Thiền Giữa Đời Thường

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018



V. F. Gunaratna
“Áp Dụng Pháp Tứ Niệm Xứ Vào Ðời Sống Hiện Ðại" là đề mục buổi nói chuyện của tôi chiều nay.
Trước tiên tôi sẽ cố gắng trình bày cùng quý vị vài ý niệm về Tứ Niệm Xứ, rồi sau tôi sẽ vạch rõ tình trạng đặc biệt và phức tạp của thời đại hiện tại như thế nào để quý vị nhận thức rằng hơn lúc nào cả, Pháp Tứ Niệm Xứ rất cần thiết cho thời đại của chúng ta.

Cũng như quý vị đã biết, Pháp Tứ Niệm Xứ đề cập đến sự phát triển một khả năng rất quý của Tâm là "Sati", hay "Niệm" (chú tâm). Sự phát triển ấy có bốn cách. Tứ Niệm Xứ có nghĩa là củng cố Niệm, hoặc thực hành Niệm. Bốn cách Niệm mà ta trông thấy trong Kinh là:

1.    - Niệm Thân (niệm hơi thở thuộc về khoảng này): Kàyànupassanà.
2. - Niệm Thọ: Vedanànupassanà
3. - Niệm Tâm: Cittànupassanà
4. - Niệm Pháp: Dhammànupassanà

Niệm là một trong tám Chi của Bát Chánh Ðạo; nó là một trong Ngũ Căn (Indriya) và cũng là một trong Thất Giác Chi (Bojjhanga). Như vậy quý vị cũng đủ thấy là Niệm (Sati) có một vị trí rất quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Thật vậy, Ðức Phật đã gọi nó là "Ekàyano Maggo" - con đường duy nhất, "sattànam visuddhiyà" - làm cho chúng sanh trở nên thanh tịnh, "soka pariddavànam samatikkamàya" - làm cho ta vượt qua phiền não và ta thán, "dukkha domanassànam tthangamàya" - làm cho ta tiêu diệt khổ não và âu sầu, "nàyassa adhiga màya" - đem ta vào Chánh Ðạo, "nibbànassa sacchikiriyàya" - để chứng quả Niết Bàn.

Bởi thế nên theo quan điểm của người thường, Niệm cũng là một đức độ rất đáng kỳ vọng. Lẽ thường cho ta hiểu rằng thực hành Niệm sẽ làm cho ta trở nên tinh vi đúng mực hơn, nhặm lẹ hơn và làm giảm bớt những điều sai, những lỗi lầm, những sơ xuất, những tai nạn. Và lẽ thường cũng cho ta hiểu thêm rằng nếu thực hành Niệm thành một thói quen, tâm ta sẽ được quân bình, ta sẽ ý thức được sự tương xứng trong mọi việc, ta sẽ có một tinh thần minh mẫn và luôn luôn ta sẽ thận trọng. Nhưng, xin quý vị nên nhớ rằng Ðức Phật còn cho ta biết nhiều hơn nữa về kết quả của Niệm. Ðức Phật, với những lời lẽ hết sức là rõ ràng, như tôi vừa trích trên đây, dạy ta rằng Niệm có tác dụng làm cho chúng sanh trở nên thanh tịnh, làm cho ta vượt qua phiền não, đưa ta vào Bát Chánh Ðạo và cuối cùng làm cho ta chứng được Niết Bàn.

* * *

Song, làm thế nào để đạt được những kết quả cao quý và tốt đẹp ấy? Cho đặng thành tựu như thế thì cái Niệm mà ta thực hành không phải chỉ thuộc về thế gian này, không phải là Niệm "tại thế" (lokiya), nhưng phải là Niệm "siêu thế" (lokuttara), nghĩa là phải có một đặc tính riêng biệt thuộc về tinh thần, và do đó phải có một kỹ thuật đặc biệt để thực hành Niệm. Pháp Tứ Niệm Xứ đề cập đến bốn cách Niệm và phương pháp cần thiết để thực hiện. Như vậy, khi ta hành về một trong Tứ Niệm Xứ bằng phương pháp đặc biệt của nó, ta có thể thu thập được những kết quả hứa hẹn.

Niệm cho đúng phương pháp có đặc điểm là nó đòi hỏi phải nhìn sự vật một cách khách quan, chứ không chủ quan; nếu Niệm không chứa đựng được yếu tố quan trọng là nhìn sự vật một cách khách quan, thì chưa chắc phải là Niệm đúng theo nghĩa của nhà Phật mà trong Kinh gọi là Sati. Ta phải cần phân biệt giữa lối nhìn khách quan và lối nhìn chủ quan. Khi có người yêu cầu Pythagore định nghĩa nhà hiền triết là như thế nào, thì ông trả lời với một ý nghĩa cũng tương tợ như trên là khi mọi người trên thế gian này được mời đến dự "tiệc đời", thì có một số người đến đặng hưởng lạc, một số nữa đến đặng cầu tiếng tăm, danh vọng, nhưng cũng có một số người khác đến để mà xem. Những hạng người sau này chính là những nhà hiền triết vậy. Tỷ dụ ấy ngụ ý là bậc triết nhân không đồng nhất mình với cuộc đời. Bậc triết nhân nhìn đời một cách bàng quan. Người tập luyện Sati cũng phải nhìn sự vật như thế.

Khi quý vị nhìn một vật gì một cách chủ quan thì giữa quý vị và vật ấy có một ái lực về tinh thần. Quý vị đem Tâm mình đến rất gần vật ấy. Quý vị liên kết mình với đối tượng và nếu có mối liên kết nào giữa quý vị và đối tượng, thì quý vị sẽ không cố gắng để ngoài Tâm mối liên hệ ấy. Trái lại, mối liên hệ ấy còn ảnh hưởng rất nhiều và sẽ tô màu việc quan sát của quý vị. Rốt cuộc, quý vị không còn là người quan sát vô tư nữa. Còn như quý vị nhìn vật gì một cách khách quan thì quý vị cầm giữ tâm mình cho xa đối tượng, quý vị tách mình ra khỏi đối tượng và nếu có mối liên hệ nào giữa quý vị và đối tượng, thì quý vị sẽ không cho nó ảnh hưởng đến việc quan sát của mình. Như vậy, quý vị là người chỉ quan sát mà thôi, khác hẳn với người quan sát thiên vị. Người quan sát khách quan không bị ngoại cảm ảnh hưởng, tất nhiên sẽ thấy rõ hơn và đúng hơn người quan sát thiên vị, vì sự nhìn của người quan sát thiên vị có thể bị sai lệch bởi tư kiến, tư lợi. Người đứng ngoài thấy rõ nước cờ hơn người đánh cờ hoặc người đánh ké. Vậy, khi ta thực hành Niệm, ta phải thoát ra khỏi tất cả ý tưởng về bản ngã hay tư lợi, phải rán gắn Tâm vào đối tượng mà thôi, không lưu ý đến một giả thuyết nào, một phỏng đoán nào, thiên kiến nào, thành kiến nào hay ức đoán nào cả. Tóm lại, ta cố gắng có một hình ảnh thật của đối tượng và chỉ có hình ảnh ấy mà thôi. Chính đó là đặc tính của Niệm mà ta phải đào luyện cho kỳ được.

Tôi đã nói rằng có bốn đối tượng của Niệm: Thân, Thọ (cảm giác), Tâm (ý tưởng), và Pháp (đối tượng của ý), và đối với mỗi đối tượng ấy, ta phải hành Niệm một cách khách quan. Bất cứ là đối tượng nào của Niệm, quý vị phải nhìn chỉ đối tượng ấy mà thôi. Ðó là bí quyết trong việc thực hành Satipatthàna (Tứ Niệm Xứ) để có hiệu quả, và bí quyết ấy Ðức Phật đã giải thích rõ ràng trong rất nhiều cơ hội. Quý vị có thể tưởng tượng tầm quan trọng của điều ấy khi tôi nhắc lại câu chuyện sau đây:

Một hôm, trên đường đi trì bình, Ðức Phật dừng bước lại để giải thích bí quyết ấy cho một người nọ. Hàng ngày, Ðức Phật luôn luôn áp dụng một thời khắc biểu nhứt định và không khi nào thay đổi, như chẳng hạn trong lúc đi trì bình thì không bao giờ dừng bước lại để làm một việc nào khác. Thế mà trong trường hợp đặc biệt này, Ngài dừng chân lại để đàm luận cùng Bàhiya, nhà lãnh đạo một tôn giáo nọ. Ông Bàhiya này đã sống một cuộc đời lương thiện và ông đã tự cho rằng mình có thể đạt đến tầng A La Hán. Nhưng một hôm nọ có một vị Thần đến bảo ông rằng: "Người chưa phải là A La Hán đâu, cũng chưa đến A La Hán đạo nữa. Người đâu có biết được "kỹ thuật" (patipadà) để trở thành bậc A La Hán. Người hãy đến hỏi với Ðức Phật đi! Ngài là bậc A La Hán và Ngài đang dạy phương pháp đưa chúng ta đến tầng A La Hán. Ngài ở cách xa đây, tại thành Sàvatthi (Xá Vệ)".

Những lời khuyên của vị Thần làm cho Bàhiya rất xôn xao. Ông tức khắc lên đường thẳng đến Sàvatthi. Trong Kinh chép rằng ông khao khát học tập "kỹ thuật" để trở thành bậc A La Hán đến nỗi ông chỉ ngừng lại có một đêm trong suốt cuộc hành trình của ông. Khi đến Jetavana (Kỳ Viên) tại thành Sàvatthi, ông được biết rằng Ðức Phật đã đi trì bình. Rất bối rối, ông bèn noi theo hướng Ðức Phật đã đi. Gặp được Ngài, ông liền quỳ xuống, đặt trán lên chân Ngài và khẩn cầu Ngài chỉ dạy cho "kỹ thuật" để trở thành A La Hán. Hai lần thỉnh nguyện và cả hai lần Ðức Phật đều không chấp thuận lời yêu cầu của ông, nói rằng: "Này Bàhiya, anh đến không đúng lúc. Chúng tôi đã lên đường đi trì bình". Khi ông thỉnh cầu đến lần thứ ba, vì biết nghiệp ông phải chết nội ngày ấy, nên Ðức Phật dừng chân lại mà giải thích một cách tóm tắt như sau đây: "Này Bàhiya, anh phải luyện tập như thế này:

"Ditthe dittha - mattam bhavissati
Sute suta - mattam bhavissati
Mute muta - mattam bhavissati
Vinnàte - vinnàta - mattam bhavissati".

"Khi trông thấy vật gì, anh chỉ nên thấy vật ấy mà thôi.
Khi nghe tiếng gì, anh chỉ nên nghe tiếng ấy mà thôi.
Khi có một ý tưởng nào, anh chỉ nên nhận thức ý tưởng ấy mà thôi.
Khi có sự hiểu biết nào, anh chỉ nên nhận thức sự hiểu biết ấy mà thôi".

Bấy nhiêu lời đủ làm cho Bàhiya giác ngộ.

Ðó là những lời rất uyên thâm, đầy ý nghĩa. Với sự trình bày trước đây, tôi chắc rằng quý vị đã lãnh hội được đầy đủ. Nếu quý vị thực hành Niệm trên một sắc tướng nào thì quý vị phải chỉ thấy sắc tướng ấy mà thôi, chứ đừng thấy gì khác nữa. Những ý nghĩ và cảm kích nào do lợi ích riêng tư đã phát sinh khi quý vị thấy sắc tướng ấy, cũng không được làm sai lệch sự trông thấy của quý vị. Khi đối tượng của Niệm là một tiếng động thì phải chỉ có tiếng động ấy mà thôi, chứ không nên có những ý nghĩ và cảm kích nào tạo ra vì tư lợi. Khi ta nghe một việc gì cũng vậy, chỉ nên nghe việc ấy mà thôi. Ðối với ba cách Niệm kia quý vị cũng nên giữ một thái độ tinh thần như thế.

Khi Ðức Phật cùng các đệ tử trì bình xong trở về, Ngài thấy Bàhiya nằm chết bên lề đường, vì bị một con bò con húc. Ðức Phật bảo đệ tử của Ngài đem thi hài ông đi hỏa táng. Sau đó, Ðức Phật nói rằng: "Bàhiya đã vâng theo lời ta dạy. Anh đã chứng ngộ đạo quả A La Hán".

Giờ đây ta mới thấy sự quan trọng của lối nhìn sự vật một cách khách quan. Mỗi khi cái gì đến ta, ta không nên để nó ảnh hưởng đến ta. Ta phỉ nhìn nó một cách thật khách quan. Cái gì đến ta có thể là sắc, hoặc thinh, hoặc hương, hoặc vị, hoặc xúc, hoặc một ý tưởng. Trong Anh ngữ không có danh từ nào đồng nghĩa với ý tưởng "cái gì đến trên con đường ta". Danh từ Pàli là "àrammana", thường được dịch là "đối tượng". Ấy là những gì đến với ta trên đường đời và nếu ta nhìn những việc ấy một cách khách quan, thay vì để nó chế ngự ta, thì ta sẽ trải qua cuộc đời đúng đắn, không lầm lạc. Hiện nay thế gian đang khổ vì không quan sát đúng những "sự việc gặp gỡ" ấy. Trước những "sự việc gặp gỡ" ấy ta hồi tưởng lại bao nhiêu là phản ứng của ta đối với nó trong quá khứ, bao nhiêu là khuynh hướng của ta trong hiện tại, rồi ta vội vàng hành động. Như vậy là điên cuồng. Ta cứ để cho hình ảnh thật tự nó in vào đầy đủ trong tâm thức ta. Trái lại, hiện nay ta không chịu chờ có một hiểu biết đầy đủ nào về "sự việc gặp gỡ" đó. Những nét sơ thiển của nó đủ ảnh hưởng ta và khiến ta vội vàng hành động.

Thí dụ, quý vị thử xem một điều gọi là ác. Quý vị nên nhìn nó một cách khách quan, thay vì để những phản ứng thường tình do nó gây nên xen vào trong tâm thức quý vị. Quý vị hãy cố gắng đạt hết ý nghĩa của cảnh tượng ấy. Hãy vô tư, hãy thành thật, hãy bình tĩnh xem. Hãy nhìn nó cho lâu, đừng để cho những dục vọng, những cảm kích, những quan niệm mà cảnh tượng ấy có thể gợi lên trong tâm thức quý vị, làm xao xuyến quý vị. Ðừng kết luận, cũng đừng ước đoán. Cứ chỉ nhìn, nhìn một cách khách quan, thì chắc chắn rằng bộ mặt giả dối bên ngoài của điều xấu sẽ mất đi và quý vị sẽ không bị sai lầm. Cái bề ngoài dễ thương của mọi điều ác quyến rũ một số không ít những người nhẹ dạ, không nghi ngờ gì cả, nhưng sẽ biến mất trước cái nhìn chăm chăm, không lay chuyển của người quan sát khách quan. Và người này sẽ thấy vạn vật dưới ánh sáng thật của nó. Quý vị sẽ thấy vạn vật đúng chân tướng của nó - yathà bhutanana dassana - và một khi quý vị thấy vạn vật đúng theo chân tướng của nó thì quý vị không còn là nạn nhân của si mê nữa. Ðó là sứ mệnh cao cả của Satipatthàna (Tứ Niệm Xứ).

* * *

Tôi vừa nói về ý nghĩa đặc biệt của chú Niệm. Giờ đây chúng ta hãy bàn qua phương pháp đặc biệt để thực hiện Niệm. Trước hết ta nên nói rằng phương pháp đặc biệt ấy nhắm vào sự thực hành đối tượng thứ nhất của Niệm, là Niệm thân, và đặc biệt nhắm vào cách Niệm đặc biệt về thân và Niệm hơi thở "ànàpàna-sati". Thực hành loại Niệm này cần chọn một giờ nhất định là một cách ngồi riêng biệt. Các loại Niệm kia có thể thực hành bất kỳ chỗ nào, bất cứ giờ nào, tùy theo cơ hội thuận tiện.

Vậy thực hành Niệm về hơi thở cần phải ở nơi nào? Trong Kinh có chép: "arannagato và rukkhamùlagato và sunnàgàragato ". "Trong một khu rừng, dưới một cội cây, hoặc trong một ngôi nhà trống". Ba chốn được kể ra đây bao hàm ý nghĩa phải chọn một chỗ yên tĩnh, một nơi mà ta có thể lui về để tránh sự ồn ào, sự náo nhiệt, sự xôn xao của nếp sống bận rộn hàng ngày. Ðây là một điều mà thế giới hiện đại rất cần có. Nhưng, rừng rú thì càng ngày càng bớt đi, ở thành thị thì rất hiếm có vườn tược với những cổ thụ có bóng mát. Ở thôn quê thì có vườn tược và cây cối, nhưng thôn quê mau trở thành đô thị và nơi đó hết phải là những nơi vắng vẻ, yên lặng và tĩnh mịch như hồi xưa. Những người sống ở thành phố rộn rịp hoặc ở thôn quê rộn rịp chỉ còn có giải pháp thứ ba là ngôi nhà trống (sunnàgàra). Ngay đến ngôi nhà trống cũng không dễ gì tìm ra, vậy ta phải tìm một căn phòng trống. Trong đời sống hiện đại vấn đề chỗ ở khó khăn đến đỗi một căn phòng trống cũng không bao nhiêu người có đặng. Lối sống chen chúc và cách sống ở các nhà cao tầng, khu tập thể ngày nay làm cho ta càng khó có riêng một căn phòng trống. Ðiều cần thiết đó là chọn một góc yên tĩnh trong căn phòng, hoặc hơn nữa quý vị nên niệm hơi thở trên giường buổi tối hay sáng sớm, khi đâu đó đều thật yên lặng.

Khi chọn được một chỗ rồi, quý vị phải cố giữ chỗ ấy luôn luôn, đừng thay đổi, nếu không sẽ bất lợi nhiều. Thế rồi quý vị lại phải chọn một giờ nhất định và phải cương quyết giữ đúng giờ đó. Quý vị nên nhớ rằng thực hành niệm số tức quan (ànàpànasati), tức là hành thiền, phải hành cho đều đặn, và một khi quý vị ý thức tầm quan trọng của điều này thì quý vị không nên để bất cứ việc gì cản trở nó. Phải cứ chỗ mình đã chọn, mỗi ngày và mỗi ngày phải đúng giờ đã định. Ðó là những yếu tố tâm lý quan trọng đem đến kết quả và thành công. Cơ thể con người được cấu tạo như thế nào nên nó có thể đáp ứng dễ dàng với nhịp đều đặn trong sự hành thiền. Nếu quý vị tập cho quen việc hành thiền đúng nơi và đúng giờ, và nếu quý vị thành tâm hành thiền cho đều đặn thì chắc chắn mỗi khi đến giờ hành thiền, quý vị không còn muốn làm một việc nào khác cả. Nếu có một việc gì xảy đến làm trở ngại việc hành thiền của quý vị mà quý vị không sao tránh được, thì quý vị thấy thất vọng nhiều. Hơn nữa, khi đến giờ hành thiền, quý vị cảm thấy trong lòng thỏa thích vì lúc ấy tâm trạng của quý vị đã sẵn sàng chờ đón cuộc hành thiền. Quý vị sẽ ngạc nhiên mà nhận thấy tất cả những tư tưởng xấu đều dừng lại không vào được Tâm của quý vị trong giờ phút thiêng liêng này. Ngay khi quý vị đến chỗ hành thiền quen thuộc - chỗ ấy phải là thiêng liêng đối với quý vị - quý vị cũng sẽ ngạc nhiên mà cảm thấy Tâm mình đáp ứng dễ dàng với kỷ luật mà quý vị đã áp dụng. Quý vị cũng sẽ ngạc nhiên mà nhận thấy tư tưởng xấu không vào được Tâm mình. Nếu có đi nữa, những tư tưởng ấy cũng sẽ nhường chỗ dễ dàng cho những tư tưởng tốt. Vì thế nên quý vị cần dành riêng một giờ nhất định và chọn một nơi riêng biệt để hành thiền.

Tôi cũng xin nhắc quý vị rằng mỗi ngày, trong lúc rảnh rang, quý vị nên nhớ lại số tức quan mà mình đã hành buổi tối hoặc hồi sáng sớm. Mỗi ngày trong lúc rảnh rỗi, quý vị phải biết đem Tâm mình trở về với sự yên lặng, phải biết giữ cho yên tĩnh trong cảnh náo nhiệt hàng ngày. Quý vị nên nhớ đến hơi thở, dầu trong vài phút cũng được. Trong trường hợp đó tất nhiên ta không nên câu nệ nào là giờ khắc nhất định, nào là chỗ ngồi riêng biệt, nào là cách ngồi đặc biệt.

Có lẽ quý vị cũng muốn hỏi: "Trong thế giới bận rộn ngày nay làm thế nào mà tìm được thì giờ để hành thiền chút ít?" Tôi sẽ nói rằng: "Dầu thế nào đi nữa, quý vị cũng có thể có thì giờ". Ðành rằng thời đại này là một thời đại luôn luôn bận rộn tạo nên bởi sự quay cuồng khủng khiếp và sự căng thẳng triền miên của mọi vật. Chẳng hạn như quý vị định đi đến một nơi nào đó mà không đi suốt được phải sang xe. Dầu chuyến xe đầu có chạy thật mau đi nữa, quý vị cũng phải chờ đôi chút trước khi bước sang xe thứ nhì. Trong lúc chờ đợi, quý vị lấy làm nóng nảy. Tâm trạng của quý vị rất căng thẳng. Ðó là dịp mà quý vị có thể niệm một chút về số tức quan (ànàpànasati). Hoặc giả quý vị đến nhà ga mua vé xe lửa. Trong lúc đó đã có rất đông người đang đứng nối đuôi nhau chờ. Quý vị bực bội không biết đến chừng nào mới đến phiên mình mua được vé. Ðây cũng là một cơ hội nữa mà quý vị có thể thực hành ànàpànasati. Quý vị đáp xe lửa trên một đường phải đổi xe. Khi xuống xe để đổi sang chiếc khác, quý vị đi bách bộ trên thềm ga; quý vị cũng bực mình nóng nảy chờ được đổi xe. Ðây cũng là một dịp nữa để quý vị thực hành ànàpànasati. Xe hơi của quý vị đang chạy rất nhanh, vừa đến ngã tư thì đèn xanh lại cũng vừa tắt đi và đèn vàng thay thế. Quý vị bực mình nhưng phải ngừng lại. Tâm trạng quý vị rất căng thẳng vì dường như quý vị phải chờ đợi không biết mấy kiếp đèn vàng mới chịu tắt, rồi đèn đỏ mới chịu cháy, rồi bao nhiêu kiếp nữa đèn đỏ mới chịu nhường chỗ cho đèn xanh trở lại. Trong khoảng thời gian "vô tận" đó, quý vị có thể thực hành chút ít về ànàpànasati. Ðược vậy sự căng thẳng trong người của quý vị sẽ biến đi, quý vị sẽ bình tĩnh hơn và sẵn sàng đối phó với bất cứ vấn đề nào cần đến sự lưu ý của quý vị. Trong phòng đợi ở nhà ga, trong phòng khách của bác sĩ hay của nha y sĩ, trên xe lửa, trong lúc đi xe nhà hoặc đi xe đò, quý vị lại không thể thực hành được một chút về ànàpànasati sao? Ðấy, quý vị sẽ thấy rằng trong đời sống hàng ngày ở thế giới bận rộn ngày nay cũng còn có cơ hội cho quý vị trở về với sự yên lặng của Tâm và hành "Niệm" đôi chút.

Giờ đây, sau khi xem xét về nơi và giờ hành thiền, chúng ta bàn đến cách ngồi cần thiết khi ta niệm hơi thở (ànàpànasati). Trong Kinh chép rằng: "Nisìdati pallankam àbhujitvà ujum kàyam panidhàya" - hành giả ngồi, hai chân tréo lại (kiết già), giữ thân mình cho ngay thẳng. Ðó là một cách ngồi mà ta có thể không nhúc nhích trong một thời gian quá lâu. Có người cho rằng ngồi yên, không động đậy tay chân đến cả nửa giờ, dù có ngồi trên một chiếc ghế êm đi nữa, cũng rất là khó. Nhưng ta cần tập ngồi kiết già và ngồi không nhúc nhích. Ðiều đó rất cần thiết cho thời đại này vì thời đại này là một thời đại mà sức động của mọi vật đang lên tột độ. Quý vị hãy nhìn chung quanh quý vị mà xem. Quý vị sẽ thấy toàn là sự động cả; và sự động sẽ đem ta đến náo động. Tất cả những cảm giác về yên tĩnh đều mất hết, và khi sự yên tĩnh mất đi rồi thì Tâm ta mất hẳn quân bình của nó. Sự yên tĩnh là bước đầu trên con đường đi đến tâm thần thanh tịnh và tráng kiện. Rõ ràng hiện nay con người thiếu hẳn sự yên tĩnh. Một bữa nào đó quý vị thử làm một lần xem: Quý vị bỏ chỗ náo nhiệt, đi tìm một nơi nào yên tĩnh đoạn ngồi lại đó. Trong lúc Tâm đang bị chao, ngồi yên như vậy quý vị sẽ cảm thấy nó được vô cùng thơ thới. Như thế không những làm cho thân quý vị được an mà Tâm quý vị cũng nhờ đó mà lắng xuống, yên tĩnh, vững vàng. Tịnh được như vậy không khác nào Tâm ta được một liều thuốc bổ và chỉ trong một phút yên tĩnh ngắn ngủi như vậy, quý vị cũng đủ cảm thấy phần nào như quý vị thức tỉnh trong tâm trạng an lành và vững chắc.

Ðời sống hiện tại làm cho ta hàng phút phải động luôn luôn, muôn nghìn hoạt động tấp nập xoay chuyển chúng ta, chúng ta sống trong hoàn cảnh lo âu bấn loạn, căng thẳng: Ðó là bao nhiêu lý do làm cho ta phí sức rất nhiều. Vậy thì, trong một dịp nào đó, quý vị thử ngồi yên, chỉ một chút thôi, quý vị sẽ thấy tâm lực của quý vị được bảo tồn nguyên vẹn. Cách ngồi kiết già như hoa sen (padmàsana) thích hợp nhất, vì như thế quý vị mới ngồi được lâu mà không nhúc nhích. Chính nhờ hai chân tréo lại và hai bàn tay chồng lên nhau mà khí lực của Tâm, còn nguyên vẹn nhờ sự tham thiền, không bị hao giảm. Ngồi kiết già thì thân mình vững vàng, vì sức nặng của xác thân được thản ra đồng đều. Ngồi như thế, quý vị sẽ thấy dễ ngồi lâu không động đậy hơn là ngồi một cách nào khác. Nhờ cách ngồi thẳng lưng, quý vị hoàn toàn kiểm soát được hơi thở của mình. Quý vị có thể thong thả hơn. Vả lại, có một sự liên quan mật thiết giữa dây tủy xương sống và những cảm kích của ta. Khi quý vị ngồi như thế, quý vị dễ kềm hãm những cảm kích hơn. Nếu người nào cho cách ngồi kiết già là khó, thì có thể ngồi trên ghế có dựa ngay thẳng, đặng giữ thân mình cho được ngay thẳng. Hai chân phải chấm đất.

Giờ đây chúng tôi xin trình bày phương pháp thực hành "Niệm hơi thở" (ànàpànasati). Sau khi chọn một chỗ thích hợp, một giờ thích hợp và đã ngồi được kiết già, quý vị bắt đầu chú tâm về hơi thở. Thở cho nhẹ nhàng, êm dịu và khi thở phải hoàn toàn nhận thức hơi thở và không nên rán sức. Ðừng thở mạnh. Thở tự nhiên và êm dịu, luôn luôn chú tâm theo hơi thở của mình. "Dìgham và Passasanto dìgham assasàmi ti pajànàti; dìgham và passansanto dìgham passamì ti pajànàti" - Khi thở vô dài, hành giả biết mình thở vô dài. Khi thở ra dài, hành giả biết mình thở ra dài. Cũng thế, khi mình thở vô vắn, biết mình thở vô vắn, và khi thở ra vắn, biết mình thở ra vắn. Hành giả chớ nên đồng nhứt mình với hơi thở. Phải nhìn hơi thở một cách khách quan, chứ đừng chủ quan. Không nên nghĩ rằng chính mình đang thở đây. Phải lắng xem chỉ hơi thở mà thôi, chứ không nên biết gì khác. Phải giữ cho kỳ được sự nhận thức rõ rệt về hơi thở. Ðiều cần thiết là Tâm phải an trụ và biết được rõ ràng khi nào thở vô, khi nào thở ra.

Quý vị nên nhớ rằng đây không phải là sự luyện tập cách thở. Ðây là sự luyện tập "niệm hơi thở". Không cần phải nín thở như trong quyển Yoga Sutra của Patangali hoặc trong các sách Ấn Ðộ Giáo dạy. Bền chí trong cách quan sát về hơi thở sẽ đem lại kết quả sau đây: Quý vị sẽ theo dõi được cho đến cùng hơi thở vô và hơi thở ra, và do đó quý vị sẽ cảm thấy càng ngày càng được bình tĩnh và yên trụ hơn. Sự thông khí trong phổi sẽ được dễ dàng hơn và sức khỏe sẽ được dồi dào hơn, nhưng đó là phụ thuộc. Thực hành Niệm về hơi thở (ànàpànasati) không gián đoạn đưa ta đến những tầng cao của Thiền Chỉ (Samatha Bhàvanà): ấy là nhập định, thường được gọi là đắc thiền (Jhàna). Nhưng thay vì theo đuổi các tầng Thiền (Jhàna), hành giả có thể chọn con đường của Thiền Minh Sát (Vipassanà Bhàvanà) và đắc Minh Sát Tuệ (Vipassanà).

Con người sống trong thế kỷ hiện nay khó mà hiểu được tại sao việc quan sát hơi thở lại đem đến cho ta những kết quả cao quý như vậy. Trong quyển "Chủ Yếu Của Pháp Tham Thiền Trong Phật Giáo", Ðại Ðức Nyanaponika Thero cho rằng "cái thở của ta đứng giữa những tác dụng tự nhiên của cơ thể và những tác dụng do ý chí điều khiển. Vì thế nên hơi thở cho ta cơ hội thuận tiện để mở rộng quyền kiểm soát của ta trong cơ thể"; vậy chúng ta có thể đoán được biết bao nhiêu khả năng có thể khai thác một khi chúng ta thực hành Niệm về hơi thở đúng phương pháp. Ngài nói tiếp rằng bởi việc quan sát không gián đoạn về sự phồng lên và xọp xuống của cơ thể do hơi thở tạo ra, "ta có thể chứng ngộ được sự dâng lên và hạ xuống của Biển Vô Thường". Hành giả sẽ nhận thức rõ rệt sự phát sinh và tiêu diệt của chúng sanh và vạn vật. Ðây không phải là một sự hiểu biết về lý trí, mà là một kinh nghiệm về tâm thức, vừa uyên thâm vừa cao siêu, mà ta nhận thức được một khi ta chứng ngộ sự phát sinh và tiêu diệt của hơi thở.

Thế rồi, về phương diện thân nghiệp, hành giả không còn hành động một cách dại dột nữa. Hành giả không còn nô lệ với cái xác thân nữa. Vượt lên khỏi tầng vật chất, hành giả sẽ thấy trong thân thể con người không có gì có thể làm nền tảng đúng lý cho quan niệm "Tôi" hoặc "Của Tôi". Và cũng không thể nói "Tôi Thở". Như vậy, hành giả sẽ thấy rằng trong thân này không có một thực thể trường tồn nào đáng cho ta bám níu hoặc có lợi cho ta bám níu, "Anissitc ca viharati na ca kinci loke upàdiyati" "Hành giả không tùy thuộc cái gì cả, cũng không bám níu cái gì cả trên thế gian này". Khi chứng được sự vô thường của xác thân, hành giả cũng chứng được tính vô thường của vạn vật. Chừng ấy hành giả mới thấy sự vật đúng theo chân tướng của nó. Lúc bấy giờ hành giả đã đạt đến tầng cao hơn. Niết Bàn nằm trên con đường ấy.

Cũng có những cách niệm thân khác. Ðó là niệm về nhiều phần khác nhau trong cơ thể con người. Trong Kinh có kể đến 32 phần, thường được nghe những người giữ tám giới đọc khi họ xin giới: "Atthi imasmim kàye kesà lomà nakhà dantà taco mansam nahàru atthi v.v..." "Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương v.v...". Kinh chép tiếp rằng: "Hỡi các Tỳ Khưu, giá như trong một cái giỏ có hai miệng, trong đó có đủ các loại hạt, như lúa đất gò, lúa mạch, đậu xanh, đâu chim, mè, gạo; và có một người với đôi mắt thật sáng, đến dở nắp ra, rồi phân biệt như thế này: Ðây là lúa đất gò, đây là lúa mạch, đây là đậu xanh v.v...; cũng như thế, một người Tỳ Khưu phải suy nghĩ về bản thân mình, có da bọc ngoài, trong đầy nhơ bẩn; nghĩ từ gót chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống như vầy: "Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt v.v...". Một cách niệm thân khác nữa là lấy mỗi phần trong thân thể ra mà xem xét, nhớ đến vị trí, màu sắc, hình dáng của nó và để ý rằng phần nào cũng thấy nhờm gớm và đáng ghét. Sự giải phẫu tỉ mỉ như vậy về xác thân sẽ giúp ta dứt bỏ cái ảo tưởng về "thân hình đẹp đẽ" và làm cho ta rõ tính nhơ bẩn của nó. Trong lời chú giải có thêm rằng: "Dù tìm kiếm thế nào đi nữa trong cả thân hình chỉ cao quá một thước này, bắt từ gót chân trở lên, từ đầu trở xuống và từ ngoài da trở vô, không ai thấy đặng một mảy may tinh khiết nào cả, dù nhỏ bằng nguyên tử; trái lại, người ta sẽ thấy toàn là đủ loại ô trược, rất hôi thối, rất có hại, trông rất chán, như là tóc, lông v.v...".

Niệm thân cách này rất cần thiết cho thế giới hiện đại vì ngày nay người ta đã quá chú trọng đến xác thân. Con người rất quyến luyến thân thể mình, xem nó như một sở hữu vô cùng quý giá. Vì thế, phải có một phương pháp giải phẫu cứng rắn như trên đây mới mong gợi lên trong con người lòng ghê tởm xác thân, ngõ hầu đi đến sự vô tư đối với nó và cuối cùng chứng ngộ sinh diệt của vạn vật. Chừng ấy ta mới thấy sự vật đúng theo chân tướng của nó. Hành giả lúc bấy giờ đạt đến một tầng cao hơn.

Có hai cách niệm thân nữa, là niệm Tứ Ðại và niệm xác thân tan rã. Niệm Tứ Ðại cũng là một giải phẫu xác thân, nhưng khác hơn lối giải phẫu vừa nói trên. Ở đây xác thân được chia làm Tứ Ðại, nghĩa là Ðất, Nước, Gió, Lửa. Những yếu tố này có thể trong thể xác con người cũng như trong bất cứ một vật chất vô tri nào. Ðôi khi những đặc tính căn bản ấy của vật chất cũng được gọi là tính Cứng Ðặc, tính Kết Hợp, tính Nóng Nhiệt và tính Di Ðộng. Cách giải phẫu này có kết quả là khiến ta nhận thức rằng xác thân này không khác gì một vật chất vô tri nào, nó cũng vô ngã và vô thường vậy. Ðiều này thời đại của chúng ta thường hay quên, vì ta quá chú trọng đến thân thể. Cuối cùng lối giải phẫu như thế dẫn ta đến sự chứng ngộ sự sinh diệt của vạn vật. Khi thấy được chân tướng của sự vật, hành giả đã đạt đến một tầng cao hơn.

* * *

Chúng tôi đã cố gắng trình bày tường tận mặc dù cũng chưa đầy đủ chi tiết việc khảo sát của chúng tôi về loại Niệm đầu tiên là Niệm Thân (Kàyànupassannà). Giờ đây chúng tôi xin bàn qua loại Niệm thứ nhì, là Niệm Thọ (Vedanànupassanà). Ðây cũng thế, hành giả phải nhìn đối tượng một cách khách quan. Hành giả không nên đồng nhất mình với loại Thọ mình cảm nhận. Thọ thì có Lạc Thọ, Khổ Thọ và Xả Thọ, và đối với mỗi loại Thọ ấy ta chỉ nên cảm thấy nó mà thôi.

Một người đau đớn về thể xác thường hay đồng nhất mình với cảm giác đau đớn ấy, đồng nhất chặt chẽ đến đỗi mình không thể xem nó một cách vô tư. Ta coi sự đau đớn là quan trọng nhất. Ta bị nó đè nén nặng nề. Ðối với một Lạc Thọ cũng thế. Niệm Thọ giúp ta tách ra khỏi thân ta và xem những cảm giác với đôi mắt vô tư của người bàng quan. Trong lời chú giải về pháp Tứ Niệm Xứ, có kể ra câu chuyện của một vị trưởng lão trong hàng Tỳ Khưu: Thân ông đau đớn dữ dội, nhưng ông cố tâm Niệm Thọ và trở thành khách quan đến đỗi khi người ta hỏi ông đau ở đâu, ông không thể chỉ đặng chỗ đau. Ðối với hành giả nào tự luyện tập như thế, nghĩa là xem cảm giác một cách bình tĩnh, vô tư, không đồng nhất mình với nó thì sớm hay muộn, nó cũng phải mất tính cách tối quan trọng và tối cưỡng bách mà trước kia hằng trụ trong nó. Hành giả cũng sẽ xem Thọ như một phần trong những hiện tượng luôn luôn biến chuyển của sự sống. Hành giả biết rằng những thọ ấy là vô thường. Nó cũng phát sinh và cũng hoại diệt.Cũng như đối với xác thân, đối với Thọ hành giả cũng chẳng thấy gì có thể làm nền tảng đúng lý cho quan niệm "Tôi" hoặc "Của Tôi". Không thể nói "Tôi Cảm Thấy" mà phải nói "Có Một Cảm Giác".

Trong các loại Thọ nhứt thời ấy không có một loại nào mà trong đó ta có thể tìm thấy một thực thể trường tồn, có lợi cho ta bám níu hoặc đáng cho ta bám níu. Khi thấu hiểu được tính chất của Thọ, sự sinh diệt của nó, hành giả không còn bị nó kích động nữa. Nhờ quan sát sự sinh diệt của Thọ, hành giả thấy được sự sinh diệt của vạn vật. Hành giả thấy sự vật đúng theo chân tướng của nó. Khi hành giả đạt đến một tầng cao hơn.

* * *

Loại niệm thứ ba là Niệm Tâm (Cittànupassanà). Cũng như hành giả phải khách quan mà xem những tác dụng của Thọ trong thân thể mình, thì đây hành giả cũng phải khách quan mà xem những tác dụng của tư tưởng trong Tâm mình. Ta rất có lợi mà nhìn Tâm một cách khách quan. Có phải là hàng ngày ta luôn luôn tiếp xúc với trăm ngàn "khách khứa" (tư tưởng xảy đến cho ta) không? Ðúng vậy. Mỗi ngày trăm ngàn tư tưởng nhập vào Tâm ta. Ðiều này thành một thường lệ, vì ta xem những tư tưởng đến viếng Tâm ta là một sự kiện dĩ nhiên. Mỗi tư tưởng phát sinh ra đều ảnh hưởng ta hoặc một cách tốt đẹp hoặc một cách xấu xa.

Tuy nhiên, tư tưởng sau có thể sửa đổi ảnh hưởng của tư tưởng trước. Một tư tưởng Sân chẳng hạn, có tác dụng tai hại đối với Tâm ta và chí đến Thân ta nữa; nhưng nếu tư tưởng liền kế đó lại là một tư tưởng có tính chất trái ngược hoặc một tư tưởng ăn năn chẳng hạn, biết mình đã làm quấy, thì tác dụng tai hại của tư tưởng Sân có thể được sửa đổi. Nếu ta tập thành thói quen, nhìn một cách khách quan bất cứ một tư tưởng xấu nào nảy sanh ra, thì ta có thể chận đứng được dễ dàng sự tiến triển của tư tưởng xấu ấy.

Thực hành Niệm tâm có nghĩa là đào luyện thành thói quen lối nhìn một tư tưởng thật khách quan, chứ không chủ quan, và nhận thức rõ rệt sự hiện diện của nó. Không một tư tưởng nào được vào Tâm ta mà ta không hay biết rõ ràng. Chừng ấy ta mới khỏi bị tư tưởng sai khiến. Khi một tư tưởng Sân nổi lên, ta phải hoàn toàn hay biết và tự nhủ: "Hãy coi chừng, một tư tưởng sân đã vào Tâm ta rồi". Tự quan sát như thế đem lại kết quả tinh vi: Tư tưởng Sân mất tánh cách cưỡng bách của nó. Nó đã kiệt sức và không thể phát biểu ra ngoài bằng một hành động Sân. Phương pháp nhìn một cách khách quan bất cứ tư tưởng nào làm cho hành giả tránh khỏi ảnh hưởng tai hại của nó. Mỗi khi một tư tưởng xấu vào Tâm hành giả thì "con chó" sati (niệm) đang canh phòng liền sủa "người khách" xấu xa ấy và báo cho hành giả biết để cảnh giác; chừng ấy hành giả có thể khiến một tư tưởng có tánh chất trái ngược đến làm cho tư tưởng xấu kia vô năng, vô hiệu.

Trong lời chú giải về Pháp Tứ Niệm Xứ có kể câu chuyện của Phussa Deva Mahà Thera. Vị Ðại Ðức này thường hay dừng chân lại trong lúc đang đi, nếu có một tư tưởng xấu nào vào Tâm Ngài. Ngài nhất định đứng đó đến khi nào xua đuổi được tư tưởng xấu kia ra khỏi Tâm rồi Ngài mới chịu tiếp tục đi. Trong lúc Ngài đứng lại như vậy, ai cũng lấy làm lạ, không biết Ngài đã đi lạc đường hay là đã bỏ quên vật gì. Ðến khi Ngài đắc quả A La Hán, mà chỉ mới có hai mươi tuổi, ít người biết được nhờ đâu Ngài đạt đến quả ấy. Vậy khi một tư tưởng xấu vào Tâm quý vị, quý vị phải vô tư và thành thật mà nhìn nó. Chỉ chú tâm đến tư tưởng đó mà thôi, đừng nhớ đến những việc đã xảy ra, làm nguồn gốc phát sinh ra tư tưởng đó, cũng đừng nhớ đến loại hành động nào mà tư tưởng đó gợi ra trong trí quý vị. Quý vị chớ nên nghĩ tới những vấn đề tùy thuộc như thế. Cứ nhìn thẳng vào tư tưởng ấy và chỉ nghĩ tới nó mà thôi. Chừng đó quý vị sẽ ngạc nhiên mà thấy tư tưởng xấu kia dần dần mất đi tính cách xúi giục của nó. Hãy kiên tâm mà nhìn nó. Cũng như nhà hiền triết Pythagore đã định nghĩa, quý vị chỉ nhìn nó mà thôi. Chỉ bao nhiêu đó thôi, và chắc chắn tư tưởng xấu kia sẽ không xúi giục quý vị hành động nữa. Nó cũng có thể biến mất.

Nhìn vào Tâm mình không phải luôn luôn là một chuyện dễ. Con người thường hay tránh việc nhìn thẳng thắn vào Tâm mình bởi vì, nếu nhìn rõ Tâm mà hay biết được tư tưởng xấu xa thầm kín, điều ấy sẽ phá vỡ cái thành kiến tốt đẹp mà mình sẵn có đối với chính mình. Thực hành niệm tâm không gián đoạn sẽ giúp hành giả thấu hiểu rằng những tư tưởng của mình không phải là mình. Hành giả sẽ không đồng nhất mình với tư tưởng. Hành giả sẽ chứng được rằng, cũng như thân này, Tâm đây cũng chẳng phải là một thực thể, mà là một phối hợp tạm thời của những sự vật nhứt thời. Sự phối hợp tạm thời ấy cho ta cái ảo tưởng rằng có một thực thể trường tồn. Những thành phần phối hợp là vô thường và phải chịu biến chuyển như thế nào, thì vật được thành phần ấy phối hợp cũng vô thường và cũng phải chịu sự biến chuyển như thế ấy. Cũng như xác thân chỉ là sự phối hợp của tóc, thịt, móng, răng, toàn là những vật phải bị hoại diệt, thì Tâm cũng chỉ là sự phối hợp, hoặc nói cho đúng hơn, là sự kế tiếp của những tư tưởng mà tất cả đều hiện ra chỉ để rồi biến mất.

Tâm ví như dòng nước chảy ,"Nadi soto viya". Dòng tư tưởng tạo ra cái ảo tưởng rằng có thực thể Tâm. Ví như những giọt nước kế tiếp nhau rớt xuống thật nhanh cho ta cảm tưởng rằng có một đường nước chảy. Những tư tưởng cũng thế, nó nối nhau nhanh chóng cho đến đỗi ta lầm tưởng rằng có một thực thể gọi là Tâm. Chỉ nhờ thực hành "cittànupassanà" (niệm tâm), ta mới thấy được rằng bản chất của tư tưởng là vô ngã và tư tưởng đều là những hiện tượng rõ ràng là nhứt thời. Nó đến rồi đi, nó hiện ra rồi biến mất. Như thế hành giả đã chứng ngộ sự sinh diệt của tư tưởng. Vậy, đối với tư tưởng, hành giả cũng không thấy có gì làm nền tảng đúng lý cho quan niệm "Tôi" hoặc "Của Tôi". Không thể nói "Tôi Tư Tưởng", nhưng phải nói "Có Sự Tư Tưởng". Trong những sự tiến triển nhứt thời ấy, không có một thực thể trường tồn nào có lợi cho ta bám níu hoặc đáng cho ta bám níu. Hành giả không tùy thuộc nơi nào cả, không bám níu gì cả trên thế gian này. Hành giả thấy được sự sinh diệt của vạn vật. Hành giả đã đạt đến một tầng cao hơn, và Niết Bàn nằm trên con đường ấy.

* * *

Giờ đây chúng ta nói đến loại Niệm cuối cùng, khác hẳn với các loại Niệm đã kể trên, là Niệm Pháp (Dhammànupassanà). Danh từ Pàli "dhamma" (pháp) đây có một nghĩa rất đặc biệt. Nó có nghĩa là "thành phần của tư tưởng" hoặc "đối tượng của Tâm", và nó đặc biệt ám chỉ Năm Chướng Ngại: Tham dục, thù hận, hôn trầm thùy miên, phóng dật hối tiếc và hoài nghi); Ngũ Uẩn (Panca Upàdànakkhandha); Lục căn (Salàyatana); Thất Giác Chi (Satta Bojjhanga) và Tứ Diệu Ðế (Cattàri Ariya Saccàni). Ðó là những "dhamma" (pháp) được đề cập trong Tứ Niệm Xứ Kinh.

Nhờ sự kinh nghiệm hàng ngày, hành giả biết quan sát những "dhamma" ấy (đối tượng đặc biệt của Tâm). Hành giả phải chú ý đến những pháp đó nếu nó đã phát sinh trong tâm mình, và nếu nó không có phát sinh trong Tâm mình, hành giả cũng phải hay biết rằng nó không có phát sinh trong Tâm mình. Ðiều quan trọng không phải là sự hiểu biết những "dhamma" đó bằng lý thuyết. Ta phải "chứng" nó và thấu rõ nó khi nó phát sinh.

Như về Năm Chướng Ngại chẳng hạn, ta không nên chỉ biết bằng lý thuyết rằng nó là những điều cản trở cho sự tiến bộ của ta trên con đường tu luyện, mà việc chánh yếu là ta phải coi chừng cẩn thận, hễ nó phát sinh trong Tâm ta là ta phải hay biết liền. Cùng thế ấy, mỗi khi một chân lý phát hiện trong Tâm hành giả, như Khổ Ðế chẳng hạn, hành giả phải hay biết nó ngay. Lối hành thiền này vừa là một liều thuốc giải độc cho những tư tưởng xấu, vừa là một sự chuẩn bị đón tiếp những Chân Lý trong Phật Pháp. Như vậy tất cả những kinh nghiệm hàng ngày của hành giả được đem ra đối chiếu và chứng y với những giáo điều trong Phật Pháp ở một điểm nào đó. Quán tưởng như thế về đối tượng của Tâm khi nó phát sinh, hành giả một lần nữa thấy rằng không có một thực thể trường tồn nào có lợi cho ta bám níu hoặc đáng cho ta bám níu. Hành giả không tùy thuộc gì cả, không bám níu gì cả. Lần nữa hành giả đạt đến một tầng cao hơn, và Niết Bàn nằm trên con đường ấy.

* * *

Chúng tôi đã nói đầy đủ về phần lý thuyết cũng như về phần thực hành Tứ Niệm Xứ. Giờ đây chúng ta hãy bàn qua việc áp dụng của Pháp này vào đời sống hiện đại. Trước hết ta hãy xem coi ở thế giới hiện nay những điều kiện về đời sống của con người đã tiến triển đến đâu. Hồi thế kỷ thứ XVII và thế kỷ thứ XVIII, chúng ta thấy xã hội đã mãn nguyện nhờ ở một đức tin ngây thơ về tiện nghi vật chất và ở những niềm hy vọng mà Tôn Giáo đã đem lại. Ðến thế kỷ sau, Tôn Giáo lại bị Khoa học lật đổ. Khoa học từ đó ngự trị tuyệt đối và xã hội lúc bấy giờ chuyên lo chế tạo đủ loại khí cụ hữu ích và đủ thứ máy móc vạn năng để cung phụng cho con người. Rồi về sau chúng ta thấy xuất hiện lòng Tham thống trị, hoàn cầu toan cướp đoạt lần hồi địa vị của Khoa học. Sự kiện này đưa đến việc liên kết giữa lòng Tham và Khoa học. Rồi từ đây Khoa học bị lợi dụng một cách đê hèn, để rồi chế tạo ra nào là khí cụ tối tân, nào là máy móc tinh xảo, không để phụng sự cho lợi ích nhân loại, mà là để cho con người giết hại lẫn nhau. Thế chiến thứ nhứt kế đến thế chiến thứ nhì đem lại những biến đổi ghê tởm trên thế gian, biến đổi trong cơ cấu xã hội, biến đổi trong kinh tế, biến đổi trong chánh trị.

Con người bắt đầu hết tin tưởng nơi những tư tưởng xưa kia. Con người bắt đầu mạt sát Tôn giáo, mạt sát những tưởng thưởng về tương lai, vì con người hết quan tâm đến điều thiện và chỉ khao khát được hưởng cho đầy đủ trong hiện tại mà thôi. Tập hợp lại thành một quốc gia, con người khao khát hưởng được quyền thế, mong mỏi thống trị cả hoàn cầu. Vì thế nên những giá trị tinh thần bị suy giảm và hai thế chiến vừa qua đã chứng rõ điều ấy. Cái gọi là Văn Minh ngày nay chỉ là một lớp sơn mỏng về lễ phép xã giao bề ngoài. Hai thế chiến đã làm nứt rạn lớp sơn ấy và phô bày ra ánh sáng cái thú tánh trong con người hiện đại. Sự tàn sát hàng triệu người, những khổ cảnh dã man trong các trại tập trung, những tai họa khủng khiếp không diễn tả nổi ở Hiroshima và Nagasaki chứng tỏ một điều đáng lo là thế giới hiện nay đang đi lần vào sự sụp đổ nguy hiểm. Nếu ta không lên tiếng để chận đứng lại thì ta sẽ bị tiêu diệt bởi chính những độc ác của ta. Hình như nhà Khoa học ở thời đại này tưởng rằng mình đã giúp ích cho nhân loại. Nhưng, xin hỏi quý vị, căn cứ vào đâu mà cho rằng họ đã phụng sự nhân loại?

Thời đại khoa học hiện nay thật có làm giảm bớt những đau khổ. Ðúng vậy, người ta đã chữa được nhiều chứng bệnh, đã phát minh ra nhiều thứ thuốc mới và giúp con người sống lâu hơn. Thời đại khoa học ngày nay đã xây cất nào là đô thị lớn, nào là cầu lớn, nào là xưởng lớn. Người ta đã chế ra xe cộ, tàu bè, phi cơ có khả năng tuyệt diệu để du hành trên mặt đất, dưới biển và trên không trung. Khoa học xóa bỏ không gian, tiết kiệm nhân lực và chế ngự thời gian. Nhưng, xin hỏi quý vị, Khoa học hiện đại có phát minh được thứ khí cụ nào hầu giúp con người trở nên cao thượng chăng? Khoa học hiện đại có phát minh ra một thứ khí cụ nào để giúp con người diệt Tham, Sân, Si chưa? Khoa học đã thám dò vũ trụ bên ngoài và đã cướp lấy những bí ẩn của thiên nhiên, nhưng việc làm đó không dẫn đến giải thoát con người. Có một thế giới khác, một thế giới có ích lợi cho ta thám hiểm hơn, đó là Tâm giới. Quý vị hãy tham cứu thế giới này bằng sự tham thiền đi, rồi quý vị sẽ đạt được trực giác và do đó quý vị sẽ giải quyết được vấn đề nhân sinh. Chừng ấy quý vị sẽ đạt được Pannà, hay Huệ, và nhờ đó quý vị sẽ thấy đặng chân tướng của vạn vật. Mỗi bước nhỏ mà quý vị tiến về hướng ấy đều là những bước đến gần sự giải thoát, những bước đến Niết Bàn vậy. Trào lưu rộng lớn, trào lưu nguy hiểm hiện tại lôi ta xa cách chân tiến bộ.

Vì vậy nên một trào lưu trái ngược lại, cũng không kém phần rộng lớn, rất cần thiết cho nhân loại. Thế nên thực hành Satipatthàna (Tứ Niệm Xứ) mới là quan trọng và thích hợp. Satipatthàna giúp con người hiện đại cố sức chèo ngược trào lưu này để hướng về nơi giải thoát bằng cách cho mình đủ trí tuệ để nhận thức đâu là những khuynh hướng xấu xa để tránh. Mỗi khi khuynh hướng của thời đại này lôi kéo quý vị tách xa con đường chánh đáng mà quý vị gần như không hay biết, thì quý vị nên tin cậy nơi "con chó" Sati trung thành của quý vị, để nó kéo quý vị trở lại. Sức mạnh của Satipatthàna là như thế.

Thời đại hiện tại là thời đại của sự hấp tấp và của tốc lực. Con người thực ra không có thì giờ để suy nghĩ cho chính xác. Nếu có chăng nữa, thị cũng để mà suy nghĩ làm thế nào để sống cái đời sống quây quần, lảo đảo này, từ ngày này qua ngày nọ. Nếu ta không tập suy nghĩ cho chính xác, sâu xa, thì ta dễ bị mất năng lực của Tâm. Như bàn tay của quý vị chẳng hạn, nếu trong thời gian sáu tháng mà quý vị không dùng đến nó, thì nó phải bị gầy yếu đi. Cũng thế, nếu quý vị không tập suy nghĩ cho sâu xa thì khả năng ấy của Tâm sẽ bị suy nhược và điều nguy hiểm cho quý vị là quý vị sẽ mù quáng tin theo những gì của bất cứ một ai nêu ra: Do đó họ có thể chế ngự được quý vị. Hiện nay sự kiện ấy đang diễn ra trước mắt ta. Trong giới doanh nghiệp, trong giới nông nghiệp, trong giới giáo dục, trong giới chánh trị, trong sinh hoạt hàng ngày, có một thiểu số người đang thao túng một số đông khác. Ða số này chỉ biết noi theo tư tưởng của thiểu số kia.

Hiện nay, quý vị hãy thử xem coi có bao nhiêu tư tưởng đã tạo ra cho quý vị. Phải chăng đôi khi quý vị không còn tự do lựa chọn những vật cần dùng của mình và quý vị quyết định một cách vô ý thức? Ngày nay, lối quảng cáo hàng hóa ở khắp nơi làm cho quý vị. Nhiều khi quần áo của quý vị cũng bị người ta chọn lựa thế cho quý vị mà quý vị không dè. Sách quý vị đọc cũng thế và những dược phẩm có bằng phát minh mà quý vị thường uống cũng thế. Ðó là kết quả xảo diệu của quảng cáo, vì những người làm quảng cáo rất thông tâm lý. Báo chí cũng có trách nhiệm phần nào trong việc xây dựng những tư tưởng mẫu mực để cảm kích con người. Phần đông con người lại lấy làm thỏa mãn mà nhận lãnh những ý kiến ấy mà không cần phán đoán. Hiện nay có rất ít người biết tự mình tư tưởng, không để ai ảnh hưởng. Sự kiện này có nghĩa là phần đông con người chưa định Tâm, nên Tâm còn yếu ớt. Kết quả tai hại là hiện nay con người bị thiệt thòi trên đường tiến triển của Tâm, vì ta không thể nào tiến về mặt tinh thần nếu ta không định Tâm và không tham thiền. Nếu không tham thiền, dù quý vị có sống một cuộc đời lương thiện đến mức nào đi nữa, cũng không có gì bảo đảm rằng quý vị luôn luôn chánh trực được. Quý vị có thể bị sa ngã bất cứ lúc nào. Phương pháp dễ nhất để luyện Tâm thành một sức mạnh là thực hành số tức quan (ànàpànasati) mỗi ngày một chút ít. Không có cách tham thiền nào dễ cho con người hiện đại thực hiện hơn số tức quan. Chỉ có số tức quan mới bảo đảm ta tránh khỏi ảnh hưởng bên ngoài.

Một đặc điểm khác của đời sống hiện đại là việc quá chú trọng về vấn đề nam, nữ. Hầu hết mọi việc đều được sắp đặt và lái như thế nào để nhục dục con người phải bị kích thích. Hãy nhìn xem xung quanh quý vị coi điều đó có đúng không? Quý vị hãy nhìn xem biết bao nhiêu là tiểu thuyết nhảm nhí, biết bao nhiêu là sách, báo khiêu dâm được xuất bản và trưng bày trong bất cứ nhà sách nào ở lề đường, vì được dán nhãn hiệu là tác phẩm văn chương; rồi quý vị sẽ ngậm ngùi mà nhận thấy rằng con người đã trụy lạc và xuống hố quá sâu. Quý vị hãy xem những phim được chiếu và những vũ điệu đời nay. Xin hỏi quý vị, vậy chớ những rạp chiếu bóng và những nơi khiêu vũ, những cuộc thi sắc đẹp và những hộp đêm có ích lợi gì cho con người hiện đại, nếu không phải với mục đích là để kích thích nhục dục con người? Nếu thỉnh thoảng không ai nhắc lại cho con người hiện đại rõ cái chân tướng của xác thân thì tâm họ sẽ bị che án bởi sự quá chú trọng về vấn đề nam, nữ và thể xác. Họ sẽ mất hẳn tất cả quan niệm về sự tương xứng quân bình và họ sẽ lấy giả làm chân. Kết quả sẽ là hỗn độn, bất hòa và trụy lạc.

Một đặc điểm khác nữa của thế hệ ngày nay là lòng khao khát cái gì mới lạ. Lòng khao khát này đã thành một tật bệnh. Bởi không thực hành Sati (Niệm), con người không thể thấy được chân tướng của vạn vật và không thể phân biệt đâu là chánh yếu, đâu là phụ thuộc. Vì thế nên con người luôn luôn sống với một tâm trạng do dự, lúc nào cũng bất mãn. Một đời sống bình thản có vẻ quá ư buồn chán đối với họ. Họ khao khát những gì kích thích họ. Họ sống bằng cảm kích. Họ luôn luôn mong mỏi và cái gì mới, cái gì lạ. Họ không thể tự mãn với những lề lối, những hoàn cảnh, những tình thế hiện hữu. Họ sẽ luôn luôn trông mong vào một lề lối mới, máy móc mới, được phẩm mới, một đời sống mới, một lý tưởng mới. Họ mau chán những gì đã có. Họ thất vọng nếu đời họ không có nhiều cảm kích. Họ thất vọng nếu mỗi sáng họ không thấy những "tít" thật lớn trong báo chí. Thái độ đó là triệu chứng của bệnh tinh thần bất an.

Người làm quảng cáo và nhà doanh nghiệp sẵn sàng lợi dụng nhược điểm này của con người hiện đại. Khi một kiểu vật phẩm nào đó hết thông dụng thì một kiểu khác liền được đem ra thị trường thay thế. Quý vị hãy xem cách thay đổi mau chóng của thời trang trong y phục. Hãy xem coi các kiểu bàn ghế và các vật dụng khác thay đổi dường nào. Những thay đổi liền liền như vậy nhắm mục đích chiều cái tính nguy hiểm trong con người hiện đại là tính luôn luôn đòi hỏi cái mới, cái lạ. Phương thuốc duy nhứt trị tật bệnh đó là học "Nghệ Thuật" nhìn sự vật một cách khách quan thì quảng cáo không còn dễ gì ảnh hưởng được họ. Sự quan sát khách quan cũng sẽ giúp họ khám phá ra biết bao nhiêu rượu cũ trong những chai mới. Họ không còn ảo tưởng cho rằng vật gì mới lạ là quý. Vì hoàn toàn hiểu biết cái gì là chánh trong đời họ và phân biệt rõ ràng đâu là chánh yếu, đâu là phụ thuộc nhờ Sati (Niệm) nên họ hết còn là nạn nhân của tính ham mê cảm kích quá đáng.

* * *
 Có lẽ quý vị cho rằng Tứ Niệm Xứ là một phương pháp quá phiền toái và mệt nhọc, không thể nào thực hành cho có kết quả trong một kiếp người. Ðức Phật có nói như thế chăng? Có khi nào Ðức Phật nói Niết Bàn không thể đạt được ngay ở kiếp này chăng? Trong một bài Pháp hùng hồn về Tứ Niệm Xứ, Ðức Phật quả quyết rằng nếu ai thực hành Tứ Niệm Xứ trong bảy năm thì người ấy thâu thập được một trong hai kết quả sau đây: là chứng ngộ đạo quả A La Hán ngay ở kiếp này, hoặc ít ra cũng chứng được đạo quả A Na Hàm (Bất Lai). Trong câu kế đó Ðức Phật nói tiếp: "Hỡi này các Tỳ Khưu, đừng nói chi đến bảy năm, sáu năm cũng đủ vậy". Trong câu kế nữa Ngài nói rằng năm năm cũng đủ. Rồi kế đó Ngài sụt xuống còn bốn năm, ba năm, hai năm và một năm, Sau nữa chỉ còn bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, nửa tháng và cuối cùng bảy ngày.

Câu chuyện này cho ta thấy rằng việc chứng ngộ Niết Bàn không phải là một vấn đề thời gian, nhưng lại là vấn đề tinh tấn của hành giả hơn. Vậy, quý vị hãy để ý xem, bảy ngày mà chứng được Niết Bàn có phải là thành tựu mau lẹ không? Hiện nay con người vốn không nhẫn nại, luôn luôn mong mỏi những kết quả mau lẹ. Ðây là một bảo đảm về kết quả mau chóng có gì hơn. Tại sao con người hiện đại không nhận lấy tặng vật này đi? Có lẽ vì cho rằng kết quả hứa hẹn quá tốt đẹp nên khó mà có thật được. Nhưng ở đây, ý kiến này nọ là không thành vấn đề; thực hành mới là vấn đề. Muốn biết một món bánh có ngon hay không, ta phải ăn nó, chứ không phải đi phân tách nó và học hỏi những chất hóa học trong bánh đó. Vậy thì cuối cùng tôi xin nhắc với quý vị điều này: Xin hãy ngưng tranh luận suông về Tứ Niệm Xứ. Xin quý vị hãy yên lặng mà thực hành đi, rồi chính quý vị sẽ thấy kết quả. Ðức Phật đã nói: "Ehi passiko", "Hãy đến và tự mình chứng lấy".

Chuyển ngữ: Asoka Lê Thị  Ánh
Theo: Buddhasasana

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2018







Phật Pháp không phải là sách tiểu thuyết để đọc rồi quên đi. Phật Pháp có liên quan đến đời sống – một đời sống thực, một đời sống mà bạn và tôi trải qua hằng ngày. Giá trị của đời sống nầy sẽ gia tăng đáng kể khi Phật Pháp được diễn dịch ra hành động, và thấm nhập vào tánh tình của chúng ta qua các nỗ lực thường xuyên, qua các thực tập mỗi ngày.

Mục đích tối hậu của Phật Pháp là Niết Bàn – vượt thoát khỏi mọi hoạn khổ, phiền não. Mục đích trước mắt là giúp ta hiểu rõ và giải quyết các vấn đề trực diện với ta trong đời sống hằng ngày, giúp ta trở thành những con người sống an lạc, thảnh thơi và thăng bằng, sống hòa hợp với môi trường chung quanh và những người đồng loại. Tuy thế, sự thăng bằng nầy cũng không dễ thực hiện, nhất là trong thế giới ngày nay với nhiều giá trị ảo tưởng và các thành kiến hư ngụy.

Khác hẳn với các giá trị tương đối – và có khi là giả tạo – trong thời đại của chúng ta, lời dạy của Ðức Phật là một sự khải hiện các giá trị chân thật và tuyệt đối. Chân Pháp đó cần phải được mỗi người tự thể nghiệm. Phật giáo dạy về sự tư duy rõ ràng, sự tự chế, và nuôi dưỡng tâm ý như là các phương tiện để thấu đạt Chân Pháp. Người cư sĩ nào biết xây dựng cuộc sống hằng ngày trên căn bản vững chắc của tri thức giải thoát với các lý tưởng rõ ràng thì người ấy được bảo đảm các tiến bộ và thành công trong đời sống tại gia của mình.

Do đó, Phật Pháp là các hướng dẫn trong đời sống hằng ngày của ta, và các nguyên tắc căn bản của đạo Phật có những giá trị thực tiễn trong nghệ thuật sống trên đời. Người cư sĩ tại gia, trong khi phải dấn thân vào xã hội vì cưu mang các trách nhiệm trong đời sống, sẽ không bao giờ quên mục đích tối hậu của họ là Niết Bàn giải thoát. Người ấy lúc nào cũng nên xem rằng đời sống của mình chỉ là một bãi tập, để sửa soạn tiến đến thực chứng mục đích tối hậu ấy.

Kinh Ðại Hạnh Phúc (Maha-Mangala Sutta) có nói rằng, các phước hạnh thật sự của đời sống là có được “một tâm ý có định hướng đúng” (atta-samma-panidhi). Có nghĩa là ta phải nhận thức đúng đắn vị trí của mình trong thế gian, có quyết định đúng đắn về mục tiêu, và tìm một con đường đúng đắn để tiến đến mục tiêu đó.

Người an lạc và thăng bằng là người có một mục đích cao thượng trong đời sống, có một đường lối tốt để đi theo, và có một triết lý sống giản đơn nhưng đầy ý nghĩa để dẫn đường. “Triết lý” ở đây là một ước vọng hướng thiện để thông hiểu bản tánh và tương lai của con người trong vũ trụ. Không có triết lý như vậy thì đời sống trở nên tẻ nhạt, buồn chán, vô ích, và vô nghĩa. Triết lý đó giúp con người sống hài hòa với thế giới và đồng loại trong một tiến trình thăng hoa dựa theo các tri thức chân chánh.

Trong đạo Phật, tâm ý bao trùm vật chất. Một nét đặc thù của tâm ý là “ý định” (hay “tác ý”). Ðể sử dụng tốt cuộc đời và nghiệp kế thừa của mình, ta phải biết chọn một mục tiêu hướng thượng và thực tiễn trong đời sống, và tạo ra một kế hoạch để đi đến đó. Chúng ta sẽ trở nên những gì mà ta mong muốn được như vậy.

Khi ta càng thông hiểu bản thân – qua hành trì tự quán sát và tự phân tích – ta sẽ càng có nhiều khả năng để tự cải tiến và phát triển. Thêm vào đó, ta nên tự hỏi rằng mình sẽ tiến và tiến đến cấp độ nào trong việc tu tâm để mình trở nên độ lượng, an bình, tự tại, dịu dàng, thông cảm, chân thật, hiền lành, chất phác, cẩn thận, tinh tấn, cần mẫn, nhẫn nại, bao dung, và khôn khéo. Ðó là các đức tính cao quý của một Phật tử biết sống hợp thời. Ta phải cố gắng tự cải thiện mỗi khi có cơ hội – mỗi ngày một chút. Ta nên hiểu rằng mỗi khi mình thực hiện một hành động hướng thiện, dần dần nó được huân tập thành một thói quen tốt. Từ các thói quen tốt đó, chúng sẽ thấm nhập tạo thành các đặc tính cao thượng cho bản thân.

Chánh niệm (Sati) là một sự tỉnh giác quan trọng. Chánh niệm là cách nhìn sự vật một cách khách quan, lột bỏ mọi ưa ghét, thành kiến và thiên vị. Ðây là cách nhìn mọi sự vật theo bản thể chân thật của chúng – các sự kiện lột trần. Khả năng làm được điều nầy đánh dấu sự trưởng thành trong Phật Pháp. Nguyên tắc quán sát vô tư phải được áp dụng rốt ráo trong các tư duy hằng ngày. Từ đó, sự suy tư của ta sẽ được rõ ràng, trong sáng hơn và ta sẽ sống hướng thiện hơn, làm giảm thiểu các ảnh hưởng xấu xa tác động vào mình, từ các phương tiện truyền thông quảng cáo tiêu thụ vật chất, và kết quả là ta có được các tăng trưởng về những quan hệ tốt giữa con người với con người.

Vì vậy, một Phật tử có nhân cách thăng bằng là người phải biết tự chủ, tự quyết định, tự tạo ra các ý kiến và kết luận khi phải đối phó với các khó khăn trong cuộc sống, dựa vào các nguyên tắc cơ bản của Phật Pháp. Người ấy có một tri thức và luân lý dũng mãnh. Người ấy sẵn sàng đứng một mình, theo đuổi một con đường sống của mình, cho dù người khác có thể hiểu lầm và dị nghị.

Dĩ nhiên là người Phật tử ấy phải biết đón nhận các ý kiến đóng góp và cố vấn của người khác – bởi vì việc thu nhận các ý kiến xây dựng từ những người có kiến thức và kinh nghiệm thì không phương hại gì đến sự tự do chọn lựa của mình – nhưng cuối cùng rồi thì phải tự mình có những quyết định cho đời mình.

Thấy được quan hệ giữa lòng tham dục và sự khổ đau, chúng ta phải luôn luôn gìn giữ một mức độ xả ly, thoát khỏi các ràng buộc quá đáng của thế tục. Chúng ta phải biết điều chỉnh đời sống của mình trong kỷ cương của năm giới luật cư sĩ (ngũ giới). Từ đó, ta bảo vệ được sự an lành của ta, trong hiện tại và tương lai, qua cách sống thuận hòa với các quy luật phổ quát của Phật Pháp được áp dụng vào đời sống tinh thần và đạo đức của mình. Phát triển đặc tính luân lý và đạo đức (Sila – trì giới) nầy là một điều kiện tiên quyết để huân tập tâm ý và từ đó, làm nền tảng tạo trí tuệ (Panna) cần thiết để thực chứng Niết Bàn.

Ðời sống là vô thường, lúc nào cũng có nhiều thay đổi. Các tai họa hoặc những việc bất ưng ý có thể sẽ xẩy ra cho ta, và khi đó, ta phải biết trực diện chúng một cách bình thản và thăng bằng. Nếu làm được như thế thì chứng tỏ ta đã có sự hiểu biết chân chính, biết nhìn rõ ràng sự kiện xẩy ra theo luật nhân quả, do nhân duyên hợp thành, và biết rằng chính ta là người gieo nhân và chịu trách nhiệm gặt quả – nếu không trong đời sống nầy thì cũng là từ nhiều kiếp trước. Ta sẽ vượt qua các nỗi sợ hãi và lo âu thái quá, không có cơ sở và không có luận lý, bởi vì ta biết chế ngự các cảm tính của mình. Từ đó, những ngộ nhận, những bất công trong đời, những u sầu vì tưởng rằng mình bị đối xử tàn tệ sẽ được ta thông hiểu rõ ràng và đón nhận nhẹ nhàng hơn, vì ta đã hiểu được cặp nguyên lý nghiệp quả và tái sinh.

Còn một lý do nữa để người Phật tử gìn giữ tác phong đạo đức của mình. Người ấy có uy lực bắt nguồn từ các nguồn lực vô hình khác – đó là kho tích trữ các hành động toàn thiện, các đức tính của tự thân, các hạnh phúc có được trong lúc tập hành thiền, tất cả các nguồn lực nầy hoàn toàn độc lập với của cải vật chất. Như thế, người ấy là chủ nhân của một tâm ý tự lực và tự túc.

Người ấy biết sống đơn giản, không có nhiều nhu cầu. Của cải vật chất đối với người ấy chỉ là những đầy tớ, không phải là những chủ nhân ông. Người ấy hoàn toàn tự do, không bị lệ thuộc vào sự sai khiến của các sự vật bên ngoài. Người ấy nhận thức được rằng các sự vật thấy được thì chỉ là tạm bợ và thay đổi luôn. Tóm lại, người ấy có được một tâm ý bình thản, chừng mực, và tri túc. Tri túc, như lời Phật dạy, là một nguồn tài sản lớn nhất, là một trong bốn nguồn hạnh phúc:

Không bệnh là Lợi tối thượng
Tri túc là Của tối thượng
Thành tín là Bạn tối thượng
Niết Bàn là Lạc tối thượng.

(Pháp Cú, 204)

Khi đã thông hiểu như thế, người Phật tử đó sẽ học được cách thích nghi với những hoàn cảnh đổi thay mà không bao giờ sầu khổ than van hay cay đắng.

Nếu ta có Chánh Tín (Saddha), nghĩa là có niềm tin nơi Phật Pháp dựa trên sự hiểu biết, ta phải cố gắng thực hành. Mỗi Phật tử chân chính phải thực hành liên tục bốn điều tinh tấn – Tứ Chánh Cần – vốn là chi thứ sáu của Bát Chánh Ðạo. Ðó là: tinh tấn vượt qua và tinh tấn ngăn chận các pháp bất thiện như là các ý tưởng sân hận; tinh tấn phát triển và tinh tấn nuôi dưỡng các pháp thiện trong tâm ý như là các ý tưởng từ bi. Các tâm ý nầy chẳng những sẽ bảo vệ bản thân ta, mà từ đó cũng sẽ giúp được những người khác chung quanh ta.

Ta phải tập có thói quen suy xét về các tư tưởng và hành động của chính mình để xem chúng có chân thật hay không, bởi vì chân thật với chính mình là một con đường chắc chắn đưa đến tâm ý toàn thiện. Thêm vào đó, chúng ta phải biết dành thì giờ mỗi ngày để tĩnh lặng tự quán soi hay là hành thiền, để ôn lại các việc làm trong ngày, và để suy xét xem ta có đi ngược lại với các nguyên tắc căn bản mà Ðấng Từ Phụ của chúng ta đã từng khuyên dạy, để mà sám hối và tránh phạm các lỗi lầm đó trong tương lai.

Mỗi ngày ta cũng nên đọc một đoạn kinh từ các bài giảng của Ðức Phật. Thói quen hữu ích nầy giúp chúng ta phát triển tâm ý thiện, làm giảm đi các u sầu, phiền muộn, và giúp đưa đời sống của ta đi vào con đường chân chính.

Qua các cách thức nêu trên, là những cư sĩ đệ tử của Ðức Phật, chúng ta sẽ luôn tăng trưởng trong ánh sáng nhiệm mầu của Chánh Pháp, luôn luôn uốn nắn nhân cách của mình, rèn luyện tâm thức, huân tập các cảm tính, và tăng cường ý chí dũng mãnh để tạo các lợi ích phước báo lâu dài cho bản thân và cho người khác.

Lược dịch: Bình Anson


Đối với cha mẹ, làm con có năm bổn phận:
a) Nuôi dưỡng cha mẹ
b) Làm việc thay cha mẹ
c) Duy trì truyền thống gia đình
d) Bảo quản tài sản thừa tự
e) Khi cha mẹ chết, làm phước hồi hướng.
Phận làm cha mẹ cũng phải đối xử với con theo năm điều:
a) Ngăn chặn con làm điều ác
b) Khuyến khích con làm điều thiện
c) Cho con học nghề nghiệp
d) Lập gia thất cho con xứng đáng
e) Đúng thời giao của thừa tự cho con.
  Đối với thầy dạy, phận làm học trò có năm điều:
a) Tiếp rước lễ phép
b) Hầu hạ kính cẩn
c) Ngoan ngoãn vâng lời
d) Tự thân phục dịch
e) Học tập ngiêm túc
Phận làm thầy cũng phải đối xử với học trò theo năm điều:
a) Khéo huấn luyện
b) Khéo dạy bảo
c) Dạy hết nghề
d) Khen học trò trước các bạn đồng liêu
e) Bảo bọc trong mọi mặt.
 Phận làm chồng đối với vợ có năm điều:
a) Tôn trọng vợ
b) Không khinh rẻ vợ
c) Không ngoại tình
d) Giao quyền nội trợ
e) Tặng đồ trang sức.
Phận làm vợ đối với chồng cũng có năm điều:
a) Sắp đặt việc nhà vén khéo
b) Đối xử tốt với bà con hai họ
c) Không ngoại tình
d) Gìn giữ tài sản của chồng
e) Thành thạo siêng năng trong mọi việc.
  Phận làm chủ gia đối với bạn bè có năm điều:
a) Biếu tặng
b) Ái ngữ
c) Lợi hành
d) Bình đẳng
e) Thành thật .
Phận là bạn bè đối xử với chủ gia cũng có năm điều:
a) Bảo vệ lúc chủ gia sơ suất
b) Giữ gìn tài sản cho lúc phóng túng
c) Làm chỗ nương khi có sợ hãi
d) Khi hoạn nạn không bỏ nhau
e) Tôn trọng thân quyến của chủ gia.
 Phận là cư sĩ đối với hạng Sa-môn tu sĩ nên hành năm điều:
a) Có hành vi bằng từ tâm
b) Có lời nói bằng từ tâm
c) Có ý nghĩ bằng từ tâm
d) Mở rộng cửa đón tiếp
e) Dâng hiến vật chất.
Các tu sĩ cũng nên thương tưởng cư sĩ theo sáu điều
a) Ngăn chặn làm ác
b) Hướng dẫn làm thiện
c) Thương tưởng với ý tốt
d) Nói cho nghe điều chưa được nghe
e) Giải rõ điều họ đã nghe
f) Chỉ vạch con đường cõi trời.
  Phận làm chủ nhân phải đối xử với người giúp việc, tôi tớ theo năm điều:
a) Cắt đặt công việc vừa theo sức
b) Ban phát vật thực và tiền công.
c) Săn sóc lúc bệnh hoạn
d) Chia sẻ món ngon lạ
e) Có dịp cho nghỉ ngơi.
Phận người giúp việc phải đối xử với chủ nhân theo năm điều:
a) Thức dậy trước chủ
b) Ngủ nghỉ sau chủ
c) Chỉ lấy vật được cho
d) Làm việc kỹ lưỡng khéo léo
e) Đem tiếng thơm cho chủ.
Đây là những điều Đức Phật đã dạy trong kinh Siṅgālovadasutta, dạy cho người cư sĩ. Nếu người tại gia hành đúng theo  như vậy hằng được che chở, được an ổn và thoát khỏi mọi sự lo âu phiền muộn.

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2018

Một nhà sư trẻ sẽ sống an lạc hạnh phúc trong rừng sâu khi biết chiêm nghiệm bản chất thiên nhiên của sự vật. Khi nhìn quanh thầy ý thức được sự biến hoại của tất cả mọi hình thái và tất cả đều đi đến nơi hủy diệt.
Chẳng có gì trường cửu trên thế gian. Ý thức được điều này, nhà sư bắt đầu an nhiên tĩnh lặng.
Nhà sư tập bằng lòng với sự thiếu thốn: chỉ ăn những gì thấy cần, chỉ ngủ khi cần thiết, thỏa thích với tất cả những gì mình có. Đó là căn bản của thiền Phật Giáo. Nhà sư Phật Giáo không hành thiền với lý do vị kỷ. Trái lại, các thầy hành thiền để tự hiểu biết chính mình, đồng thời để có thể chỉ dạy kẻ khác sống trong bình an hiểu biết.
Thiền không phải chỉ là sống an lành trong cuộc đời này. Ngược lại, phải đương đầu với chính mình chẳng khác nào dấn thân vào phong ba bão táp. Lúc bắt đầu hành thiền tích cực, chúng ta thường cảm thấy chán nản, thất vọng đến nỗi muốn tự sát nữa là khác. Một số người nghĩ rằng đời sống của sư sãi thật rảnh rỗi và dễ dàng. Cứ để họ thử đi và xem họ chịu đựng được bao lâu. Nghiệp vụ của các nhà sư thật khó khăn. Các vị phải tích cực trong công tác tự giải toả tâm mình để lòng từ ái bao trùm mọi vật. Trong khi nhìn thấy sự sinh diệt của đời sống, nhà sư ý thức được rằng chẳng có gì tùy thuộc vào thầy cả, nhờ thế thầy dồn đau khổ đến đường cùng.
Nếu hành thiền một cách nghiêm chỉnh, chúng ta sẽ gặt hái được thành quả ngay. Bạn cứ thử đi sẽ thấy, tôi chẳng cần quảng cáo làm chi.
Sưu Tầm

Cúng dường Tam Bảo đem lại quả báo lớn nhất trong các loại công đức bố thí, là cơ hội khó gặp để tạo phước báu và gieo duyên với Chánh Pháp. Do vậy người Phật tử cần phải trân trọng cơ hội đó, cần có hiểu biết đúng về nghiệp và quả của nghiệp, có tâm cung kính và trong sáng khi cúng dường, chứ không làm như bố thí hay làm từ thiện ở ngoài đời. Chư Tăng không nhận sự cúng dường với tâm bất kính.

Cúng dường Phật Bảo: xây cất, tu sửa chánhđiệnđểtônthờĐứcPhật, cây Bồ Đề, tượng Phật, hương hoa, đồ lễ... Cúng dường Pháp Bảo: In ấn kinh sách, đĩa thuyết pháp, tổ chức lễ, các khóa thiền, buổi thuyết pháp, phục vụ việc hoằng pháp của chư Tăng... Cúng dường Tăng Bảo: dâng cúng 4 vật dụng cần thiết cho cuộc sống tu tập của chư tăng, bao gồm: y phục, đồ ăn, thuốc chữa bệnh, chỗ ở như cốc, liêu... và các phương tiện khác khi cần  như phương tiện đi lại...

Để sự cúng dường được thành tựu phước báu mỹ mãn, cần có đủ 4 điều: 1.Người dâng cúng giữ giới trong sạch(5 hoặc 8 giới). 2.Vật cúng dường có được do làm ăn trong sạch. 3.Tâm trong sạch (không tham, không sân, không cúng vì danh, vì lợi...). 4.Có đức tin về nghiệp và quả của nghiệp.

Thứ Năm, 7 tháng 6, 2018

Các bạn học sinh (và sinh viên) sẽ thấy một chân trời mới, một tương lai sáng lạn hơn nhờ sự diệu dụng của Thiền. Nếu Thiền vài chục phút mỗi ngày, bạn sẽ thấy sức khỏe, hạnh phúc và việc học đều được gia tăng. Mời các bạn theo giỏi 10 lợi ích của Thiền đối với não bộ của chúng ta.
Thiền cho học sinh
Tương lai của mỗi người phần lớn tùy thuộc vào kiến thức. Kiến thức bắt nguồn từ kinh nghiệm bản thân xuyên qua việc đọc sách và đến trường.

Vì mối tương quan không thể thiếu giữa việc học và cuộc đời. Do vậy học sinh nào cũng muốn giỏi, điểm thi cao, mỗi năm một lớp hoặc hơn, thay vì hai năm một lớp.   

Để giúp cho việc học tốt hơn, theo cách từ ngàn xưa, người ta tìm các loại cây, lá, hay loại động vật nào có thể giúp trí nhớ. Hiện nay trên thị trường có nhiều loại thuốc giúp trí nhớ, như thuốc glutaminol, thuốc dưỡng não, v.v.. Nhưng thuốc phải tốn tiền và nhiều loại có phản ứng phụ.

May thay, nhiều thập niên qua, khoa học gia và y giới tìm thấy một loại thuốc đặc biệt cho cơ thể và đời sống của con người, để gia tăng trí nhớ. Loại thuốc “đặc sản” nầy cũng giúp cho bộ não hoàn thiện hơn mà không tốn tiền, không bị phản ứng phụ. Loại thuốc ấy là Thiền.

Dưới đây, 10 lợi ích của Thiền đối với não bộ. Các bạn học sinh (và sinh viên) sẽ thấy một chân trời mới, một tương lai sáng lạn hơn nhờ sự diệu dụng của Thiền. Nếu Thiền vài chục phút mỗi ngày, bạn sẽ thấy sức khỏe, hạnh phúc và việc học đều được gia tăng. Mời các bạn theo giỏi 10 lợi ích của Thiền đối với não bộ của chúng ta.

1.- Tăng Chỉ số thông minh (Rise in IQ levels): Sự hoạt động của não bộ, óc sáng tạo thực tiển và chỉ số thông minh cao nhờ thiền. Nếu được vậy, mỗi học sinh là một ông Albert Einstein con.



2.- Giảm căng thẳng (Academic stress goes down): Thiền không những giúp học sinh có điểm thi cao mà còn làm cho căng thẳng giảm, tập trung chú ý tốt, nhiều tỉnh thức và có thêm khả năng chống căng thẳng lúc làm bài thi.

3.- Phát triển khả năng học thuật (Improved academic achievement): Thí nghiệm cho thấy, những học sinh có thực hành Thiền thì điểm thi toán và Anh ngữ gia tăng đáng kể.

4.- Tập trung chú ý tốt (Better focus): Tâm hồn tĩnh lặng nhờ Thiền. Vì thế 50% sự căng thẳng, trầm cảm, khiếm khuyết hiếu động được giảm. Điều nầy mang đến một chuổi những phản ứng tích cực làm tăng khả năng chú ý trong công việc, tiến trình chuyển tải của não bộ và cải tiến khả năng diễn đạt. 

5.- Tăng hiệu năng và toàn vẹn của não bộ (Brain integrity & efficiency): Thiền không những làm cho bộ não hành hoạt sắc bén hơn, mà còn làm cho não trở thành một đơn vị hoàn chỉnh. Những sinh viên đại học thực hành thiền, tìm thấy sự thay đổi các tế bào trong vùng não liên hệ đến tánh tình và cảm xúc. Giữa những lợi ích khác, sự thay đổi nầy đưa đến nhận thức tốt và hiểu biết rộng.

             
                           
6.- Giảm trầm cảm và lo âu (Reduction in depression and anxiety): Thiền làm giảm tình trạng lo âu, và không những giảm triệu chứng trầm cảm mới phát sinh, mà ngay cả người bị trầm cảm kinh niên. Thí nghiệm cho thấy, nhóm thiền tập, giảm 48% triệu chứng trầm cảm so với nhóm không thiền.

7.- Giảm hút và nghiện ngập (Reduction in destructive addiction): Không có gì hại trong việc hưởng thụ. Tuy nhiên, chế ngự được sự nghiện ngập là chìa khóa cho sự thành công trên trường đời. Thiền Siêu vượt (Transcendental Meditation) cũng đem lại hiệu quả giảm nghiện rượu và ít hút (cần sa) gấp 2 hoặc 3 lần, so với chương trình giáo dục chống tệ trạng nghiện ngập  nầy.

8.- Giảm bỏ học, tư cách tốt hơn (Lower absenteeism, better behavior): Bước hoành tráng đầu tiên của việc học là không bỏ lớp. Bên cạnh những ích lợi như trên, học sinh và sinh viên tránh được phần lớn các rắc rối tại trường như, xô xát hoặc bị phạt nghỉ học định kỳ.

9.- Giảm bệnh tim mạch (Lower risk of cardiovascular diseases): Hãy sống khỏe mạnh (stay healthy). Hành thiền đều đặn sẽ giúp các bạn giảm cao huyết áp, lo âu và trầm cảm. Thí nghiệm cho thấy, các học trò trước đây bị chứng tăng huyết áp, nhưng nhờ ngồi thiền một thời gian vài tháng, bệnh tăng huyết áp đã thay đổi, bệnh nhân trở lại bình thường. 52% cơ hội bệnh tăng huyết áp không còn tái phát trong những năm còn lại của cuộc đời.

10.- Vui tính và tự tin hơn (Happier, more confident students): Cuối, nhưng không phải là hết, các nghiên cứu cho thấy những học sinh có thực hành thiền hằng ngày, kết quả tốt cho các triệu chứng như quá xúc động, tự đề cao và kềm chế xúc cảm.

Thực tế, lợi ích của Thiền không phải chỉ có bao nhiêu mà còn vô số. Thiền Chánh niệm (Mindfullness Meditation) có thể làm giảm căng thẳng, biết về chính mình nhiều hơn, điểm thi cao, giúp quân nhân chiến đấu tốt và ít bị bệnh tâm thần và chấn thương não trước và sau chiến đấu, giúp người bị nhức (mỏi) đối trị tốt hơn trong việc chống căng thẳng, giúp não bộ kiểm soát tiến trình đau nhức, nhận biết tự thân, điều chỉnh cảm xúc và chú ý, giúp y giới làm việc tốt hơn, giúp ta trở nên người tốt hơn vì lòng từ bi tăng trưởng, giúp chữa bệnh ung thư vì Thiền làm giảm căng thẳng, giúp người lớn ít cảm thấy cô đơn, giảm chi tiêu y tế hằng năm, ít cảm cúm, giúp các em trẻ và quý bà có thai ít bị trầm cảm, 70% người béo phì có thể giảm cân, ngủ ngon giấc hơn, và v.v..

Hai mươi lợi ích của Thiền Chánh Niệm tôi vừa kể, là có chứng cớ và thí nghiệm của các khoa học gia và y giới, chứ không phải liệt kê tùy tiện. Thực tế, thì lợi ích của Thiền, nhất là Thiền Chánh Niệm không phải chỉ có bao nhiêu mà vô số. 
Có lẽ không còn gì để do dự qua các nghiện cứu và thí nghiệm của khoa học. Ta là sản phẩm sáng tạo của chính mình ta. Có sức khỏe hơn, thông minh hơn, đẹp hơn, sống có hạnh phúc hơn, … đang nằm trong tầm tay với. Mong các bạn, sẵn sàng thực hành vì lợi ích của chính mình, còn gì cần suy nghĩ nữa chăng?
Sưu Tầm

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2018


Hôm nay chúng ta có một đề tài đột xuất, lý do là có một số thiền sinh muốn biết “trú xứ nào thích hợp để hành thiền”? Câu hỏi này rất hay.
Nơi thích hợp để tu thiền
Đúng ra, đây phải là bài học đầu tiên cho tất cả những ai sơ cơ bước vào đời sống tu học nghiêm túc; nhưng do là tôi thường hay nói chuyện, giảng pháp, giảng thiền trước hội chúng đã từng tu tập - nên tôi quên bẵng là có những người đến tập thiền hôm nay còn rất mới mẻ.


“Trú xứ thích hợp”, thật ra cũng không phải đơn giản. Đã rất nhiều người hiểu lầm. Tôi nhớ thời gian sau những năm 1975 dường như chín mươi phần trăm tu sĩ đều hoàn tục do “hoàn cảnh tu học không còn thích hợp nữa”. Một số khác có chí tu, muốn tìm chỗ tu tập thuận tiện, tiện nghi  hơn, họ viện dẫn một đoạn kệ trong 38 pháp hạnh phúc: “Ở trú xứ thích hợp, công đức trước đã làm, chơn chánh hướng tự tâm, là phúc lành cao thượng”(Patirūpa-desa-vāso ca. Pubbe ca kata-puññatā. Atta sammā panīdhi ca. Etaṃ maṅgagam’uttamaṃ).

Rồi họ nói: Chính đức Phật cũng đã từng dạy, muốn có hạnh phúc cũng cần phải đi tìm kiếm trú xứ thích hợp kia mà! Trú xứ thích hợp cái kiểu đó chính là đầy đủ phương tiện vật chất. Nhưng chúng ta đã hiểu rõ rằng, các nước văn minh tiên tiến, cơ bản họ không lo cái ăn, cái mặc nữa, nhưng những bất hạnh về gia đình, những mối bất hòa về cha con, vợ chồng, những căng thẳng quá tải do công việc đã đưa đến những khổ đau về tinh thần là thảm họa khôn lường do sự cạnh tranh lợi nhuận mà ra. Vậy, trú xứ thích hợp không phải là tìm chỗ dư dã vật chất. Nước Bhutan là nước theo Phật giáo, có thể họ còn rất nghèo nhưng chỉ số hạnh phúc đầu người của họ được xem là cao nhất thế giới. Xứ Kuru thời đức Phật - một bộ lạc nghèo - cũng thuộc loại có chỉ số hạnh phúc đầu người cao nhất Ấn Độ thời bây giờ, nhờ người dân ở đây đều tu tập Tứ Niệm Xứ. Myanmar là một trong những đất nước nghèo nhất thế giới nhưng lại là nơi xuất sinh những vị thiền sư có ảnh hưởng tầm thời đại; và ở tại đấy đã có nhiều trường thiền tu học nghiêm túc, lôi cuốn Tăng ni Phật tử khắp năm châu. Đến đây ta có thể loại trừ trú xứ thích hợp theo nghĩa vật chất ở trên... Nói cụ thể hơn tí nữa, trú xứ thích hợp không phải đi tìm chỗ ăn ngon, mặc đẹp, nhà cao cửa rộng, mọi tiện nghi đều được cung phụng đầy đủ...

Có người hỏi.

- Vậy thì nghèo, khổ mới tu được hay sao, thưa thầy?

- Đấy, bạn lại rơi vào cực đoan khác. Ở Ấn Độ, ai đầy đủ quyền lực, giàu sang, danh vọng hơn đức vua Bimbisāra, đức vua Pāsenadi ? Ai có vàng bạc, của cải hơn ông Cấp Cô Độc, bà Visākha? Ai có gia sản lớn như ngài Sārīputta, Mahākassapa? Rồi các vị vua thời Lý, Trần của chúng ta nữa? Và gần đây nhất, hiện nay, các nước văn minh tiên tiến trên thế giới như Hoa Kỳ, Anh, Đức, Pháp, Úc, Canada... người ta nghiên cứu Phật học và hằng ngàn chùa chiền, tu viện, thiền viện để cho mọi người tu tập thì sao nhỉ? Vậy nghèo giàu không phải là vấn đề, nó không phải là cái quyết định. Lại nữa, trú xứ thích hợp cũng chưa phải là nhân tố quyết định. Nó chỉ là duyên. Chúng ta tu học, chúng ta thiền tập cũng phải biết tạo những duyên tốt cho sự tu học, cho sự thiền tập ấy được tốt hơn, có hiệu quả hơn, có phải thế không? Một hạt lúa mà gieo trên đất khô cằn, không có phân, không có nước... thì nó sẽ không thể thành cây lúa tốt tươi được. Cũng vậy, có tâm tu, muốn công phu thiền tập cho có hiệu quả, chúng ta phải có những bước chuẩn bị, lựa chọn, tìm kiếm môi trường thích hợp... tương tợ như thêm phân, thêm nước, chăm bón cho cái cây lúa kia vậy.

- Tức là lựa tìm cái chỗ ở hoặc nơi chốn thích hợp để hành thiền, phải không thầy?

- Ở trường hợp đang nói đây thì đúng như vậy! Cái nơi chốn, cái chỗ ở thích hợp để hành thiền, lý tưởng nhất - nói cái lý tưởng nhất trước đã - thuở đức Phật thì khác, bây giờ thì khác! Bây giờ thì có thể tìm kiếm 10 chỗ sau đây:

Một - rừng, cội cây, ngôi nhà trống...

Hai - không gần xóm cũng không xa xóm...

Ba - không gần đình, miếu, am, quán... thường có nhiều người vào ra và nhiều cuộc lễ hội, cúng kỵ...

Bốn - nơi không có thú dữ, nơi tụ họp của bọn xì-ke, ma túy, gần hang ổ bọn trộm cắp, tội phạm...

Năm - không gần chỗ nga ba, ngã tư, bến nước, nhà ga, siêu thị, chợ búa...

Sáu - không gần chỗ khách du lịch, vui chơi giải trí, tắm giặt, vũ điệu hát ca phù phiếm...

Bảy - không gần chỗ hội họp, hội thảo, tiệm internet; nơi cờ bạc, quán cà phê, quán rượu, nơi chơi cổ phiếu - thị trường chứng khoán...

Tám - không gần nơi lò mổ, trại nuôi heo bò, gà vịt...

Chín - không gần trại phong cùi, trại tù binh trọng hình, trọng án...

Mười - tránh xa những cơ sở công nghiệp do động cơ, khí thải làm cho không gian, đất đai, nguồn nước ô nhiễm...

- Đúng là lý tưởng - một người thốt lên - nhưng ở đâu tìm ra được hoàn cảnh và môi trường tuyệt vời như thế?

- Tôi biết. Vì đấy là lý tưởng. Nhưng trong hoàn cảnh cụ thể của mỗi người, ai cũng có thể thu xếp cho mình một góc phòng nào đó, khoảng thời gian nào đó để tập định. Nói ngắn gọn, là nên tránh xa chỗ ồn ào, bụi bặm, chỗ dễ bị lây nhiễm tập tính xấu, chỗ dễ làm cho ta phân tâm, nhiễu loạn... quý vị đã nắm rõ như thế chưa?

- Thưa vâng!

Yên lặng một lát rồi có người nói:

- Chỗ của tôi ở rất ồn ào, hai bên kẹp chặt một quán cà-phê và một quán ăn nhậu, đến chín mười giờ đêm vẫn không yên; trong trường hợp ấy, làm sao để tập thiền hở thầy?

- Quả là khó đấy! Vậy thì từ lâu, bạn đã đối trị ra làm sao?

- Dạ thưa vâng! Tôi sẽ kể hầu thầy nghe, đồng thời muốn san sẻ với các bạn kinh nghiệm mà tôi đã trải qua. Suốt mấy tháng trường, tôi đã không an trú vào hơi thở được, thế là tức giận, sân hận ồ ạt nổi lên. Hôm kia, tôi chợt hỏi: Tại sao, mình lại tức giận? Mình ngồi thiền là để mà sân hận như thế này hay sao? Hóa ra, do mình muốn sự yên lặng, ước muốn ấy do không được toại nguyện, không được hài lòng, thỏa ý nên mình đã bực tức. Vậy tại sao mình không từ bỏ đối tượng trở ngại bên ngoài rồi lắng nghe sự tức giận ấy nó nung đốt mình ra làm sao? Thế rồi, tôi chỉ ngồi và quan sát, lắng nghe cái tức giận. Tôi đã tỉnh giác, chú tâm liên tục. Lát sau, điều kỳ diệu xẩy ra, nghĩa là, tiếng nhạc loạn ồn ào bên ngoài đã trở nên mơ hồ, xa vắng; và cơn tức giận bên trong nó cũng đã dần dần lắng dịu xuống rồi tan loãng đi. Tôi nhủ thầm: Đúng vậy rồi, cái gì có sanh thì cái ấy có diệt! Tôi đã nhìn ngắm được cái sinh diệt của tâm sân! Đấy là cách đối trị của tôi để vượt qua chướng duyên bên ngoài. Thế có tốt không thưa thầy?

- Đúng, vậy là tốt! Do nhờ ông bạn đã tập thiền nhiều năm nên đã thấy rõ mình luôn bị chi phối bởi hai năng lực tham và sân. Muốn yên lặng, muốn dứt tiếng ồn - đấy là tham; ước muốn ấy không được toại nguyện - nên sinh ra bực tức - đấy là sân. Bạn đã nghiêm túc lắng nghe, và biết rõ ước muốn yên lặng ban đầu là do tham, sau đó, do ước muốn ấy không toại nguyện nên phát sanh sân! Sự lắng nghe, quan sát tham và sân này - chính lúc ấy, bạn đã bước qua giai đoạn niệm tâm rồi đấy!

- Ông bạn làm được việc ấy, còn tôi vì mới sơ cơ nên không thể - một người góp ý - Chắc tôi sẽ nổi sùng lên, nóng nảy làm một việc sai lầm gì đấy thì nguy to! Vậy, tôi sẽ cố gắng tìm kiếm trú xứ thích hợp để hành thiền, để tu tập như 10 điều kiện thầy nêu ở trên - vừa lợi lạc cho mình vừa giúp cho con cái được sống trong môi trường trong lành, cách ly được một phần nào sự thác loạn, ồn ào, đủ mọi thứ ô nhiễm do con người và xã hội gây ra. Tôi sẽ cố gắng tìm chỗ tốt nhất.

- Đúng vậy! Mỗi người có thể tìm kiếm trú xứ thích hợp tùy hoàn cảnh của mình, khả năng của mình; tuy nhiên, không ở đâu có điều kiện tốt tuyệt đối. Sau khi có điều kiện về không gian tương đối rồi, chúng ta còn cần sự lựa chọn thời gian nữa. Buổi khuya, trước khi đi ngủ; và buổi sáng khi vừa thức dậy, thời gian ấy là tốt nhất. Tại sao vậy? Vì trước khi ngủ, mình tập thiền, năng lực của thiền có thể duy trì cho mình một giấc ngủ an lành, không có những giấc mộng dữ. Buổi sớm, mình tập thiền, năng lực của thiền giúp mình ổn định thân tâm suốt một ngày làm việc. Các bạn phải thấy sự rõ lợi ích ấy.

Có một người hỏi.

- Có người bảo nên tập thiền vào lúc nửa đêm, giờ tý, lúc ấy dương khí  mới sinh - có đúng không thầy?

- Điều ấy đúng, đúng với cách luyện khí công của đạo gia. Họ luyện tinh thành khí, khí hóa thần, thần hoàn hư  theo quan niệm bí thuật của các đạo sĩ tu tiên. Theo đó, họ thở dài và sâu, ép hơi thở xuống đan điền, giữ hơi thở càng lâu càng tốt, bế hậu môn, dùng tưởng hâm nóng, đốt cháy tinh, chuyển tinh thành khí, dẫn khí  lên cột tủy sống để nuôi dưỡng thân xác với ước mong trẻ mãi không già, thanh xuân, trường thọ... Chúng ta tu Phật, tu thiền cốt để giải quyết phiền não nội tâm, có nên cưng chiều cái thân, tu luyện cho cái thân để phát triển dục vọng như thế không - thì các bạn đã hiểu rồi.

Có người phát biểu.

- Đúng vậy! Thầy đã nói đúng, đấy là cách nuôi lớn, phát triển dục vọng. Nhưng nếu cũng ngồi vào giờ tý, quay mặt về hướng Bắc, vì lúc ấy mặt trời - dương khí ở hướng Bắc - thì có tốt không thầy?

- Tốt! 24 giờ đêm, mặt trời ở hướng Bắc; 6 giờ sáng, mặt trời ở hướng Đông; 12 giờ trưa, mặt trời ở hướng Nam; 18 giờ chiều, mặt trời ở hướng Tây. Đúng những giờ khắc ấy, quay mặt về hướng dương khí ấy, nó trợ lực tốt cho dương khí ở trong chúng ta - nhưng cũng rất tương đối; quan trọng nhất ở đây là đừng có phản lại các lực, các khí các từ của vũ trụ... quý vị có hiểu không?

- Dạ chưa hiểu! Dường như thầy cố ý nói đến phong thủy khi đề cập đến các khí, các từ, các lực của vũ trụ?

- Đúng vậy, nhưng, lãnh vực phong thủy cũng khá lớn rộng, cái đúng, cái sai của nó - các trường phái Đông Tây có nhiều kiến giải khác nhau; nó chưa hắn là thước đo trung chính; thứ nữa nó cũng không quan trọng lắm trong sự thiền tập. Chúng ta chỉ cần biết rằng, từ trường của quả đất đi từ Bắc xuống Nam. Khi đức Phật nhập diệt, ngài nằm thuận với từ trường của quả đất: Đầu hướng Bắc, nằm nghiêng mặt về hướng Tây - tim không bị ép - lưng hướng Đông, chân co chân duỗi xuôi Nam! Quả là kỳ diệu thay trí tuệ của một bậc Toàn Giác - vì thuở ấy khoa thiên văn, địa lý đang còn quá sơ khai!

- Vậy trú xứ thích hợp còn cả yếu tố phong thủy trong đó nữa sao?

- Không cần thiết! Chỉ cần biết chút ít. Chỉ cần biết chút ít để chúng ta không nên nghịch lại với các lực, các khí, các từ  ấy - có hại cho sức khỏe - mà phải biết vận dụng chúng để trợ lực thêm cho mình, thêm duyên lành cho mình không tốt hơn sao? Ví dụ, nhà ở nên quay mặt về các hướng Đông Nam, Tây Nam để hưởng ánh nắng mặt trời buổi sớm - chắc hẳn là tốt hơn khi chúng ta quay lưng lại với nó? Và gió cũng vậy, có gió lành, có gió độc. Nước cũng vậy, thuận thế nước tốt hơn là nghịch lại với nó. Nói tóm lại, với phong thủy, chúng ta cũng nên nắm bắt cái nguyên lý của nó để sống, để ở, để tập thiền - vì ngoại duyên thuận hợp bao giờ cũng tốt hơn là nghịch duyên vậy.

Một người hỏi.

- Vậy thì khi mà chúng ta lựa chọn trú xứ thích hợp rồi - nghĩa là không gian thích hợp, thời gian thích hợp - thì sự tập thiền của chúng ta sẽ dễ dàng thành tựu?

- Chưa đâu! Đấy mới chỉ là ngoại cảnh, chúng ta còn cần phải chuẩn bị thân tâm nữa.

- Xin thầy hãy cho nghe một cách rộng rãi.

- Vâng. Các bạn hãy nghe đây. Đức Phật dạy: Giới năng sinh định, định năng sinh tuệ; hoặc giới là nền tảng của định, định là nền tảng của tuệ. Vậy, chuẩn bị thân tâm có nghĩa là thân tâm ấy phải có giới, thân tâm ấy phải mát mẻ, trong lành cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Ít ra là thân tâm ấy không có một đời sống buông lung, phóng dật, rượu chè, cờ bạc, tham lam, bạo tàn, hung dữ, độc ác... Nếu trước đây đã từng lỡ dại khờ, mê muội mà sống như vậy thì nay phải hồi đầu, hướng thiện, phải biết thọ trì tam quy và ngũ giới. Không có nền tảng tối thiểu của giới như vậy mà mong định, mong thiền, mong tuệ thì chỉ là ảo tưởng mê vọng. Gia dĩ trong năm giới mà bạn cảm thấy đôi lúc có sai phạm - cũng không sao, biết có sai phạm là tốt; nhưng trước khi hành thiền, bạn nên tắm rửa sạch sẽ, đốt nhang, xông trầm, đối trước tượng Phật, tự sám hối, tự xin giới rồi tụng đọc một bài kinh Tam Bảo... thì thật là một sự chuẩn bị thân tâm một cách chu đáo và trọn lành. Làm được như thế thì thân bạn an ổn, mát mẻ, tâm bạn an ổn, mát mẻ... và nó chính là cơ sở tiền đề, nền tảng cho chúng ta đi vào tập thiền, dù định hay tuệ một cách rất dễ dàng.

- Chúng tôi hoàn toàn hiểu! Nhưng nếu như lúc ấy - một không thời gian nào đó - chúng tôi muốn tập thiền nhưng không có một chỗ thờ tự trang nghiêm thì sao ạ?

- Cũng không sao cả! Tôi chỉ muốn nhấn mạnh trường hợp một vài người có đời sống buông lung, phóng dật; do đời sống buông lung, phóng dật nên thân tâm không yên; vì thân tâm không yên nên phải chuẩn bị cho thân tâm ấy một cách chu đáo như thế. Đấy là cá biệt. Còn đa phần, những người đã tập thiền lâu năm thì có thề ngồi đâu cũng được, không thời gian nào cũng được - và chỉ cần chấp tay, thầm niệm Phật ba lần cho thân tâm được thu thúc trang nghiêm lại - là đủ rồi! Và, có điều các bạn đừng quên, sau khi xả thiền - nên hồi hướng công đức đến cho chư thiên, thọ thần, phi nhân bao giờ họ cũng cư trú xung quanh chúng ta. Hồi hướng phước báu đến cho họ, họ sẽ hoan hỷ; và khi mà họ hoan hỷ thì cả không gian xung quanh đều được mát mẻ, yên ổn, an vui... Đừng nghĩ đấy là duy tâm, đừng nghĩ đấy là nương tựa tha lực! Nó là sự thật đấy! Sự thực trong đời sống toàn diện với mọi tương quan giữa ta và vạn hữu!

- Vâng! Phải vậy mới chí lý! Và cả chí tình nữa! Chúng tôi hoàn toàn hiểu trú xứ thích hợp rồi, thích hợp cho cả thiền định và thiền tuệ lúc tọa thiền. Còn trong sinh hoạt thường nhật nữa, thiền tập minh sát vipassanā nó như thế nào hả thầy?

- Từ từ đã! Dĩ nhiên, thiền tập minh sát vipassanā, ngoài tọa thiền ra, còn chú trọng nơi mọi oai nghi đi, đứng, ăn nói... của tất cả quý vị. Và dường như cái này quan trọng nhất: Thiền quán trong sinh hoạt thường nhật! Cái này thì còn nói dài dài, nhưng phải từng bước, từng bước một. Hôm nay ta có thể chấm dứt ngang đây là vừa phải lẽ! Buổi nói chuyện này chỉ để dành cho một số cư sĩ tập định sơ cơ, phải cần trú xứ thích hợp như vậy. Còn người tu minh sát tuệ lâu năm, đã thuần thục thì đối với họ, cái chợ đời ồn ào, huyên náo lại thuận hợp cho họ lắng nghe, chiêm nghiệm bài học giác ngộ.

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2018

Nhiều năm về trước, tôi có biết một gã luôn luôn tươi cười và hạnh phúc. Hắn ta giống như một tấm nệm bông ấm áp ai cũng muốn tựa vào vậy. Luôn là kẻ đầu tiên niềm nở ôm lấy bạn. Luôn rạng rỡ mọi lúc gặp mặt. Luôn khen bạn ngay cả trong những chuyện chẳng có gì đáng khen. Hắn tên là Jon.

Jon cứ như một chú cún với sự phấn khích hay hứng thú quá đà đôi lúc khiến bạn cảm thấy khó chịu khi ở gần. Hắn là hàng hiếm. "Này, hắn không thể . . . chán ghét cuộc đời một chút à?" Tôi từng nghĩ vậy. Không giả tạo một chút nào đâu.

Có lẽ tôi ghen tỵ với hạnh phúc của Joh, thật tệ. Thế nhưng tôi chưa bao giờ cảm thấy mình là một kẻ tồi tệ được lâu khi tiếp xúc với Jon. Hắn luôn cực vui nhộn và thú vị - bạn đơn giản chỉ không thể ngừng cảm giác phấn chấn mỗi khi ở gần hắn. Hắn luôn muốn biết về mọi điều diễn ra trong cuộc sống của bạn. Hắn tích cực và luôn động viên người khác. Hắn còn chân thành hạnh phúc và tự hào vì bạn, ngay cả khi chính bạn còn chẳng hạnh phúc hay tự hào vì chính mình.

Rốt cuộc, tôi quyết định rằng Jon chính là một trong những gã may mắn đã nắm được bí quyết cuộc sống. Hắn nằm trong nhóm không bị ảnh hưởng bởi những phần thối tha của cái cuộc đời này. Jon bằng một cách nào đó có lẽ may mắn tới mức đi giữa trời mưa chắc cũng chẳng ướt người. Hắn hiểu rõ sự may mắn của bản thân và dùng phần lớn thời gian giúp mọi người cảm thấy tuyệt vời giống như mình.

Thế rồi một ngày nọ, tôi bắt gặp hắn đang hít liền 1 lúc hai liều ma túy ở phía sau nhà vệ sinh.

Ôi, không! Hắn là gã đã tìm ra bí quyết cuộc sống cơ mà! Là gã ai cũng tin sẽ miễn nhiễm với mọi giây phút yếu lòng đấy!

Hóa ra, Jon chẳng hạnh phúc như chúng tôi tưởng. Cuộc sống gia đình của hắn là một thảm họa. Đời tư của hắn cũng là một thảm họa. Sự lạc quan không dứt và thứ "kẹo hạnh phúc" thi thoảng hắn hít hà là những cứu rỗi duy nhất giúp Jon không sụp đổ hoàn toàn - chúng cũng giống như những mảnh băng dính rách rưới hay sợi dây giày cột cảm xúc của hắn lại một cách tạm bợ vậy.

Và rồi, sau một thời gian dài, tôi ngạc nhiên nhận ra rằng Jon không hề giỏi giải quyết cảm xúc bản thân. Nghe có vẻ điên rồ - bởi lẽ hắn luôn thể hiện như một phiên bản tất cả chúng ta đều khao khát: hạnh phúc hoàn hảo, yêu đời, lạc quan, giàu cảm hứng và chẳng bao giờ trải qua những giây phút tụt tâm trạng. Nhưng đó là sự thật. Hắn dở tệ trong chuyện xử lý cảm xúc cá nhân và luôn phải sống trong chịu đựng vì điều này. 

Cảm xúc có thể làm những gì?

Cảm xúc là kết quả thu được khi tâm trí bạn so sánh môi trường ngoại cảnh với kỳ vọng bản thân.

Giống y như cái cách bạn cảm thấy nóng hay lạnh khi bước ra ngoài (ngay khi bước ra, da sẽ điều chỉnh nhiệt độ tương đối so với thân nhiệt; sau đó gửi tín hiệu thông báo cho não bộ), cảm xúc cũng làm điều tương tự với những hiện tượng tâm lý phức tạp.

Khi bạn bước ra ngoài, cơ thể gửi tới não bộ tín hiệu "Trời lạnh đấy ông ơi!" khiến bạn chạy ngay vào nhà mặc áo ấm. Tương tự, khi bắt quả tang vợ/chồng mình đang ngoại tình, , cơ thể bạn sẽ gửi những tín hiệu cảm xúc tới não bộ thông báo "Cái gì thế này?". Sau đó, bạn sẽ giải quyết hắn, bằng cách ly dị, hay cách nào đó mà cơn sân của bạn chọn giúp.

Trên thực tế, cảm xúc được thiết lập nhằm thúc đẩy chúng ta đưa ra hành động giải quyết mâu thuẫn giữa kỳ vọng và ngoại cảnh. Điều này có thể đạt được bằng cách thay đổi một trong hai yếu tố kể trên.

Để hiểu rõ hơn, hãy cân nhắc trường hợp bạn đang nói chuyện với một đồng nghiệp và phát hiện ra con quỷ cái Betty mới được thăng chức nhờ cướp trắng ý tưởng tuyệt vời của bạn.

Rất có thể trong bạn đột nhiên sẽ ngập tràn những cảm xúc mạnh: tức giận, ghen tị, cảm thấy bị phản bội v.v. Bạn phải hành động và cho con khốn Betty đó (và cả sếp nữa) biết mình đang nghĩ gì. Đừng động vào bạn ở cái công ty này vì không đời nào bạn chịu chấp nhận những điều vô lý tới vậy!
Sự tức giận và đau đớn rất có thể sẽ còn khiến bạn suy nghĩ lại thật kỹ về môi trường làm việc và con đường sự nghiệp của mình. Chúng cũng khiến bạn đề phòng hơn để tránh xa những nỗi đau tương tự. Bạn phải hành động để được chú ý nhiều hơn. Sau tất cả trải nghiệm tệ hại này, cảm xúc sẽ buộc bạn phải giải quyết vấn đề. Và điều này chắc chắn sẽ có lợi cho tương lai.

Đó chính là lý do khiến cảm xúc luôn là yếu tố vô cùng quan trọng và hữu ích. Bất kể tích cực hay tiêu cực, chúng đều đóng vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy chúng ta hành động đúng đắn và đương đầu với những trở ngại.
Duy chỉ có một điều, cảm xúc không thể giúp chúng ta đối mặt với những thứ tệ hại trong cuộc sống nếu chúng không phải là phản ứng chính xác và phù hợp với hoàn cảnh. Nếu tôi buồn chán khi bản thân nên cảm thấy sợ hãi, hoặc hưng phấn cao độ trong khi lẽ ra nên cáu điên, thì làm thế nào cảm xúc có thể giúp tôi giải quyết bất cứ điều gì trong cuộc sống, chưa nói tới sống tốt?

Đây chính là vấn đề với triết lý luôn-cảm-thấy-ổn-bất-chấp-hoàn-cảnh trong cuộc sống. Và cũng là lý do khiến Jon kết thúc trong thảm họa. Thay vì cho phép bản thân tận hưởng cảm xúc đúng đắn và phù hợp, hắn ta lại chỉ cố che đậy mọi thứ dưới một lớp vỏ bọc hào nhoáng và giả tạo.

Tại sao đa dạng hóa cảm xúc có thể khiến bạn trở nên mạnh mẽ hơn?

Trong tâm lý học có một khái niệm gọi là "sự đa dạng cảm xúc". Khái niệm này, giống như tên gọi, nhấn mạnh việc trải nghiệm nhiều cảm xúc phù hợp với nhiều hoàn cảnh. Những người trải qua nhiều tâm trạng tích cực lẫn tiêu cực thường khỏe mạnh hơn cả về tinh thần lẫn thể chất so với những người chỉ thường xuyên trải qua một vài cảm xúc nhất định, tốt hoặc xấu.
Giống như việc một danh mục đầu tư cổ phiếu đa dạng sẽ ít chịu ảnh hưởng khi thị trường biến động mạnh, đời sống cảm xúc càng đa dạng sẽ càng giúp bạn dễ chống chọi hơn với những biến cố lớn trong cuộc đời. Nếu thoải mái với sự giận dữ, bạn có thể "triệu hồi" cảm xúc này khi cần thiết và sử dụng nó. Nếu dễ chịu với niềm vui, cảm giác tội lội hay nỗi buồn, bạn cũng có thể sử dụng chúng theo cách tương tự.

Một cuộc sống đa dạng không được tạo nên chỉ từ một vài cảm xúc "tốt" hay "xấu". Bạn cần phải trải nghiệm những cảm xúc cụ thể hơn: sự thích thú, niềm vui, sự hài lòng, lòng biết ơn, sự tự hào, tình yêu, hy vọng; hay sự tức giận, buồn chán, cảm giác tội lỗi, khinh bỉ, lo lắng, ghê tởm, xấu hổ v.v.


Các nhà nghiên cứu cho rằng những cá nhân trải qua nhiều cảm xúc cụ thể có khả năng đối mặt với nghịch cảnh tốt hơn; vì họ giỏi nhận ra những yếu tố tạo nên một tâm trạng hơn người khác. Khi biết rõ tác động khiến bản thân nảy sinh một cảm xúc bất kỳ, bạn sẽ phản ứng dễ dàng và chính xác hơn.

Những người thực hành đa dạng cảm xúc thường đủ tỉnh táo để nhận ra nguyên nhân sâu xa của mọi vấn đề, từ đó đưa ra được cách ứng xử phù hợp. Điều này khiến họ kiểm soát tốt hơn cuộc sống của mình - yếu tố cần thiết cho một cuộc sống hạnh phúc và khỏe mạnh.

Trải qua nhiều xúc cảm còn khiến bạn thấu hiểu rằng tất cả chỉ mang tính thời điểm và sẽ nhanh chóng qua đi. Khi chỉ cho phép bản thân cảm nhận một hay hai cảm xúc ở một thời điểm, bạn sẽ bắt đầu lầm tưởng rằng chúng là bất tận (hoặc nên là bất tận). Thế giới luôn tồi tệ. Hoặc cuộc đời luôn luôn rất tuyệt vời. Bạn luôn cảm thấy có lỗi vì là một kẻ tồi tệ. Hoặc luôn tự hào với chính mình, ái kỷ tới mức có thể tự thỏa mãn khi ngắm nhìn ảnh chụp bản thân trong kỷ yếu thời cấp 3.

Vì đắm chìm trong lối suy nghĩ một-cảm-xúc-định-nghĩa-thế-giới này, bạn quên mất rằng cảm xúc chỉ là những thứ hời hợt nhất thời, quên mất rằng chúng chẳng mang ý nghĩa gì cả.

Đa dạng hóa cảm xúc cho chúng ta thấy rằng cảm xúc đến và đi như một lẽ tự nhiên. Bạn đang cảm thấy tức giận? Chuyện bình thường. Một vài giờ nữa cơn giận sẽ qua. Bạn đang hạnh phúc? Hay ho đấy. Cứ tận hưởng nó đi vì những vật lộn kế tiếp đang tới rất gần. Bạn cảm thấy tội lỗi hay buồn chán? Cũng thường thôi. Mọi thứ sẽ khá hơn trong tương lai gần.

Câu hỏi ở đây là: Làm thế nào chúng ta có thể bắt đầu đa dạng hóa đời sống cảm xúc của chính mình?

Trở thành một Ninja Cảm xúc

Bước đầu tiên để sở hữu đa dạng cảm xúc là cải thiện nhận thức tự thân của chính bạn. Hãy chú ý và chấp nhận cảm xúc khi chúng tới.

Điều này nghe đơn giản tới mức ngớ ngẩn. Thế nhưng hãy cứ thử xem, rất có thể bạn sẽ nhận ra nếu chối bỏ một cảm xúc đủ lâu, bản thân bạn sẽ không thể nhận ra khi nó tới nữa.

Tôi đã từng nói rằng nhận diện và "tháo ngòi nổ" cảm xúc là một phương pháp quan trọng giúp mỗi cá nhân thấu hiểu cảm xúc của chính mình. Còn đây là bước cao cấp hơn: Học cách nhận diện cảm xúc và tách biệt chúng khỏi quá trình đưa ra quyết định của bạn.

Đó là khác biệt giữa việc muốn đấm vỡ mặt một thằng đểu và việc thực sự ra tay. Đấm người là việc làm khó chấp nhận. Nhưng muốn đấm lại là một phản ứng tự nhiên của con người (trong một vài trường hợp).

Một khi đã tách ngòi nổ cảm xúc khỏi việc ra quyết định, bạn sẽ cảm nhận được tâm trạng của mình một cách sâu sắc và tinh tế hơn. Ví dụ, nếu làm điều này khi cảm thấy tuyệt vọng, bạn có thể sẽ nhận ra rằng bản thân còn cảm thấy tức giận với thứ khiến mình chán nản nữa. Vậy là chúng ta đã tiến được thêm một bước.

Thay vì nằm chán nản và tự nhủ rằng cuộc đời này thật vô nghĩa - để làm gì nhỉ? - sự tức giận mới phát hiện này có thể thúc đẩy bạn hành động để thay đổi hoàn cảnh. Thay vì trốn chạy khỏi cuộc đời, giờ đây bạn lại chủ động tìm cách hòa nhập với nó.

Đây mới đích thực là kỹ năng của một người giỏi thích nghi cảm xúc. Không phải người tỏ ra hạnh phúc hay hài lòng mọi lúc; mà là người có khả năng nhận ra những tầng lớp cảm xúc của chính mình và tận dụng chúng một cách hữu ích. Sự tức giận có thể thúc đẩy hành động. Nỗi buồn có thể dẫn đến sự chấp nhận. Cảm giác tội lỗi dẫn tới thay đổi. Còn sự phấn khích lại đem đến động lực.

Kiểm soát cảm xúc là điều bất khả thi. Chúng tới và đi như một lẽ tự nhiên, bất chấp bạn có muốn hay không.

Điều hướng cảm xúc lại là kỹ năng có thể làm chủ được, mặc dù mỗi cảm xúc lại cần cách tiếp cận hoàn toàn riêng biệt. Giống như học cách sử dụng côn khác hẳn sử dụng gậy hay kiếm samurai trong chiến đấu, điều chỉnh mỗi cảm xúc đặc thù để thúc đẩy hành động phù hợp cũng khác hẳn nhau. Dẫu vậy, tất cả cần được luyện tập và làm chủ thông qua các trải nghiệm thực tế trong cuộc sống.

Tới khi đã thuần thục toàn bộ, bạn sẽ trở thành một ninja cảm xúc có khả năng thích ứng và xử lý mọi nghịch cảnh trong cuộc sống.


Tác giả: Mark Manson
Lược dịch


"Tất cả quý vị đều biết rằng gà rừng rất sợ người. Vậy mà từ ngày Sư về đây, ở trong rừng nầy Sư có thể dạy chúng nó học và Sư cũng học của chúng nữa. Lần nọ Sư rải lúa cho chúng nó ăn. Thoạt tiên chúng nó rất nhút nhát và không dám đến gần mấy hột lúa. Tuy nhiên, sau một thời gian, chúng nó quen đến tìm ăn và còn trông chờ Sư cho ăn là khác. Quý Sư thấy không? Có một vài điều ở đây mà ta có thể học hỏi. Lúc ban đầu mấy con gà rừng e sợ vì nhận thấy có sự hiểm nguy trong những hột lúa, chúng xem lúa là kẻ thù. Trong thực tế, không có hiểm họa trong lúa, nhưng chúng nó không biết rằng lúa chỉ là vật thực, và chúng nó sợ. Khi cuối cùng, tự mình thấy rằng không có gì phải sợ, chúng có thể đến ăn mà không có gì hại.

Những con gà rừng học hỏi như vậy một cách tự nhiên. Sống ở đây, trong khu rừng này, ta cũng học hỏi cùng một thế ấy. Lúc ban sơ, ta nghĩ rằng giác quan của ta là vấn đề tạo khó khăn, và bởi vì không biết xử dụng nó một cách thích nghi nên ta gặp rất nhiều phiền toái. Tuy nhiên, nhờ kinh nghiệm của pháp hành, ta học được lối nhìn chúng nó thích ứng với Chân Lý. Chúng ta học cách xử dụng giác quan giống như mấy con gà sử dụng hột lúa. Chừng đó giác quan không còn là thù nghịch với ta nữa, và bao nhiêu vấn đề khó khăn đều tan biến.

Giờ phút nào mà chúng ta còn suy tư, quán xét, và hiểu biết lầm lạc thì những sự vật ấy còn là thù nghịch với ta. Nhưng khi ta bắt đầu quán xét chân chánh thì những gì kinh nghiệm sẽ đưa ta đến trí tuệ và hiểu biết chân chánh - giống như mấy con gà cuối cùng hiểu biết chân chánh. Theo đường lối nầy ta có thể nói rằng mấy con gà thực hành “thiền minh sát”. Chúng nó hiểu biết thích ứng với Chân Lý, đó là tuệ minh sát của chúng.

Trong pháp hành nầy lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, là những công cụ mà nếu sử dụng thích nghi, sẽ soi sáng Giáo Pháp cho chúng ta. Ðó là điều mà tất cả những ai hành thiền phải quán niệm. Nếu không nhận thức rõ ràng, chúng ta vẫn còn sống mãi trong tình trạng mâu thuẫn và xung đột"

Trích: Hai thực tại - Achanh Chahn

Thiền Giữa Đời Thường: Phương pháp Thiền Phật giáo nguyên thủy (Thiền Vipassana)