực-hành pháp-hành thiền-tuệ 2-3 ngày sau, dẫn đến chứng-ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết-bàn, diệt-đoạn-tuyệt được mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót, trở thành bậc Thánh-A-ra-hán cao-thượng.

Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta dẫn vị tỳ-khưu Rādha đến đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, rồi ngồi một nơi hợp lẽ. Khi ấy Đức-Thế-Tôn truyền hỏi rằng:

- Này Sāriputta! Đệ-tử của con là vị dễ dạy phải không?

Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta bạch rằng:

- Kính bạch Đức-Thế-Tôn, đệ-tử của con thật là dễ dạy vô cùng, khi con chỉ bảo điều lỗi lầm nào của đệ-tử, người đệ-tử cung kính sửa chữa điều lỗi lầm ấy, mà không hề tỏ vẻ bực dọc chút nào cả.

Đức-Thế-Tôn truyền hỏi rằng:

- Này Sāriputta! Nếu có những đệ-tử dễ dạy như vậy thì con nhận bao nhiêu người?

Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta bạch rằng:

- Kính bạch Đức-Thế-Tôn, Nếu có những đệ-tử dễ dạy như vậy thì con nhận nhiều. Bạch Ngài.

Về sau, chư tỳ-khưu hội họp tại giảng đường tán dương ca tụng Ngài Đại-Trưởng-lão và Ngài Trưởng-lão Rādha rằng:

“Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta là Bậc biết ơn và biết đền ơn, khi Ngài Đại-Trưởng-lão nhớ ơn vị Bà-la-môn Rādha đã từng cúng-dường một vá cơm, nay nhận cho vị Bà-la-môn Rādha xuất gia trở thành tỳ-khưu. Và tỳ-khưu Rādha dù lớn tuổi vẫn là vị tỳ-khưu dễ dạy, cung kính vâng lời, thực-hành theo lời giáo huấn của Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta”.

Nghe  chư tỳ-khưu tán dương ca tụng như vậy,
Đức-Thế-Tôn ngự đến truyền dạy rằng:

- Này chư tỳ-khưu! Sāriputta là người biết ơn (kataññū) và biết đền ơn (katavedī) không chỉ kiếp hiện-tại này, mà trong tiền-kiếp cũng biết ơn và biết đền ơn như vậy.

Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng:

- Này chư tỳ-khưu! Tỳ-khưu phải là người dễ dạy như tỳ-khưu Rādha, dù vị Thầy chỉ bảo điều lỗi lầm nào của đệ-tử, người đệ-tử cung kính sửa chữa điều lỗi lầm ấy, mà không tỏ vẻ bực dọc chút nào.

Vị Thầy chỉ bảo điều lỗi lầm của người đệ-tử, cũng giống như người chỉ dẫn kho báu cho người tìm kho báu vậy.

Thông thường mình khó thấy, khó biết lỗi lầm của mình. Người chỉ lỗi có 2 hạng người:

* Hạng người chỉ lỗi của người nào với tác-ý ác-tâm làm nhục mạ người ấy giữa đám đông người, để làm mất uy tín người ấy.

* Hạng người là bậc thiện-trí chỉ bảo điều lỗi lầm nào của người đệ-tử với tác-ý đại-thiện-tâm muốn cho người đệ-tử thấy rõ biết rõ điều lỗi lầm mà từ bỏ, để trở nên con người tốt, người thiện.

* Người nào không thấy, không biết điều lỗi lầm nào của mình, nếu có bậc thiện-trí chỉ rõ   điều lỗi lầm ấy thì người ấy nhận thức đúng đắn mà sửa chữa lại, cũng gọi là bậc thiện-trí.

* Người nào bị người khác xúc phạm rồi, sau đó họ biết ăn năn hối lỗi đến xin tha thứ lỗi, người ấy phải nên hoan hỷ tha thứ lỗi của họ, cũng gọi là bậc thiện-trí.


 * Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông Với Chúng Ta

Tục-ngữ ta có câu “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.”

Ngày nay, chúng ta được biết đến Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda tại Việt-Nam, được nghe, được học hỏi giáo-pháp của Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda, biết đọc chữ Pāḷi, biết tụng kinh Pāḷi, biết các nghi thức làm lễ thọ phép quy-y Tam-bảo phổ-thông và ngũ-giới, bát-giới uposathasīla, biết nghi thức lễ xuất gia trở thành vị sa-di, vị tỳ-khưu trong Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda, giống y theo các nước có truyền thống Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda như nước Srilanka (Tích-Lan), nước Myanmar (Miến-Điện), nước Thailand (Thái-Lan)  nước Cambodia (Cam-Pu-Chia), nước Laos (Lào), v.v…

Người nào có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, kính xin thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ-trì ngũ-giới, người ấy trở thành người cận-sự-nam hoặc cận-sự-nữ, hoặc người nào xin làm lễ xuất gia người ấy trở thành tu-nữ, vị sa-di, vị tỳ-khưu trong Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda.

Ngày nay, chúng ta được biết đến Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda tại Việt-Nam là do nhờ Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông đã dày công đem về truyền bá tại Việt-Nam vào năm 1936.

Thế Hệ Diễm Phúc Biết Phật-Giáo Nguyên-Thuỷ

* Những người Việt-Nam nào sống trong thế hệ trước khi Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông đem Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda về truyền bá tại Việt-Nam, những người ấy không có diễm phúc biết được Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda.

* Những người Việt-Nam nào sống trong thế hệ cùng thời với Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông đem Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda về truyền bá tại Việt-Nam, những người ấy có diễm phúc biết được Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda.

Và những người Việt-Nam sinh ra trong thế hệ sau Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông, có cơ-hội biết được Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda.

Thật là diễm phúc cho chúng ta biết dường nào! Nay, chúng ta là người cận-sự-nam hoặc cận-sự-nữ, là tu-nữ, vị sa-di, vị tỳ-khưu trong Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda, đều do nhờ ơn của Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông.

Nếu như Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông không đem Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda về truyền bá tại Việt-Nam thì chúng ta không biết đến Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda, chúng ta cũng không có ai là người cận-sự-nam, cận-sự-nữ, tu-nữ, vị sa-di, vị tỳ-khưu trong giáo-pháp của Phật-
giáo Nguyên-thuỷ Theravāda.

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

Sự thật, nay chúng ta đã hưởng được quả là trở thành người cận-sự-nam hoặc cận-sự-nữ, là tu- nữ, vị sa-di, vị tỳ-khưu trong Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda, chúng ta nên biết ơn Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông, và biết đền đáp công ơn của Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông.

Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông đã có công đem Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda về truyền bá, nên chúng ta mới biết được Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda.

Vậy, chúng ta nên giữ gìn, duy trì và phát huy  Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda để cho nhiều   người được biết, để họ cũng được hưởng quả như chúng ta.

Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông đã từ giã chúng ta từ ngày 26 tháng 7 Phật-lịch 2525 / 1981 cho đến nay đã hơn 33 năm. Nay dù chúng ta có biết ơn Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông và muốn đền đáp công ơn của Ngài Sơ Tổ cũng không có cơ-hội dâng lễ cúng-dường đến Ngài Sơ Tổ bằng những thứ vật dụng cần thiết được nữa.


Ngôi Tháp Thờ Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông

 Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông đã từ giã chúng ta hơn 33 năm qua, để lại thi thể của Ngài. Các hàng đệ tử đã làm lễ hoả táng, còn lại phần cốt được tôn thờ tại ngôi tháp sau cây Đại Bồ-đề chùa Tổ Bửu-Long.

Trải qua nhiều năm, ngôi tháp thờ Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông đã có phần bị suy thoái, trong một thời gian không lâu sẽ bị suy sụp.

Cho nên, những người biết ơn Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông và muốn biểu hiện lòng biết ơn Ngài Sơ Tổ, nên đồng tâm nhất trí xây dựng ngôi tháp thờ Ngài Sơ Tổ bằng toàn đá khối hoa cương có chạm trổ hoa văn, để thay thế ngôi tháp cũ, với sự hy vọng ngôi tháp mới này sẽ được bền vững lâu dài với thời gian hơn; đồng thời những thế hệ sau nhìn thấy ngôi tháp thờ Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông mà nhớ đến Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông là Bậc đã dày công đem Phật-giáo Nguyên-thuỷ Theravāda về truyền bá tại Việt-Nam.

Đó cũng là cách thể hiện tấm lòng biết ơn của những người biết ơn và biết đền ơn đối với Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông.


* Cây Đại Bồ-Đề Với Đức-Phật Gotama

Đức-Phật Gotama truyền dạy Ngài Trưởng-lão Ānanda rằng:

“- Sādhu! Ānanda! Ropehi.
“Evaṃ sante Jetavane mama nibaddhavāso viya bhavissati.”()

- Này Ānanda! Lành thay! Con hãy nên gieo trồng cây Đại Bồ-đề tại ngôi chùa Jetavana này.

“Như vậy, khi con trồng cây Đại Bồ-đề trong  ngôi chùa Jetavana này, thì cây Đại Bồ-đề cũng như là sự thường trú của Như-Lai.”

Cây Đại Bồ-đề ấy có tên là “Ānandabodhi:” Cây Đại Bồ-đề của Ngài Trưởng-lão Ānanda.

* Cây Đại Bồ-Đề Chùa Tổ Bửu-Long

Cây Đại Bồ-đề được trồng tại chùa Tổ Bửu-Long là cây Đại Bồ-đề mà Ngài Đại-Trưởng-lão Narada thỉnh từ Srilanka (Tích-Lan) đem dâng đến Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông vào năm 1960 (cách nay 55 năm).

Lúc sinh thời, Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông hết lòng tôn kính cây Đại Bồ-đề ấy, chăm sóc, phụng dưỡng cây Đại Bồ-đề ấy một cách chu đáo.

Hằng ngày, Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông đến đảnh lễ, cúng-dường, tụng kinh tại cây Đại Bồ-đề ấy.

Nay, cây Đại Bồ-đề ấy bị suy dinh dưỡng, có cành cây Bồ-đề bị khô, nên những người biết ơn Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông và muốn đền đáp công ơn  Ngài Sơ Tổ, đồng tâm nhất trí cứu chữa cây Đại Bồ-đề ấy bằng cách vun xới, chăm bón từ cội đến rễ, cho nên phải gỡ bỏ lớp gạch men nền cũ, đổ đất phân trên nền, rồi lót lại gạch hoa thị, màu nâu và màu vàng theo từng hàng xen kẽ với nhau, khi trời mưa, nước có thể thấm xuống rễ cây Đại Bồ-đề ấy một cách dễ dàng được.

Để tỏ lòng tôn kính cây Đại Bồ-đề ấy, nên những người biết ơn Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông và muốn đền đáp công ơn Ngài Sơ Tổ, cho làm lại khung bao bát giác và 8 tấm phù điêu quanh cội Đại Bồ-đề, lâu đài tôn thờ Đức-Phật bằng i-nốc mới thay lâu đài cũ đã bị hư, làm lan can bằng i-nốc xung quanh khuôn viên cội cây Đại Bồ-đề và ngôi tháp thờ Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông, tạo nên một khuôn viên có tính chất thiêng liêng đối với các hàng đệ-tử mỗi khi đến chiêm bái, đảnh lễ, cúng-dường cây Đại Bồ-đề và ngôi tháp thờ Ngài Sơ Tổ Hộ-Tông.



Đoạn Kết


Đức-Phật dạy:

* Người nào có đầy đủ 2 đức-tính tốt:

1- Đức-tính biết ơn (kataññū) người đã ban ơn cho mình trước, và
2- Đức-tính biết đền đáp công ơn (katavedī) đến người đã ban ơn cho mình.
Người ấy được gọi là bậc thiện-trí (sappurisa).

* Người nào có 2 tính xấu:
1- Tính không biết ơn (akataññū) người đã ban ơn cho mình trước, và
2- Tính không biết đền đáp công ơn (akatavedī) đến người đã ban ơn cho mình.
Người ấy bị gọi là người ác vong ơn (asappurisa).

Như vậy, người nào có đầy đủ 2 đức-tính tốt là biết ơn người ân-nhân (kataññū) và biết đền đáp xứng đáng công ơn của người ân-nhân (katavedī), người ấy được gọi là bậc thiện-trí (sappurisa) trong đời.

Trái lại, người nào có đầy đủ 2 tính xấu là không biết ơn người ân-nhân (akataññū) và không biết đền đáp xứng đáng công ơn của người ân-nhân (akatavedī), người ấy bị gọi là người ác vong ơn (asappurisa) trong đời.

 Ân-nhân có 2 hạng:

1- Hạng người ân-nhân trực-tiếp.
2- Hạng người ân-nhân gián-tiếp.

1- Hạng người ân-nhân trực-tiếp trước tiên là mẹ cha có công ơn sinh thành dưỡng dục con khôn lớn trưởng thành, tiếp theo là các thầy, cô giáo dạy học chữ, dạy học nghề, Vị Thầy Tổ dạy pháp-học Phật-giáo, pháp-hành Phật-giáo. Đó là những bậc ân-nhân trực tiếp gần gũi thân cận với chính mình.

 2- Hạng người ân-nhân gián-tiếp, đó là những người ân-nhân ở xa mình.


Cuộc sống hằng ngày đêm của mỗi người chúng ta luôn luôn nương nhờ vào các nhu yếu phẩm cần thiết, do những người sản xuất ra các nhu yếu phẩm ấy.

Giả dụ không có những người ân-nhân gián-tiếp ấy thì chúng ta không thể duy trì sự sống được, có phải vậy không?

Cho nên, tất cả những người ấy đều là những người ân-nhân gián-tiếp mà mỗi người chúng ta cũng có bổn phận biết ơn những người ân-nhân gián-tiếp và biết đền đáp công ơn của người ân- nhân gián-tiếp ấy bằng cách gián-tiếp, nghĩa là mỗi người nên làm công việc thuộc về thiện-pháp đem lại sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an-lạc cho mình và cho mọi người, mọi chúng sinh.

Mỗi người chúng ta sống phải biết trả nợ cũ, biết cho vay nợ mới, để cho cuộc sống được sòng phẳng, không nợ nần, nên thân tâm thường được an-lạc.

 Cho nên, người là bậc thiện-trí trong đời cần phải có đầy đủ 2 đức-tính tốt là biết ơn những người ân-nhân và biết đền đáp công ơn của những người ân-nhân, bằng cách trực-tiếp hoặc gián-tiếp, bởi vì, mọi người đều là ân-nhân trực-tiếp hoặc gián-tiếp của mình cả.
P.L. 2558 / 2014
Chùa Tổ Bửu-Long
Q.9, Tp. Hồ-Chí-Minh

Tỳ-khưu Hộ-Pháp
(Dhammarakkhita Bhikkhu)
(Aggamahāpaṇḍita)