Thiền Giữa Đời Thường

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2018


 

Trái tim của thiền tập
    Sharon Salzberg

    Khóa tu đầu tiên của chúng tôi tổ chức đặc biệt cho gia đình, tại trung tâm Insight Meditation Society, được dành riêng cho các bậc cha mẹ của các thiền sinh. Ðem thiền tập giới thiệu đến với họ là một cách để giải trừ những lo âu của họ về cái mốt ưa chuộng kỳ lạ của con cái. Một thiền sinh, hiểu rõ về thái độ của mẹ mình khi đến học thiền, nói, "Má tôi là người đàn bà mà sẽ than phiền rằng 'Cái con chim khốn kiếp kia làm ra mất ngủ cả đêm'.". Mà thật, bà ta đã nói y như vậy sau đêm đầu tiên ngủ tại trung tâm! Nhưng đến cuối tuần thì cách lắng nghe của bà đã hoàn toàn thay đổi. Bà đã tập AIS được cách chỉ đơn giản lắng nghe thôi, buông bỏ hết những sự phê phán của mình về tiếng chim kêu trong đêm khuya.

    Có nhiều cách để nghe một âm thanh. Chúng ta có thể nghe một tiếng động nào đó rồi trở nên bực mình và phản ứng, cảm thấy khó chịu. Trong trường hợp âm thanh nào đối với ta là dễ chịu, ta sẽ muốn nó tiếp tục mãi. Còn với những âm thanh không dễ chịu cũng chẳng khó chịu, có lẽ ta chỉ nghe chúng có "nửa tai" thôi. Và ta cũng có thể trực tiếp lắng nghe một âm thanh, mà không phê phán, không thêm bớt - nó chỉ đơn giản là một tác động của thính giác - chừng ấy, cả một thế giới mới sẽ phơi bày trước mặt ta. Kinh nghiệm được mọi hiện tượng trong cuộc sống này bằng đường lối trực tiếp ấy chính là tinh túy của chánh niệm.

    Chánh niệm là một đặc tính của ý thức, có khả năng tiếp xúc trực tiếp với những kinh nghiệm của ta, đối diện chúng thẳng mặt, không để bị bóp méo hoặc làm sai trật bởi những tham muốn, sân hận và si mê. Thói quen tham muốn thường thúc đẩy ta cố gắng vô vọng, muốn làm sao để giữ cho những kinh nghiệm dễ chịu được tồn tại mãi.Thói quen sống theo tâm sân hận và sợ hãi khiến ta tránh né những kinh nghiệm đớn đau, như thể là ta có khả năng ngăn chặn chúng được vậy. Và thói quen sống theo sự si mê đã khiến ta trở nên thất niệm, xa rời giây phút hiện tại, khi những kinh nghiệm của ta không đặc biệt dễ chịu mà cũng không là khó chịu.

    Nếu chúng ta đi cộng lại hết những giây phút ta không thể kinh nghiệm sự sống của mình trọn vẹn, vì sự tham muốn và dính mắc khiến ta không thật sự có mặt, vì sự sân hận và ghét bỏ khiến ta xa cách, vì sự si mê khiến ta lạc lối, những giây phút ấy sẽ là một con số khổng lồ. Và những giây phút của chánh niệm, khi ta thật sự biết sống, chỉ là một con số rất nhỏ nhoi. Ðó là một lối sống vô cùng giới hạn và rất là tội nghiệp.

    Sống tỉnh thức trong giờ phút hiện tại với một sự quân bình, tĩnh lặng và hiểu biết, cho dù kinh nghiệm ta có là dễ chịu, khó chịu hoặc trung hòa, là một chuyện có thể được. Ðó là nhờ sức mạnh của chánh niệm. Chánh niệm là một ý thức thẳm thấu và sâu sắc, không hời hợt bề ngoài. Trong kinh điển, tính chất của chánh niệm được ví dụ như khi ta thảy một nút chai bằng bần xuống nước với lại thảy một hòn đá. Ý thức hời hợt bên ngoài cũng giống như chiếc nút chai sẽ nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Ngược lại, hòn đá sẽ chìm sâu thẳng xuống đáy nước.

    Một ví dụ khác cho tính chất của chánh niệm là hình dung đến việc gì xảy ra khi ta đổ nước vào một cái ly. Nước không nằm yên một chỗ mà nó tràn lan đi khắp nơi, làm đầy hết những khoảng trống trong ly. Cũng vậy, chánh niệm ôm trùm và tràn lan khắp nơi trên đối tượng của nó. Khi chúng ta có chánh niệm, ta bao trùm khắp kinh nghiệm của mình trong một ý thức trọn vẹn. Khi ta nghe một âm thanh, ý thức ta hòa nhập thẳm thấu vào cái nghe ấy.

    Khi ta có chánh niệm, khi ta có thể tiếp xúc trực tiếp với những gì đang xảy ra, thế giới này sẽ trở nên vô cùng sinh động. Thay vì nhìn sự vật qua những lăng kính của hy vọng và sợ hãi, ta có thể mặt với sự việc như chúng là.Với chánh niệm, chúng ta nhìn bằng con mắt quán chiếu, như các nhà tu Sufis thường nói, với "con mắt không bị mê mờ vì sự mong muốn".

    Thật ra, lối nhìn ấy cũng sống như khi chúng ta mới gặp mặt người lạ. Khi gặp một người nào lạ, ta thường có khuynh hướng đem người đó sắp vào một khuôn mẫu nào đã có sẵn trong ta. Ta không chịu nhìn và quan sát, mà tự phóng chiếu nên một ý tượng về người đó hoàn toàn dựa trên bề ngoài của họ. Dần dà, khi sự phóng chiếu của mình giảm bớt, ta bắt đầu chú ý rõ hơn và thấy xuyên qua được những chi tiết giả tạo bên ngoài ấy. Và từ đó, ta mới có thể tiếp xúc được gần gũi với con người thật sự của họ. Cũng vậy, chánh niệm sẽ giúp ta đến gần với thực tại sinh động của kinh nghiệm mình hơn.

    Chánh niệm có thể có mặt ở mọi nơi. Nó không bị giới hạn trong bất cứ một trường hợp đặc biệt nào. Bạn có thể nói, như mẹ của một thiền sinh, "Tôi không thể nào giữ chánh niệm được vì nó ồn quá!". Nhưng đó là một quan niệm rất sai lầm về chánh niệm. Chúng ta có thể có chánh niệm về sự yên lặng, và ta cũng có thể có chánh niệm về sự ồn ào. Chúng ta có thể có chánh niệm về ngay cả những âm thanh chói tai nhất ! Ta có thể có chánh niệm về bất cứ một việc gì nằm trong kinh nghiệm của mình. Chánh niệm là một đức tính của tâm thức mà nó có thể bao gồm và tàng chứa hết tất cả.

    Một đặc tính của chánh niệm là nó không hề bị đối tượng của nó ảnh hưởng. Có nghĩa là ta có thể có chánh niệm về niềm vui trong giây phút này, nỗi buồn trong giây phút kế, và rồi tiếp đến là chán chường chẳng hạn, tự tính của chánh niệm vẫn không hề thay đổi. Cho dù đối tượng của nó là bất cứ một việc gì, tự tính của chánh niệm bao giờ cũng rộng lớn, cởi mở và tự do.

    Sự tu tập chánh niệm cũng giống như ta đang đi trên một hành trình hoặc là đang khám phá một bí mật lớn vậy. Trong cuộc sống hằng ngày, sẽ có biết bao nhiêu lần ta bị rơi vào thất niệm, phản ứng theo thói quen hoặc tách rời với giây phút hiện tại. Nhưng một khi ý thức được điều ấy, ta chỉ cần bắt đầu lại là đủ. Thật ra, ngay khi ta vừa ý thức được mình đánh mất chánh niệm, là ta đã tìm lại được nó rồi, vì sự nhận diện ấy tự chính nó là một chức năng của chánh niệm.

    Mỗi khi chúng ta tiếp tục bắt đầu lại là mỗi lần năng lực của chánh niệm sẽ hiển bày. Sự thực tập kết quả trái ngay trong mỗi giây phút hiện tại, cũng như trong những giây phút tương lai. Chánh niệm không phải là một cái gì mơ hồ, viễn vông hoặc xa vời, nó sống dậy trong mỗi giây phút ta lại bắt đầu, và bắt đầu lại. Và đó chính là trái tim của thiền tập./.

    Nguyễn Duy Nhiên chuyển dịch
    (Trích "Trái Tim Thiền Tập", Sharon Salzberg)

   

   

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2018





Vài năm trước đây có mấy câu chuyện gièm pha các sư Thái đăng trên báo chí nước ngoài. Theo giới luật tăng ni phải độc thân, tông phái tôi còn gắt gao hơn, tăng ni không được đụng chạm người khác phái. Một số tăng không giữ đúng giới luật nên bị chỉ trích trên báo. Đó là một số sư bất hảo mà báo chí muốn khai thác để thỏa mãn tính hiếu kỳ của một số độc giả, chớ còn chư tăng ni giữ đúng giới luật thì có gì mà nói – chán phèo nên có ai thèm để ý.

Vào thời điểm đó tôi nghĩ là lúc tôi nên nói một sự thật của tôi. Một tối thứ sáu nọ tôi lấy hết bình sinh thú thật với thính chúng trên ba trăm Phật tử rằng: “Tôi có điều muốn thưa với quý tín chủ”, tôi bắt đầu và ấp úng tiếp “Trước đây tôi có sống một thời gian rất hạnh phúc trong…vòng tay..thương yêu…của một người đàn bà..vợ người ta”. Tôi thú nhận tiếp “tôi có được ôm ấp, nâng niu, vuốt và và hôn hít nhiều lần”. Nói tới đây tôi làm như nghẹn lời, tôi cúi đầu và đăm đăm nhìn xuống thảm.

Bấy giờ tôi nghe tiếng nấc vì sốc của nhiều Phật tử. Và cả tiếng xì xầm nữa, “Ồ, sư Brahm, có thể như vậy sao?” Tôi hình dung sẽ có nhiều đệ tử trung thành của tôi bỏ tôi bước ra cửa không bao giờ trở lại. Thật tình mà nói, cả người thường cũng không được phép dan díu với vợ người – đó là thông gian rồi.

Giây phút sau tôi ngẩng đầu, nhìn thính chúng một cách tự tin và mỉm cười. Tôi giả thích trước khi có người bước ra khỏi cửa: “Người đàn bà ấy là mẹ tôi, và tôi là đứa con nhỏ của bà”. Tất cả thở phào và rộ lên cười vui vẻ..

“Đúng như vậy đó, thưa các bạn”, tôi nói lớn trong micro “bà là vợ của ba tôi, có đúng không các bạn?” Tôi rống tiếp, “bà đã ẵm bồng tôi trong tay, nâng niu tôi, hôn tôi và đó dĩ nhiên là những giây phút thần tiên của tôi chứ sao nữa?”

Lúc thính chúng lau hết nước mắt và trở về tĩnh lặng, tôi bảo tất cả đã phê phán tôi một cách hết sức sai lầm. Dầu nghe chính miệng tôi thốt lên và lời tôi nói rõ ràng, tất cẩ đều đã đi đến kết luận sai lầm. May cho tôi, hay đúng ra nhờ tôi đã chuẩn bị chu đáo trước, tôi có thể chỉ cho họ thấy sai lầm của họ. Tôi hỏi: “Có bao nhiêu lần rồi, chúng ta đã vội đi đến kết luận sai, rất sai dầu tang chứng có hiển nhiên?” Độc đoán phê phán "Đây mới đúng, còn tất cả đều sai” - không phải trí tuệ vậy.

Ajahn Brahm


Chúng ta nói những thứ này là là các đối tượng có sức mạnh, nhưng chỉ đơn giản rằng tâm của chúng ta yếu. Giống như thầy của tôi, ngài Ajahn Chah, thường nói. Ngài thường chỉ một tảng đá và nói: "Tảng đá đó có nặng không?" Tất nhiên, mọi người sẽ nói, "Đó là một tảng đá lớn, con nghĩ chắc chắn nó phải nặng." Và ngài nói, "Chỉ khi nào các ông cố gắng để nhấc nó lên. Tôi không thấy nặng chút nào hết.” Vậy thì sức nặng của tảng đá nằm ở đâu? Nó chỉ nặng đối với những người dở nó lên và khiêng đi. Như vậy tất nhiên, nó nặng.

Đâu là sức mạnh của món đồ đó, sức mạnh của tình huống, sức mạnh của điều kiện? Sức mạnh chỉ có khi tâm bám níu và  mang chúng đi theo với nó, bị cuốn hút vào trong đó và phản ứng. Sức mạnh đến từ tâm, không phải đến từ đối tượng. 

Đây là nói trong ý nghĩa thực tại rốt ráo. Tôi không bỏ qua thực tế rằng chúng ta nên sửa đổi các điều kiện xung quanh chúng ta và rằng  quan trọng là cố gắng  và tạo các điều kiện tốt cho cuộc sống. Đó cũng là điều quan trọng, và thậm chí ngay cả trên con đường tâm linh này, chúng ta nhấn mạnh nhiều đến các điều kiện phù hợp, hành vi đúng đắn và v.v…; nhưng tối nay tôi đang chỉ đến cội nguồn (đau khổ) của mọi sự, và rốt cục  phải quay trở lại với vấn đề này.

Nếu tôi có thể , tôi sẽ đưa  các quảng cáo khác lên truyền hình. Tôi muốn có những quảng cáo tạo ra sự an tịnh với những người sống đơn giản, nói năng dễ thương,  thực hành thiền, và cảm thấy mãn nguyện... và sẽ có ai đó sẽ nói, "Mình đã có đủ, mình thực sự không cần gì thêm. Hãy tự làm cho mình bình an; mình không cần một chiếc xe hơi mới, mình không cần phải say xỉn, mình không cần phải hút thuốc, mình không cần phải làm  tất cả những điều này. Hãy tận hưởng cuộc sống, hãy bình yên, mình đã có đủ "Ừm, biết đâu được, việc gì cũng có thể xảy ra.

Tối nay tôi không quan tâm nhiều đến việc đó đó, mà quan tâm đến cái ý tưởng làm sao có thể đến được cội nguồn của mọi sự nhiều hơn. Tâm trí chúng ta là nơi mà sự nô lệ tột cùng bắt đầu và kết thúc. Đây là nơi chúng ta có sự lựa chọn cuối cùng. Chúng ta không thể kiểm soát tất cả các điều kiện bên ngoài, đó là điều không thể. Như tôi đã nói, ngay cả những bậc  giác ngộ có thể bị bỏ tù, bị làm cho tàn phế  và bị hạn chế bởi các điều kiện bên ngoài. Họ không thể kiểm soát tất cả mọi thứ, nhưng họ có thể kiểm soát được tâm, đó là một vấn đề khác.

Bên trong chúng ta, có một sự lựa chọn, nhưng rất ít người có thể đòi cái quyền đó và thực hiện sự lựa chọn đó. Nó đòi hỏi phải có sự huấn luyện, và chỉ khi nào sự huấn luyện viên mãn thì người ta mới có được sự tự do tột bực.

Tuy nhiên, chỉ cần bắt đầu sự huấn luyện là bước một bước tiến tới sự tự do. Giai đoạn đầu tiên là quay vào bên trong, để nhìn và thấy những gì đang xảy ra trong tâm. Hãy bắt đầu nhận thấy các sinh hoạt  của tâm, để có thể thấy sự khác biệt giữa một cái tâm an bình, tĩnh lặng và một cái tâm xao động, ồn ào. Từ cái mốc –  một cái tâm an bình, tĩnh lặng - để lấy làm cơ sở so sánh đó, chúng ta sẽ có một quan kiến rõ ràng về sự vận hành của tâm. Nếu chúng ta chỉ trải nghiệm tiếng ồn và những sinh hoạt bên ngoài chung  quanh ta, chúng ta sẽ không có quan kiến, và nếu  không có quan kiến, chúng ta không cách nào hiểu được tình huống  hoặc kiểm soát được nó.

Chúng ta phát triển quan kiến này như thế nào? Học cách để trở nên an tịnh, học để trở nên tĩnh lặng, học cách lắng nghe những  tiếng ồn ào, lao xao bên trong tâm, quan sát quá trình tư duy, suy nghĩ. Cái làm công việc quan sát đó là gì?  Phẩm chất của nó rất quý giá. Chức năng của phẩm chất đó đơn giản là biết. Nó khác với ý thức bình thường, bởi vì ý thức bình thường  có thể có hoặc không có cái phẩm chất này.  Bạn có thể biết suốt ngày ngoại trừ những lúc bạn chợp mắt, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn tỉnh táo hoặc có ý thức theo nghĩa là có sự lắng nghe vào bên trong, quan sát bên trong. Rất hiếm người kinh nghiệm được cái phẩm chất này. 

Đó là bởi vì chúng ta đã không phát triển cái khả năng này, rằng chúng ta đang làm nô lệ, rằng chúng ta đang phục tùng dưới sức mạnh  của thói quen và bản năng của  chính chúng ta, và rằng chúng ta có thể bị thao túng bởi các tình huống và những người xung quanh chúng ta. Tình cảm, ý nghĩ của chúng ta  vì lẽ đó rất dễ đoán được.

Hãy xem xét phẩm chất  này: Bạn đang suy nghĩ gì? Khả năng lắng nghe , khả năng biết  những gì đang hiện hữu trong tâm gì tại thời điểm này,  được gọi là nhận thức, hay chánh niệm. Chính qua phẩm chất  này mà chúng ta có thể nhận biết những gì đang xảy ra trong tâm và có được một quan kiến về quá trình tư duy. Chúng ta có thể thấy ham muốn và dục vọng sinh khởi và chúng ta có thể thấy hậu quả của chúng. Chúng ta có thể  thấy và quán chiếu bản chất của sự sân hận, nó đến như thế nào, nó đến từ đâu và hậu quả của nó. Chúng ta có thể phản tỉnh về bản chất của cảm xúc. Cảm xúc không phải là thứ gì quá bí ẩn, chúng ta có thể hiểu rõ chúng. Chúng đơn giản chỉ là những cơ cấu của tâm thức. Chúng không khác biệt lắm so với tiến trình suy nghĩ, tư duy bởi vì cảm xúc trong thực tế là  kết quả của một quá trình suy nghĩ và cảm nhận.

Nếu chúng ta có thể đầu tư một ít sự quan tâm và năng lượng vào việc thiết lập và duy trì phẩm chất  của sự nhận thức này trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta sẽ học được rất nhiều điều về tâm  và về những gì xảy ra với chúng ta. Chúng ta sẽ biết cách làm thế nào để không trở thành nô lệ cho  sức mạnh của những trạng thái tâm này và tiến trình tư duy này  và bởi các điều kiện bên ngoài, bởi vì khi tâm chúng ta tỉnh táo, chúng ta có thể lựa chọn. Chúng ta có thể chọn để suy nghĩ hay không suy nghĩ. Chúng ta có thể chọn để  theo đuổi một chuỗi suy nghĩ đặc biệt  nào đó hay từ chối làm như vậy. 

Nó đòi hỏi chánh niệm, tỉnh giác và kỷ luật về mặt tinh thần mà chúng ta gọi là sự tập trung (định). Đây là chính xác những gì chúng ta phát triển qua thiền tập. Nhưng không nhất thiết bạn phải hành thiền trong  nhiều năm trước khi có thể trải nghiệm được điều này. Bạn có thể trải nghiệm nó ngay bây giờ và mỗi ngày. Những gì đòi hỏi bạn phải có là khả năng tập trung và sự tỉnh giác, dù chỉ trong một khoảnh khắc.

Tiếp đến là vấn đề về các giá trị. Những gì là quan trọng đối với bạn? Nếu chúng ta cảm thấy rằng tự do hay sự an bình là điều quan trọng nhất, chúng ta sẽ chọn lựa không cho phép mình chìm vào các trạng thái giận dữ, ham muốn và nhầm lẫn. Đây có phải là sự ép buộc không? Không, nó chỉ là một sự lựa chọn, cũng giống như bạn chọn đến đây tối nay.  Bạn thực hiện một sự lựa chọn. Luôn luôn có một sự lựa chọn. Cũng giống như quyết định đi theo một hướng cụ thể nào đó, bạn đi theo con đường đó, bạn thực hiện một sự lựa chọn. Nếu sự lựa chọn bị ảnh hưởng bởi sự sợ hãi và sự thiếu hiểu biết, thì đó là một sự lựa chọn không khôn khéo. Một sự lựa chọn khéo léo đến từ sự hiểu biết .
Nếu bạn muốn được tự do, bạn phải mạnh mẽ. Bạn phải có  năng lực tinh thần hướng đến sự tự do. Sức mạnh tinh thần này chính là sự huân tập hai phẩm chất  biết (chánh niệm) và sự tập trung (định), đó là hai phẩm chất đặc biệt quan trọng cần cho mọi loại tình huống xảy ra cho cuộc sống chúng ta ngày hôm nay. Trong hai phẩm chất, chánh niệm thì quan trọng hơn. Bạn có thể trau dồi chánh niệm trong cuộc sống hàng ngày của bạn, bạn có thể đưa phẩm chất  biết này vào tâm. Tất cả những gì bạn cần phải làm là nhớ luôn có sự tỉnh giác và biết điều gì đang xảy ra trong hiện tại. Trong lúc này, bạn đang trải nghiệm những gì?    Bạn đang suy nghĩ gì 

Những gì gây trở cho việc thực hành chánh niệm này? Quên là chủ yếu, tâm chạy  theo nếp phản ứng và tạo tác một cách bản năng và máy móc. Đây là một lực vô cùng mạnh, nó không phải là thứ có thể khắc phục một cách dễ dàng. Việc này đòi hỏi rất nhiều sự trung thực. Nếu bạn muốn có sự tự do về mặt tinh thần, bạn sẽ phải đầu tư năng lượng và có sự quan tâm để làm việc đó. Bạn phải phấn đấu để thực sự nhận ra cái khả năng  đó bởi sự tỉnh giác ngay trong khoảnh khắc hiện tại, qua những gì bạn đang làm.

Đây là một số thí dụ minh họa cho những gì tôi muốn nói:

Ngay lúc này  trời đang nóng. Không phải là  nóng  quá đỗi, nhưng hãy tưởng tượng rằng thực sự rất nóng và bạn đang bắt đầu đổ mồ hôi và cảm thấy khó chịu. Điều gì sẽ xảy ra với bạn? Bạn có thể nói rằng cơ thể đang nóng và ra mồ hôi, vâng, nhưng điều gì khác sẽ xảy ra? Tâm bắt đầu phản ứng "Tôi không muốn điều này. Thật là khủng khiếp Tôi muốn ra khỏi đây. Hãy để tôi ra khỏi đây. Tại sao không có máy điều hòa không khí? Thật là hết thuốc chữa ... Tôi không biết, những Phật tử này, họ không thể tổ chức khóa tu tốt hơn được sao? Tại sao họ không gắnmột cái máy lạnh ở đây? " Tâm của bạn thực sự có thể đi xuống thị trấn. Trong khi đó tôi đang nói và tâm bạn thì là một nửa ở đây và một nửa ở kia, suy nghĩ, suy nghĩ, suy nghĩ, với sự bực bội , với sự chán ghét, với sự thiếu kham nhẫn, nhẫn nại...

Đó là những gì có thể xảy ra nhưng thường thì bạn không biết  nó đang xảy ra. Nói cách khác bạn đang ở trong nó, đồng hóa với nó, chết đuối trong nó, nhưng bạn không biết rằng bạn đang chết đuối trong đó. Đây là vấn đề đầu tiên, bạn không biết rằng bạn đang chết đuối. Đó là lý do tại sao bạn bị chết đuối thường xuyên - bởi vì bạn không biết bạn đang chết đuối. Cá ở trong nước, nhưng nó không có khái niệm gì về nước. Có phải đây là những gì đang xảy ra? Chúng ta đang trải nghiệm một trạng thái tinh thần bực bội, thiếu kiên nhẫn hoặc chán ghét, nhưng chúng ta không biết ... Thật  là đau khổ.

Nhưng sau đó một lúc bạn tỉnh ra: "Tôi thực sự thấy nóng ở dưới cổ áo - không chỉ thân nóng thôi đâu,  mà còn cái nóng do tức giận, mất kiên nhẫn và khó chịu."Sau đó là gì nữa? Thông thường, bạn lại tiếp tục rơi trở lại vào  trạng thái chết đuối. Điều gì xảy ra nếu bạn có thể duy trì sự hay biết đó với một thái độ khác? Tâm có cần phải ở trong các trạng thái tiêu cực đó không?  Nếu thân nóng bức tâm có cần phải nóng nảy, bực bội như vậy không?  Vậy hãy ngừng lại! Thân nóng, đổ mồ hôi – chúng ta gọi đây cảm thọ khó chịu, nhưng vẫn chịu đựng được mà. Hãy ngưng cái tiến  trình  tiêu cực đó trong tâm: Những suy nghĩ tiêu cực, sự khó chịu, bực bội và mất kiên nhẫn. Nếu bạn ngưng tiến trình đó, tâm sẽ trở nên an tịnh và yên lặng. Có thể có những khó chịu trong thân nhưng tâm thì vẫn thanh tịnh. 

Tâm thậm chí, nếu bạn muốn, có thể  điều chỉnh để phản ứng  theo một hướng khác: "Ồ,  thật là đáng yêu, những Phật tử  thật tử tế này đã tổ chức một  khóa tu như thế để  quán chiếu các đề tài quan trọng và sâu sắc này. Thật là tuyệt vời khi có những người tốt như vậy trong xã hội của chúng ta. "Bạn cảm nhận lòng tốt, tinh thần đoàn kế, lòng biết ơn; bạn thậm chí còn có thể được đưa từ địa ngục lên thiên đàng.

Hoặc bạn có thể dừng lại và để cho tâm trống rỗng, tỉnh táo và an tịnh. Một trạng thái tâm như vậy sẽ không tạo ra địa ngục hoặc thiên đường, nhưng nó tỉnh giác, nhạy cảm, và an tịnh. Nếu bạn có thể giữ trạng thái tâm đó khi quan sát một đối tượng thì bạn có thể áp dụng nó với mọi đối tượng khác. Bạn làm được bao nhiêu, nhiều ít tùy thuộc vào mức độ bạn huấn luyện tâm của bạn, tùy thuộc vào mức độ tỉnh giác, trí tuệ và định tâm mà bạn  huân tập được.
Kinh nghiệm đầu tiên của tôi về điều này là khi tôi đã  làm  một nhà sư đã được một năm rưỡi. Khi ấy tôi đang sống trong một tu viện ở đông bắc Thái Lan . Đó là một tu viện nhỏ chi nhánh của  tu viện chính nơi thầy  của tôi, người mà tôi yêu thương và kính trọng, đang sống. Tôi có sự tín nhiệm và niềm tin nơi vị thầy này,  nhưng tôi không đánh giá cao vị thầy tại  tu viện chi nhánh , và các vị sư ở đây  dường như chẳng  quan tâm gì đến việc hành thiền. Tôi cảm thấy bị bỏ rơi, và tôi thực sự chẳng thấy mình phù hợp với những gì đang diễn ra trong tu viện.  Nó giống như một trại lao động. Có rất nhiều công việc tay chân phải làm mà tâm tôi quyết liệt chống đối . Tôi không trở thành một nhà sư để mà lao động. Nếu tôi muốn trở thành một người lao động tôi chỉ có thể quay trở lại Úc và làm việc. Công việc lao động  không phải là những gì tôi thấy mình cần phải làm. Tuy nhiên, vì đây là một tu viện mới nên có rất nhiều việc phải làm - một thực tế mà tôi đã không thích.

Rồi thầy  của tôi đã đến thăm và tôi  quá đỗi vui mừng khi đến gặp người . Tôi nghĩ rằng tôi sẽ nhận được một số sự khuyến khích từ người. Nhưng khi thầy tôi vừa đến,  dân địa phương tới gặp ngài và tôi thậm chí không thể tới gần ngài. Ngài phải  nói chuyện với họ cũng là lẽ tự nhiên. Ngài nói và nói , giờ này sang giờ khác, và lúc đó chúng tôi  ngồi ở một nơi giống như một nhà hát ngoài trời, không có tường, chỉ có mái lợp bằng thiếc và sàn bằng ván  ghép lại.

Chúng tôi đang ngồi trên sàn bằng ván không được bằng phẳng. Thầy của tôi thuyết giảng vượt  qua thời gian dự kiến - cũng giống như tôi, thuyết giảng  và thuyết giảng cho các cư sĩ -  những người rất thích được nghe Pháp. Họ quá thích thú đến nỗi họ quên  mất các tu sĩ khác đang ngồi ở đó. Chúng tôi chỉ ăn một bữa mỗi ngày, vào buổi sáng khoảng 8 giờ. Hôm đó, chúng tôi thức dậy vào lúc 3 giờ sáng, và chúng tôi đã lên ngồi trên đó suốt cả ngày, vì vậy ngồi trên sàn bằng ván đến gần 10g tối thật là  khó chịu hết sức. Lại còn đám muỗi nữa. Muỗi  liên tục chích và bạn không được phép  giết chúng; bạn có thể phủi để chúng bay  đi nhưng bạn không được phép  giết chúng. Chúng tôi đói, mệt mỏi và buồn ngủ và tôi chỉ cảm thấy chán ngấy với toàn bộ mọi thứ.
Qua vài giờ, tâm của tôi trở nên hết sức tức giận , hết sức tiêu cực, hết sức thất vọng và hết sức đau khổ , với quá nhiều các  suy nghĩ rối bời về những gì tôi muốn - tôi muốn quay trở về và ngủ, tôi chán ngấy và đói ... "  Ít ra họ phải cho mình thứ gì đó để uống, nước giải khát hoặc một cái gì đó ...   đuổi những con  muỗi này đi ...  cái đau ở chân của mình... tại sao thầy phải nói chuyện lâu như vậy? ... những người này, tại sao họ không về nhà và để yên cho các nhà sư?" Tâm của tôi như vỡ ra.

Các nhà sư có bổn phận phải ngồi đó và không được thể hiện bất kỳ thái độ bất thiện nào, chỉ ngồi đó và chịu đựng. Bạn có thể mỉm cười, nhưng bạn không được phép  thể hiện bất kỳ sự tức giận nào . Bởi vì tất cả những điều đó đang diễn trong tâm không được thể hiện ra ngoài nên chúng sôi lên trong tôi.  Không có lối thoát , tôi bị mắc kẹt trong đó . Mọi sự  trở nên tồi tệ đến mức dường như muốn trào cả ra ngoài, bỗng  tâm  của tôi chợt bừng lên một sự nhận thức  sáng chói: "Chuyện gì đang xảy ra ở đây vậy? " Mọi việc chẳng qua là do tôi đã chết đuối trong một trạng thái tâm, không nhận thức những gì đã xảy ra. Tôi chỉ đơn giản là bị chết đuối, và sau đó là tiến tới một sự nhận thức rõ ràng: "Tôi đang chết đuối! Chuyện gì đang  gì xảy ra ở đây? Đây là một sự đau khổ".

Và rồi tôi  suy nghĩ , " Vâng, tại sao mình lại đau khổ quá như vậy? " Tôi nhìn  lại những gì đã diễn ra, cái tâm không ngừng lải nhải,  sự chán ghét: Không muốn cái này, muốn cái kia, mong muốn thoát ra khỏi tình huống, muốn đi ngủ, muốn ở một mình, muốn tránh xa những người này, cái  đau này , đám muỗi kia - tâm đã ở  trong tình trạng hỗn loạn như vậy đấy. Nhìn lại, tôi nhận rõ ra rằng, " Ồ, đây là khổ, đây là cách nó  được tạo ra , đây là cách tôi tạo ra địa ngục. Chuyện gì xảy ra nếu tôi  ngừng cái muốn và không muốn lại? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi  giữ im lặng và ngồi yên?”

Tôi đã trải qua những điều khác nhau mà tôi muốn: Tôi có thể làm mà không có chúng. Những điều mà tôi không muốn : Tôi có thể chịu đựng chúng, chúng  không phải là xấu. Bằng cách chấp nhận sự vật như chúng thực là, rằng tôi không thể thay đổi chúng, tôi dừng lại các phản ứng ám ảnh  tâm của tôi, những phản ứng đã tạo ra tất cả mọi thứ đau khổ.

Chỉ  bằng cách cho phép tâm lắng đọng,  quay về gần với trạng thái chơn nguyên của nó hơn, là đã có sự bình an. Trong tình huống đó,  không có gì thay đổi bên ngoài, nhưng bên trong,  kinh nghiệm là một sự thay đổi từ sự nóng nảy sang tươi mát. Cũng giống như một bước đi trong cái nóng hầm hập  vào giữa trưa  - 49 độ , thật là khủng khiếp - sau đó bạn đi vào bóng râm, vào thiền đường, không khí mát mẻ và yên bình. Đó chính là sự khác biệt xảy ra trong tâm .

Đây là một bài học rất quan trọng. Đây là những gì chúng ta cần phải học hỏi, trải nghiệm và sống trong suốt cuộc đời của chúng ta. Chúng ta có thể làm rất nhiều điều để thay đổi và cải thiện thế giới bên ngoài , nhưng chúng ta  không bao giờ có thể kiểm soát nó hoàn toàn. Chúng ta phải chịu trách nhiệm về tâm của chúng ta để được trở nên tự do, bằng không những kinh nghiệm của cuộc sống sẽ luôn luôn làm tâm trở nên rối rắm, phức tạp, tạo ra thiên đường và địa ngục. Chúng ta  tạo ra nó, vì vậy chúng ta có thể dừng nó lại. Tâm trí có sức mạnh để ở trong trạng thái tự do  nếu chúng ta phát triển được sự nhận thức này, sự hiểu biết về Chánh kiến, và biết được các giá trị nào là đúng. An bình và tự do là những gì quan trọng nhất.

Xin đừng nghĩ rằng bằng cách sống an bình bạn sẽ trở thành vô trách nhiệm và buông xuôi , để mặc cho mọi thứ ra sao thì sao. Ngược lại, khi tâm có sự an bình và trong sáng, khi tâm được tự do để đáp ứng, bạn sẽ ở trong tình trạng tốt nhất. Những gì bạn quyết định làm sẽ đến từ nơi an bình và trí tuệ đó. Nó sẽ cái tốt nhất của bạn, bạn sẽ đối phó với các tình huống một cách  trôi chảy, bạn sẽ làm những gì cần phải làm  và bạn sẽ làm điều đó một cách đúng đắn nhất.

Tôi đưa vấn đề  này ra để các bạn xem xét. Đây là một sự lựa chọn mà bạn có thể thấy  quan tâm. Nếu bạn có sự quan tâm, tôi khuyến khích bạn làm theo nó. Có một con đường và bạn có thể đi trên con đường đó. Có nhiều cách huấn luyện  và bạn có thể chọn sự huấn luyện đó. Có những thành quả của sự huấn luyện và mỗi con người có thể thực hiện được những thành quả này.


Theo: True Freedom

Chuyển ngữ: Supañña Thiện Trí

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

"
Ta thử quan sát con nhện. Nhện giăng tơ, làm thành một màng lưới, rồi ngồi lại ở giữa, im lìm, bất động. Sau đó, một con ruồi bay đến, đáp lên, và mắc vào lưới nhện. Vừa khi ruồi đụng đến và làm rung chuyển lưới thì “phụp!” nhện phóng nhanh tới và quấn chặt. Ruồi bị giữ lại đó. Nhện quay về trung tâm màng lưới, thâu mình vào, im lặng. Quan sát một con nhện như vậy có thể khai triển trí tuệ. Hệ thống giác quan của ta có cái tâm ở giữa và mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý bao quanh. Khi một giác quan bị khơi động, thí dụ như có hình thể tiếp xúc với mắt, thì nó rung động và chạy đến tâm. Tâm là cái gì hay biết — ở đây là biết hình thể. Chỉ bấy nhiêu cũng đủ làm cho trí tuệ phát sanh. Giản dị như vậy!
 Giống như con nhện trên màng lưới của nó, ta phải giữ mình, thu thúc lục căn. Vừa khi nhện hay biết có ruồi chạm vào lưới, tức thì nó nhanh chóng phóng tới chụp và quấn chặt, rồi quay về trung tâm trở lại. Không có gì khác biệt với tâm ta. “Nhập vào trung tâm” có nghĩa là sống với Chánh Niệm, ghi nhận và hay biết rõ ràng, luôn luôn giác tỉnh, làm tất cả mọi việc một cách thỏa đáng và chính xác — đó là trung tâm của chúng ta. Thật sự không phải làm gì nhiều, chỉ thận trọng sống như vậy. Nhưng nói thế không có nghĩa là chúng ta sống buông lung, không chuyên cần, nghĩ rằng, “không cần thiền tọa hoặc thiền hành”, hay quên đi, gác qua một bên pháp hành. Chúng ta không thể bất cẩn. Phải thận trọng, luôn luôn giác tỉnh, y như con nhện đứng rình để chụp ruồi làm vật thực.
 Ðó là tất cả những gì ta cần phải biết: ngồi lại và suy niệm về con nhện. Chỉ làm thế thôi, trí tuệ có thể tự nhiên phát hiện. Tâm ta giống như con nhện. Những cảm tưởng giống như ruồi, muỗi và những loại côn trùng khác nhau. Tất cả chỉ có bấy nhiêu! Giác quan bao trùm và luôn luôn khơi động tâm. Khi một giác quan tiếp xúc với đối tượng, nó lập tức chạy đến tâm. Tâm quán chiếu, suy xét tận tường rồi nhập trở lại vào trung tâm. Ta sống an trú như vậy — giác tỉnh, hành động chính xác và luôn luôn giữ chánh niệm, hay biết với trí tuệ. Chỉ bấy nhiêu, và pháp hành của ta hoàn thành viên mãn.
 Ðiểm nầy rất quan trọng. Chúng ta không nhất thiết phải ngồi thiền suốt ngày suốt đêm, hay là phải đi kinh hành suốt đêm suốt ngày. Nếu quan niệm pháp hành là vậy ta thật sự tạo khó khăn cho mình. Phải làm điều nào mà mình có thể làm được, lượng sức dẻo dai và năng lực của mình và xử dụng khả năng của cơ thể trong mức độ thích nghi.
 Ðiều rất quan trọng là hiểu biết cái tâm và các giác quan. Thấu hiểu nó đến như thế nào và thấu hiểu nó đi như thế nào. Khởi sanh như thế nào và hoại diệt như thế nào. Hãy thấu hiểu tận tường. Trong ngôn ngữ của Giáo Pháp ta có thể nói rằng giống y như lưới nhện bao bắt ruồi muỗi và những loại côn trùng khác nhau, tâm cột trói giác quan bằng Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. Rồi những giác quan ấy đi về đâu? Ta giữ nó lại để làm vật thực, tồn trữ nó vào kho để làm chất liệu dinh dưỡng — chất liệu để quán niệm nhằm nuôi dưỡng trí tuệ. Ðó là chất dinh dưỡng đối với người hay biết và thấu hiểu.
 Biết rằng những sự vật ấy là vô thường, dính liền với đau khổ và không có gì gọi là “ta” thì phải là điên cuồng ta mới chạy theo chúng! Nếu không nhận thức rõ ràng như vậy ắt ta phải đau khổ. Khi đãquan sát tận tường và thấy rằng những sự vật ấy quả thật là vô thường thì dầu nó có vẻ như đáng cho ta chạy theo, thật sự nó không đáng. Tại sao ta muốn làm gì trong khi bản chất của nó là đau đớn và sầu khổ? Nó không phải của ta, không có thực chất, không có gì thuộc về của ta. Như vậy tại sao ta chạy theo tìm nó làm gì? Tất cả mọi vấn đề khó khăn đều chấm dứt nơi đây. Còn đâu khác để ta chấm dứt nó?
 Chỉ nhìn rõ con nhện và quay cái nhìn vào bên trong mình, hướng cái nhìn trở lại vào trong. Ta sẽ thấy rằng hai hình ảnh đều giống nhau y hệt. Khi cái tâm đã thấy Vô Thường, Khổ, Vô Ngã thì nó buông bỏ tất cả và tự phóng thích. Nó không còn bám níu vào đau khổ hay hạnh phúc. Ðó là chất liệu dinh dưỡng cho tâm linh người có pháp hành, người thật sự đã tự rèn luyện. Tất cả chỉ có bấy nhiêu, thật giản dị! Ta không cần chạy tìm nơi nào khác. Như vậy bất luận việc gì mà ta đang làm, đặt tâm ở ngay tại đó. Không cần phải rầm rộ và phiền nhiễu. Làm như vậy đà tinh tấn và năng lực của pháp hành sẽ tiếp tục tăng cường và trở nên thuần thục
"Trích: Hai thực tại - Achanh Chahn

---
Thiền Giữa Đời Thường: Phương pháp Thiền Phật giáo nguyên thủy (Thiền Vipassana)

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2018





Một Ông Sư phát hiện con bọ cạp đang chơi vơi trong nước. Ông quyết định đưa tay ra cứu nó nhưng chính con bọ cạp đó lại cắn ông. Ông vẫn cố gắng cứu con bọ cạp ra khỏi nước và lại bị đốt. Một người khuyên ông không nên cứu nó nữa vì nó liên tục đốt ông. Ông Sư trả lời :”Bản năng tự nhiên của bọ cạp là chích, bản năng tự nhiên của tôi là yêu thương. Vậy tại sao tôi phải từ bỏ bản năng yêu thương của mình chỉ vì bản tính của con bọ cạp ? Xin đừng từ bỏ tin yêu, đừng đánh mất lòng tốt và sự hào hiệp của mình ngay cả khi những người xung quanh có làm cho mình đau ."

Nguồn: http://coinguonhanhphuc.blogspot.com.au/

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2018





Tùy duyên là hoan hỷ chấp nhận những gì xảy ra trong hiện tại, ngưng đối kháng và bình thản chờ đợi nhân duyên thích hợp hội tụ. Nhiều khi chính thái độ ngưng đối kháng và bình thản chờ đợi ấy lại là nhân duyên quan trọng để kết nối với những nhân duyên tốt đẹp khác. Ta đừng quên khi một việc được thành tựu thì phải hội tụ hàng triệu nhân duyên, nếu chỉ thiếu một duyên thì nó cũng có thể không tựu thành. Nếu ta có hiểu biết sâu sắc hay từng trải nghiệm thì trong vài trường hợp ta có thể đoán biết được mình nên làm gì và không nên làm gì để cho nhân duyên tốt hội tụ đầy đủ trở lại và nhân duyên xấu sớm tan biến đi.

Ta thường gọi nhân duyên tốt là thuận duyên, và nhân duyên xấu là nghịch duyên, tức là những điều kiện có lợi và bất lợi cho ta. Có những duyên thuận với ta, nhưng nghịch với kẻ khác và ngược lại. Đó chỉ là nói trong phạm vi con người, trong khi nhân duyên luôn xảy ra với vạn vật trong khắp vũ trụ. Bản chất của nhân duyên thì không có thuận nghịch, tốt xấu. Nó chỉ hội tụ hay tan rã theo sự thích ứng giữa các tần số năng lượng phát ra từ mọi cá thể mà thôi. Ấy vậy mà thói quen của hầu hết chúng ta khi đón nhận thuận duyên thì luôn cảm thấy sung sướng và rất muốn duy trì mãi nhân duyên ấy, cón khi gặp phải nghịch duyên thì luôn cảm thấy khó chịu và tìm cách tránh né hay loại trừ.

Nhưng chưa hẳn thuận duyên sẽ đem lại giá trị hạnh phúc hay nghịch duyên sẽ mang tới khổ đau, bởi có khi nghịch duyên đưa tới sự trưởng thành, còn thuận duyên sẽ khiến ta yếu đuối. Và nhiều khi thuận duyên ban đầu nhưng lại biến thành nghịch duyên sau này, có khi nghịch duyên bây giờ nhưng lại biến thành thuận duyên trong tương lai. Tất cả đều tùy thuộc vào bản lĩnh và thái độ sống của ta.

Do đó, ta không cần phải khẩn trương thay đổi những nhân duyên mà mình không hài lòng, hay cố gắng tìm kiếm những nhân duyên mà mình mong đợi. Khi tâm ta đã vững chãi đủ để tạo ra những nhân duyên an lành thì những nhân duyên tương ứng sẽ tự động kết nối. Mà sự thật khi tìm được sức sống từ nơi chính mình rồi thì ta sẽ không còn coi là quan trọng những giá trị bên ngoài nữa. Nhân duyên nào cũng được cả, thong dong tự tại. Đức Đạt-lai Lạt-ma có dạy: ''Hãy nhớ rằng khi không đạt được những gì bạn muốn, đôi lúc, lại là sự may mắn tuyệt vời.''

(Bodhgaya Monk)

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2018



Khi tôi quyết định tự nhổ răng – phải chạy đến nha sĩ thật là một việc phiền phức – việc ấy đâu có gây đau. Khi tôi đi đến nhà xưởng, việc này cũng không gây đau. Khi tôi cầm lấy cái kềm, nó cũng không gây đau. Khi tôi dùng kềm kẹp lấy chiếc răng, nó cũng không làm đau. Khi tôi bắt đầu lắc lắc cái kềm và giật mạnh thì nó mới thật sự đau, nhưng cơn đau chỉ kéo dài chỉ vài giây. Khi đã nhổ răng ra rồi, thì đau không nhiều lắm. Bị đau chỉ trong vòng năm giây, thế thôi.”

Nếu bạn thử nhổ răng theo kiểu ấy chắc là đau khủng khiếp, thậm chí trước khi bước đến nhà xưởng để lấy kềm đã thấy đau ghê gớm rồi. Lo lắng – sợ hãi – là thành phần chính của cái đau.

Ajahn Brahm

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2018

Thường con người được dạy cố gắng vươn lên phía trước hơn là hướng tinh tấn trở về thấy lại chính mình. Nhưng thấy lại chính mình mới là cái gốc của sự Tiến Bộ
Do cứ lo vươn tới tương lai mà không chịu thấy ra tình trạng hiện tại nên không có Trải Nghiệm thực mà chỉ mơ mộng hão.
Trải Nghiệm: Tạm định nghĩa là trải qua và kinh nghiệm. Có nhiều người trải qua mà không có kinh nghiệm nào thực sự được hiểu, bởi khi họ trải qua 1 cái gì đó/ điều gì đó, họ không Ở Cùng Điều Đó mà họ còn mải chạy trốn khỏi đó, hoặc mơ mộng về điều tốt đẹp hơn.
Vì vậy cách đầu tư tốt nhất cho tương lai chính là biết rõ mình trong từng giây phút hiện tại để thực sự kinh nghiệm và học hỏi từ hiện tại.

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2018


Giáo pháp dạy chúng ta hãy buông bỏ, nhưng thoạt đầu chúng ta tự nhiên bị dính mắc vào phần lý thuyết của giáo pháp. Người trí biết sử dụng lý thuyết làm công cụ để khám phá phần tinh hoa của cuộc sống.

Suốt thời gian viếng thăm Anh quốc lần đầu tiên, Ngài Ajahn Chah đã đến giảng dạy cho nhiều nhóm Phật tử. Một buổi tối nọ, sau phần thuyết giảng, Ngài nhận được một câu hỏi từ một mệnh phụ. Bà là người đã nhiều năm nghiên cứu sự phức tạp của tâm theo Vi Diệu Pháp. Bà hỏi ý Ngài có thuận giải thích cho bà một vài điểm khó khăn trong môn học này để bà có thể tiếp tục nghiên cứu một cách dễ dàng hơn không.

Thấy bà bị dính mắc vào sự hiểu biết lý thuyết và ngôn từ chế định mà không nhận ra được lợi ích của sự thực hành nơi chính tâm mình, nên Ngài Ajahn Chah trả lời bà một cách trực tiếp và mạnh bạo:

- Bà chẳng khác nào người nuôi gà trong sân, thay vì nhặt trứng bà lại đi loanh quanh để nhặt phân gà.

-Thiền sư Ajahn Chah-

Không ai coi thường thân thể mình, nếu nó bệnh, ta vội vã chạy đi bác sĩ. Nếu nó mệt mỏi, ta vội vã cho nó nghĩ ngơi. Nhưng ta đã làm gì cho tâm? Hình như chỉ có các vị Thiền sư là chú trọng đến tâm của họ.
♝♝♝ KHI HÀNH THIỀN♝♝♝

☢ Thân được thanh tịnh vì ta không làm những điều bất thiện, vị kỷ, hung ác nữa.
☢ Khẩu được thanh tịnh: Vì ta im lặng không nói lời dối trá, vô ích, đâm thọc, chia rẽ.
☢ Ý được thanh tịnh vì mỗi giây phút tỉnh thức trong thiền là mỗi giây phút tâm được sàng lọc. Khi ta Thiền quán, ái dục, tham vọng, dù có mặt cũng bị thay thế dần dần.

Luôn chạy đuỗi theo bất cứ tư tưởng nào dấy khởi lên trong tâm, dù hạnh phúc hay đau khổ, là thói quen của chúng ta, lâu dần chính nhưng tư tưởng bất chợt đó điều khiển chúng ta, chúng ta thiền để dừng lại, để biết và làm chủ tâm ý mình

KHI THIỀN THÌ CẢ 3 NGHIỆP THÂN KHẨU Ý ĐỀU ĐƯỢC THANH TỊNH, ĐÓ CHÍNH LÀ NGUỒN PHƯỚC DỒI DÀO CHO CHỦ NHÂN KHI VÀ BƯỚC RA XÃ HỘI, NGƯỜI ẤY ĐEM LẠI SỰ AN TOÀN, VỮNG CHÃI VÀ BÌNH TĨNH HÒA CÙNG CUỘC SỐNG.

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2018



Do bản ngã xuất phát từ một ấn tượng rằng có một cái “ta riêng rẽ” nên nó cần tự đồng hóa nó với những yếu tố bên ngoài. Bản ngã ở trong ta luôn cảm thấy nó vừa cần được bảo vệ, vừa cần được nuôi dưỡng luôn. Nhưng nhu yếu tự đồng hóa thông thường nhất của bản ngã thường là đồng hóa ta với chuyện sở hữu tài sản, với công việc chúng ta làm, với địa vị trong xã hội, với tiếng tăm, kiến thức và trình độ giáo dục, sắc diện, năng khiếu đặc biệt, những quan hệ trong lĩnh vực giao thiệp, dòng dõi gia đình, lòng sùng bái về một điều gì đấy. Chúng ta cũng thường tự đồng hóa mình với giống nòi, chủng tộc, quốc gia, chính trị, tôn giáo và những chuỗi đồng hóa có tính chất tập thể khác nữa. Nhưng tất cả những điều đó không phải là bạn!Các giáo thuyết về tâm linh đã xác nhận đau khổ của con người thực ra chỉ là những ảo tưởng trí năng


Mọi khổ đau thật ra chỉ là những ảo tưởng của chúng ta: Chúng ta khổ đau vì chúng ta tự đồng hóa mình với những ý tưởng, cảm xúc tiêu cực thường nổi lên ở trong ta. Vì không biết bản chất chân thật của chính mình, do đó trong nỗ lực đi tìm nguồn cội của mình, chúng ta sáng tạo nên những con người, những nhân vật, những “cái tôi”, những Bản Ngã…không có thực để cưu mang những cảm xúc khổ đau xảy ra ở trong mình. Trong thực tế, có những cảm xúc sướng, khổ, vui, buồn khi ta trải qua một kinh nghiệm tiêu cực trong đời sống. Nhưng không nhất thiết phải có một con người, một nhân vật, một “cái tôi”, một Bản Ngã…, đứng đằng sau kinh nghiệm đó để hứng chịu những khổ đau đó. Do đó, mọi đau khổ thật ra chỉ là những ảo tưởng của chúng ta.


Khoảng trống không đáy: Đó là cảm giác hụt hẫng, cô đơn trong mỗi người. Chúng ta cảm thấy cô đơn, trống vắng ở trong lòng nên luôn tìm cách chạy trốn, khỏa lấp bằng sự bận rộn trong công việc, bằng quan hệ nam nữ, bằng thú vui xác thịt, sự nghiện ngập ma túy hay danh lợi,… Nhìn sâu vào cảm giác này sẽ giúp bạn nhận ra ở trong chiều sâu, bạn cảm thấy cách biệt với mọi người và mọi thứ chung quanh mình. Đó không phải là bạn, mà là cảm giác thường trực bất an của tự ngã ở trong bạn. Tự ngã luôn cảm thấy lo sợ, bất ổn, xa lạ với môi trường và thế giới chung quanh. Tiếp xúc với khoảng trống này giúp bạn thôi chạy trốn chính mình, thôi tìm cách khỏa lấp nỗi cô đơn, trống vắng ở trong mình, tức là đồng hóa mình với tự ngã, với những cô đơn trống vắng đó. Vì bạn không phải là những cô đơn trống vắng đó.

Trích chương 2
Sức Mạnh Của Hiện Tại
(The Power Of Now)
Eckhart Tolle



Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2018

February 12, 2014 at 3:38pm


Nhà  sư Có ý kiến cho rằng “Khi cho đi chúng ta mới nhận ra được sự dính mắc” vì có những dính mắc vi tế mà chỉ khi có sự cho đi chúng ta mới phát hiện ra được. Dính mắc có thể kể đến như dính mắc với người hay dính mắc với đồ vật.
Thực tế một người có thể cho đi rất nhiều thứ nhưng có khi một thứ lại không cho ra được, chẳng hạn có anh chàng có thể cho đi cả thế giới nhưng có một người anh ta sẽ không bao giờ từ bỏ. Như vậy số lượng vật cho đi không phản ánh sự buông bỏ. Đôi khi một vấn đề, một việc thôi nhưng  sự buông bỏ lại rất mạnh.

Mặt khác, một người sẽ dễ buông bỏ hơn đối với những thứ họ không có sự quan tâm hay những thứ ít quan trọng đối với họ… Nếu họ quan tâm tới văn thơ mà chúng ta cứ đem những câu chuyện về công nghệ thông tin ra bàn luận, ta nói về  Iphone, về smart phone  thì họ cũng không quan tâm.
Vấn đề buông bỏ  sự dính mắc không nằm ở món đồ ta cho ra hay con người ta từ bỏ, mà vấn đề thuộc về tâm. Ví dụ nếu người nào  đó cho đi chiếc điện thoại với động cơ, với  ý định là ngày hôm sau họ sẽ có được chiếc khác; hoặc cho đi những thứ họ không quan tâm thì đó đâu phải là cho đi để từ bỏ sự dính mắc?
Nếu ta phải cho đi món  đồ duy nhất, quý nhất không thể thay thế  thì sao? Ta có nhận ra sự dính mắc không?

Nhiều Thiền sinh: Thì rất dễ nhận ra sự dính mắc ạ.

Nhà sư : Lúc này họ cảm thấy nuối tiếc. Cảm thấy nuối tiếc như vậy liên quan đến điều gì? Liên quan đến Thọ.  Nếu không có tác động đến thọ thì không có điều gì xảy ra cả, nhưng khi cái Thọ trở nên rõ rệt thì nhận ra dễ dàng.
Có những người rất nhiều lần đau khổ nhưng vẫn không học  được bài học nào. Họ biết sự đau khổ, cảm giác đau khổ đó nhưng không có được hiểu biết. Thất tình, đau khổ cứ lặp đi lặp lại nhưng không có được bài học. Vì sao vậy? Vì mặc dù họ biết thọ khổ và nhưng lại dính mắc với thọ lạc. Bằng mọi cách họ gạt bỏ thọ khổ để thay thế bằng thọ lạc, và để làm được việc đó thì họ thay đổi đối tượng. Đó là trò chơi muôn thủa của tâm, từ trước đến nay vẫn luôn như vậy. Họ chỉ muốn thay đổi chứ không có sự hiểu biết ở đó, thay thế thọ này bằng thọ khác
Thọ khổ dễ thấy hơn, còn học được từ thọ lạc sẽ khó khăn hơn. Chúng ta luôn có xu hướng hướng tới đối tượng, thay đổi đối tượng để tìm kiếm cảm thọ dễ chịu hơn. Như khi bị đau vì ngồi thiền, chúng ta không chấp nhận thọ khổ, mà vẫn có ý muốn thoát khỏi, cố gạt bỏ thọ khổ đó cho hết đau.
Quay lại vấn đề, khi chúng ta bị mất đồ, có rất nhiều cảm giác lộn xộn, chẳng hạn như tự an ủi bản thân  “của đi thay người”, .v.v.. Việc tìm hiểu cần phải bắt nguồn từ việc thấy đúng vấn đề. Tuy nhiên nhận ra vấn đề thì chưa đủ, phải có sự chấp nhận điều đó. Nếu nhận ra nhưng không chấp nhận thì không quan sát được. Sự quan sát khách quan chính là việc ghi nhận, hay biết với thái độ chấp nhận cả hai trạng thái: nắm giữ hay chối bỏ.
Nói riêng về chấp nhận, ở giai đoạn ban đầu chúng ta có sự tạm thời chấp nhận; đến khi thực sự có hiểu biết rõ ràng, đầy đủ thì sự chấp nhận mới thực sự là chấp nhận, cho dù có điều gì xảy ra cũng không còn phản ứng.
Chúng ta hãy phân biệt giữa Nhẫn và Nhẫn nhục. Nhẫn là có sự hiểu biết ở đó, ít ra là sự hiểu về nhân tình thế thái. Nhẫn nhục là sự kìm chế, đè nén với một động cơ khác, đến một ngày nào đó sẽ bộc phát mà còn mạnh mẽ hơn, như nhẫn nhục để tìm cơ hội trả thù chẳng hạn. Hình thức bên ngoài có vẻ giống nhau nhưng nội dung, động cơ hoàn toàn khác nhau

Thiền sinh: Con thấy nhiều người chịu nhẫn nhục với những động cơ khác nhau, để củng cố cho bản ngã cúa họ, để được người khác đánh giá tốt,… 

Nhà  sư: Đa số chúng ta sống theo khuôn mẫu cúa xã hội, thể hiện theo một quan điểm nào đó để xã hội đánh giá cao. Rất khó thoát ra khỏi các khuôn mẫu đó, đôi khi phải trả giá rất nhiều, phải đứng trên đầu sóng ngọn gió, búa rìu dư luận.
Như vậy mọi người nghĩ sao? Có đúng là cho đi thì mới nhận ra được sự dính mắc không?

Thiền sinh: Con thấy khi cho đi thì nhận ra được  đa dạng sự dính mắc hơn, chứ không phải là vì cho đi mới nhận ra được. Nhờ có sự cho đi thì dễ nhận ra được rất nhiều sự hiểu biết sai lầm.

Nhà  sư: Nếu không nhận biết được những hiểu biết sai lầm thì tâm sẽ củng cố những sai lầm đó. Nếu có sự nhận biết thì có sự hiểu biết, và hiểu biết thì không mang tính củng cố cho những hiểu biết sai lầm; vì hiểu biết luôn luôn đi cùng với sự buông bỏ; đó là hai mặt cúa một vấn đề.

Thiền sinh: Tâm chúng ta luôn dính mắc vào cái đúng và cái sai. Vậy khi đã nhận ra sự dính mắc rồi thì cần phải làm gì? Có nên suy nghĩ lại với góc nhìn mới hay không?

Nhà  sư: Chỉ có Pháp hiện tại là thực nhất. Tuy nhiên, việc xem xét, suy nghĩ về các vấn đề của mình để hiểu rõ thêm là cần thiết.
Những gì chúng ta học từ thực tế xảy ra là rất khác nhau, không có trường hợp nào giống nhau hoàn toàn, không ai giống ai, cho nên không có câu trả lời chung cho tất cả mọi người. Lý thuyết là như vậy nhưng thực hành quan sát là rất quan trọng. Chẳng hạn, những người dạy Vi Diệu Pháp biết về tâm thì thực sự họ có hiểu biết hết về tâm không? Họ biết rất nhiều lý thuyết nhưng có thể nói là họ hiểu hết về tâm không?

Thiền sinh: Như vậy chánh niệm thì sẽ có  được sự buông bỏ, chứ vấn đề không nằm  ở việc cho đi hay không mới nhận ra được sự dính mắc?

Nhà  sư: Buông bỏ phải đi đôi với sự hiểu biết, khi có hiểu biết thì cùng với nó là sự buông bỏ.
Có người đốt hết nhà cửa nhưng chưa chắc họ đã buông bỏ được nhà cửa. Người ăn mày có thể có rất ít tài sản nhưng lại dính mắc rất chặt, trong khi một ông quý tộc nhà giàu lại có khả năng buông bỏ mạnh. Do đó dính mắc nằm trong tâm thức cúa chúng ta, mà tâm thức phụ thuộc vào sự hiểu biết.
Có những người bị ung thư, bệnh viện trả về thì họ  lại có khả năng buông bỏ thực sự, vì khi đó họ đã hoàn toàn bất lực, khi còn hy vọng được sống thì còn không chịu buông bỏ. Như vậy đó là buông bỏ thực sự hay buông bỏ có điều kiện? Chúng ta thấy mình luôn luôn bị chi phối bởi các điều kiện không? Cho dù dùng mỹ từ gì chăng nữa thì chúng ta vẫn bị phụ thuộc vào điều kiện, không thể vượt ra ngoài để đạt đến tự do.

Thiền sinh: Chúng ta không thể vượt ra ngoài các  điều kiện, vậy chúng ta cần điều kiện gì, yếu tố nào để hỗ trợ phát triển việc buông bỏ?

Nhà  sư: Các phẩm chất tâm trong sự quan sát, khi các yếu tố này hội tụ thì tự động tâm buông bỏ. Khi tâm ở trong sự hỷ lạc, an định, cảm giác rất khác biệt, không cần bất cứ điều gì, không thấy ý nghĩa nào khác. Nhưng khi mất đi điều kiện đó thì lập tức rất nhiều trạng thái khác tràn vào.
Chúng ta không cần phải tầm cầu, mà tầm cầu cũng không được vì đó là quá trình đặt điều kiện tiếp theo. Từ trước đến nay ta đều tầm cầu rồi và ngay trong thực hành quan sát thì cũng có ý muốn tầm cầu tại đó.

 Thông thường chúng ta không để ý đến cảm thọ, khi để ý đến đối tượng này người ta sẽ không phát hiện được cái khác. Nếu không quan sát rộng thì khó phát hiện ra các đối tượng khác



Tu tập nơi nhà vắng, rừng sâu, đối diện với nỗi cô đơn, nỗi sợ hãi, phải biết muốn ít vật chất…là 1 hoàn cảnh tu khó khăn, mà trong phố thị, tu làm sao để cân bằng giữa tu tập và công việc xã hội, giữa áp lực và an ổn… cũng là 1 hoàn cảnh tu vô cùng gian khó. Và cần thực hành làm sao để không dính mắc cũng không chối bỏ các điều kiện tu khác nhau

Cho nên chỉ cần tách rời cảm xúc khỏi hoàn cảnh, không cần tách rời bản thân khỏi hoàn cảnh, rồi nhận biết và học hỏi từ những Chân Lý sâu sắc của cuộc đời đang diễn tiến…đó là việc cần làm để phát huy trí tuệ... phát huy trí tuệ hiểu Sự Thật, đó là điểm đến của công cuộc tu tập theo Phật Thích Ca.

Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2018

HỎI: "Tại sao con luôn sống tử tế, sẵn sàng giúp đỡ mọi người và chưa bao giờ làm hại bất kỳ ai mà toàn bị người đời tìm cách hãm hại và toàn gặp chuyện xui xẻo như thế này? Con cảm thấy cuộc đời rất bất công, nhiều khi muốn buông xuôi tất cả. Xin sư cô cho con lời khuyên?"

ĐÁP:
- Thực sự quý vị đã hoàn toàn tốt đẹp??? hay động cơ bên trong vẫn còn nhuốm màu vị kỷ, phục vụ cho cái Tôi và của Tôi. Chỉ khi hành thiền mới nhận ra được " thế lực phiền não" nào đang điều khiển mình.
- Chính những suy nghĩ so sánh, đánh giá này nói lên bạn luôn bất an, mà nội tâm bất an thì hành động, lời nói cũng đem đến phiền não, bất an cho người khác- đó là quy luật tất yếu. Bạn chưa phải là một nguồn suối an lành cho ng khác như bạn tưởng đâu.
- Nếu thực sự tốt thì Nhân Quả sẽ trả lời khi các điều kiện hội tụ, còn nếu bị xui xẻo, vẫn nên tự xét lại mình 1 cách sâu sắc hơn. Chỉ có sự bình an nội tâm, hiểu biết sẽ khiến cho mọi việc ổn định lại, còn việc làm tốt nhưng động cơ chưa tốt, hoặc thái độ xấu ngầm bên trong thì chưa phải là Nhân tốt để chắc chắn ra quả Tốt được.
- Suy cho cùng, sự xui xẻo hiện nay cũng chưa chắc là dở vì bài học này quý vị được học khi còn trẻ, còn có khả năng tư duy và thay đổi thì khó khăn này trở thành cơ hội để trưởng thành. Con người ta dễ ngủ quên trên đệm êm lắm.
- Và ý cuối cùng...thì ĐỪNG QUAN TÂM ĐẾN KẾT QUẢ, HÃY TẠO NHÂN LÀNH, KẾT QUẢ SẼ TỰ ĐẾN.
Thân mến!
- Sư cô Hương Thiền -

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2018


Một trong các phương pháp hữu hiệu để trau luyện tư tưởng là chú ý đến tính tự phụ. Trong tâm lý học Phật giáo, “tự phụ” có một nghĩa đặc biệt: nó là một tâm hành tự so sánh mình với người khác. Những khi chúng ta cho rằng mình tốt hơn, bằng hoặc thua sút một người nào, đó là chúng ta đang biểu lộ tính tự phụ. Sở dĩ ta gọi tâm tính ấy là tự phụ là vì tất cả những tướng trạng của chúng - dù đó là “Tôi tốt hơn”, “Tôi kém hơn,” hay “Tôi cũng chỉ như thế” - đều phát xuất từ ảo tưởng về một cái ngã. Thật ra, chúng chỉ là những cảm giác về một cái ngã, cái tôi mà thôi.

Có một điều đáng buồn và cũng có một điều đáng mừng liên quan đến tính tự phụ. Thật ra thì hai việc ấy chỉ là một mà thôi, đó là sự tự phụ sẽ không bao giờ có thể bị nhổ tận gốc rễ, trừ khi ta đạt đến một sự giác ngộ viên mãn. Cho dù một ngày nào đó, ta có thể thấy được sự thật rằng tự tính của mọi kinh nghiệm là vô ngã, không có một cái “tôi” nào đứng phía sau những kinh nghiệm, nhưng tập quán của tâm so sánh vẫn sẽ còn tiếp diễn mãi. Cho dù chúng ta hiểu được rằng tính tự phụ tự nó không phải là “tôi”, nhưng nó vẫn cứ tiếp tục hiện hữu cho đến ngày nào ta đạt được giác ngộ hoàn toàn. Vì vậy cho nên việc đáng buồn là tâm tự phụ có lẽ sẽ còn ở với ta dài lâu lắm.

Còn điều đáng mừng là ta đừng bao giờ nản lòng hoặc tự chỉ trích mỗi khi cảm thấy mình có một sự tự phụ. Vì dù sao thì loại tư tưởng này cũng sẽ còn ở với ta lâu dài, cho nên biết làm bạn với nó thì bao giờ cũng tốt hơn. Khi có những ý nghĩ so sánh khởi lên, ta có thể nhận diện chúng - “Ồ, cũng lại là nó” - mà không chút ngạc nhiên. Khi đã nhận diện và hiểu được chúng rồi, ta sẽ có thể bắt đầu chấp nhận.

Liều thuốc giải độc cho tính tự phụ là sống trong chánh niệm và thấy được tính chất tạm thời của nó. Những khi tâm ta bị mắc kẹt vào sự so sánh tức là ta đang bị vướng mắc vào ý niệm về nhân và ngã. Ta tự trói buộc mình vào một ảo tưởng, vào trong giới hạn của ý niệm về ta và người khác. Sở dĩ chúng ta có một sự so sánh như vậy là vì ta không thấy được rằng tất cả mọi hiện tượng, trong đó có cả ý tưởng về ta và người khác, đều đang sinh lên và diệt đi không ngừng nghỉ. Cũng vì không thấy được tính chất vô thường của những tư tưởng ấy mà ta bị sa vào chiếc bẫy nội dung của chúng. Tâm so sánh sẽ tan biến tức thì khi ta nhìn thẳng vào nó bằng con mắt chánh niệm.

Vì vậy mà nhận diện được tâm so sánh ấy là một điều rất hữu ích. Cái tính tự phụ cho rằng “Tôi tốt hơn” hay “Tôi dở hơn” người khác, khi không được nhận diện rõ ràng sẽ trở thành nguyên nhân của khổ đau. Tính tự phụ luôn luôn phân cách, ngăn chia ta với người khác, và củng cố thêm cái tôi nhỏ hẹp của mình.
Khi ta có chánh niệm về những cảm thọ và ý nghĩ so sánh này, ta có thể làm bạn với chúng mà không sợ bị dính mắc hoặc đồng hóa. Lúc ấy, tâm tự phụ sẽ tự nhiên trở thành những tư tưởng trống rỗng, ta không cần phải bác bỏ hoặc tin vào chúng nữa. Tất cả sẽ đi qua như những chiếc lá rơi lả tả trong gió mùa thu, và bầu trời tâm ta lúc nào cũng an nhiên và tự tại.

- Trích sách Kinh nghiệm thiền quán, tác giả Joseph Goldstein -

Thứ Hai, 19 tháng 3, 2018

Thiền sư sanh trong một gia đình khá giả ở vùng nông thôn nước Lào gần vùng đông bắc Thái Lan. Ngài xuất gia sa-di hồi còn nhỏ, hai mươi tuổi ngài thụ giới tỳ khưu (bhikkhu). Trên trình độ lớp bốn ở trường làng, ngài đã học giáo lý căn bản và kinh điển khi còn là một vị sư trẻ.
Sau đó ngài thực hành thiền định dưới sự hướng dẫn của nhiều vị thiền sư địa phương theo truyền thống ẩn dật ở Lào. Ngài đi bộ nhiều năm theo phong cách của một nhà sư thọ hạnh đầu đà, ngủ dưới gốc cây và qua một thời gian ngắn tu tập với thiền sư Achaan Mun, một trong những vị thiền sư Thái Lan - Lào có năng lực và nổi tiếng ở thế kỷ này. Sau nhiều năm vân du và thực hành thiền, ngài trở về cư ngụ trong một khu rừng rậm rạp gần làng quê của ngài. Người dân ở đây nói khu rừng này không có người ở, được biết đây là nơi ở của rắn hổ mang, cọp và ma quỷ, nhưng ngài nói, đây là một nơi hoàn hảo nhất cho một vị tỳ khưu thọ hạnh đầu đà. Một thiền viện lớn đã được thành lập khi có tăng ni và phật tử đến nghe pháp và lưu lại đây. Bây giờ ngài có nhiều đệ tử dạy thiền và nhiều ngôi chùa trong rừng khắp miền đông bắc Thái Lan.
Ði vào Wat Ba Pong, trước tiên người ta dễ trông thấy chư sư đang quay nước giếng, và một tấm bảng treo trên con đường có ghi: "Quý vị đến đây hãy yên lặng, chúng tôi đang hành thiền." Mặc dù có một nhóm hành thiền và tụng kinh hai lần một ngày và thường buổi chiều ngài Achaan Chaa thuyết pháp, cơ bản của thiền định là cách sống. Công việc chư sư là vá y và quét dọn đường rừng và sống thật đơn giản. Chư sư ở đây sống theo hạnh đầu đà giới hạn bửa ăn một ngày một buổi và giới hạn vật dụng, y phục và chỗ ở. Chư vị sống trong những cái lều cá nhân rải khắp cả khu rừng, và tu tập thiền hành trên con đường sạch sẽ dưới những gốc cây. Nhiều đệ tử người phương Tây của ngài bây giờ chọn nơi cư ngụ ở thiền viện mới và sống thiền trong những túp lều rải rác được xây dựng trong những hang động trên sườn đồi.

Chế độ ăn uống giản dị của thiền viện nhằm tạo điều kiện để phát huy trí tuệ. Thiền sư Achaan Chaa nhấn mạnh rằng: "Mỗi người có tốc độ đi riêng của mình", và như thế chúng ta đừng ngại chiều dài của con đường hay điểm đến. "Ðơn giản là hãy trú vào giây phút hiện tại", và ngài khuyên: "Cuối cùng tâm sẽ đạt được sự quân bình tự nhiên của nó khi việc tu tập trở thành thói quen". Ít khi ngài nói đến việc thành đạt bất cứ trạng thái tâm đặc biệt nào hay trạng thái tâm định và tâm giác ngộ. Thay vì trả lời khi được hỏi, ngài hỏi lại chất vấn: nếu ngài có đầy đủ sự từ bỏ tất cả chấp thủ thì còn đau khổ nữa không? Bằng câu trả lời thông thường là "không", ngài sẽ hướng dẫn anh ta, đơn giản là hãy tiếp tục sự thực hành theo dõi tâm của anh và đừng cho dính mắc vào cái gì thậm chí tuệ giác hay kinh nghiệm giác ngộ, chỉ tiếp tục đừng cho dính mắc điều này trong từng giây một.

Ðời sống hàng ngày ở thiền viện phải tập trung tu tập nhiều như hình thức ngồi và đi. Giặt y, làm sạch ống nhổ, quét dọn chánh điện, đi bát, tất cả đều bằng thiền cả, và như ngài Achaan Chaa nhắc nhở chúng ta, ở nhà, rửa nhà cầu, đừng có nghĩ là quý vị đang làm nó như một sự bắt buộc. Ðó cũng là pháp. Thiền nghĩa là chánh niệm vào những gì chúng ta làm. Ðôi khi lối sống này dường như nghiêm khắc và gay gắt và sự phấn đấu để tìm ra sự bình an trở nên là một bài học lớn trong thiền. "Khi quý vị giận dữ hay than oán bản thân, điều đó là một cơ hội lớn để biết được tâm mình". Trong sự tuân thủ giới luật để tạo nên một cộng đồng hoà hợp, chúng ta thấy rõ lòng ham muốn và hình ảnh mà chúng ta phải đối chọi với cuộc sống này như thế nào. Giới luật nghiêm khắc giúp chúng ta cắt đứt nhu cầu bản ngã - hình thức khoe khoang bề ngoài.

Thiền sư Achaan Chaa không có nhấn mạnh bất cứ kĩ thuật thiền nào đặc biệt mà cũng không động viên tu tập tích cực để đạt đến tuệ giác và giác ngộ mau lẹ. Trong hình thức ngồi, người ta có thể theo dõi hơi thở cho đến khi nào tâm tĩnh lặng, và sau đó tiếp tục thực hành bằng cách quan sát tiến trình thân tâm. Sống đơn giản, hãy để tự nhiên, và hãy theo dõi tâm là cơ bản cho sự thực hành. Nhẫn nại là điều quan trọng. Khi còn là một tu sĩ mới ở thiền viện của ngài, tôi bị chán nản bởi những khó khăn của việc tu tập về sự thực hành và hình như giới luật thất thường mà tôi phải theo. Tôi bắt đầu phê bình những vị sư khác về sự thực hành tùy tiện và nghi ngờ trí tuệ trong lời dạy của ngài Achaan Chaa. Có một lúc nọ, tôi đến gặp ngài để nêu lên những thắc mắc và nhận xét rằng ngài đã mâu thuẫn nhau và hình như chính ngài thường làm trái ngược trong cách tu chưa rõ ràng. Ngài cười và chỉ cho thấy bao nhiêu điều mà tôi đã đau khổ do việc phê bình những người xung quanh tôi. Sau đó ngài giải thích rằng, thực ra lời dạy của ngài chỉ là sự bình thường hóa cái tâm. Ðiều đó như là tôi gặp gỡ những người đi trên con đường mà tôi đã quen, ngài nói: "Tôi ngước lên và trông thấy ai đó sắp sửa té xuống mương tay phải của con đường hay là đi lạc ra con đường mòn bên tay phải do vậy tôi gọi to anh ta: "Hãy đi bên tay trái, hãy đi bên tay trái". Một cách tương tự tôi gặp một ai đó sắp sửa đi lạc vào con đường mòn phía tay trái hoặc sắp sửa rơi vào cái hố bên tay trái, tôi gọi to lên: "Hãy đi bên tay phải, hãy đi bên tay phải". Tất cả sự thực hành chỉ là phát huy tâm quân bình, không có dính mắc, không có ích kỷ". Ngồi thiền hay làm việc trong những sinh hoạt hàng ngày của chúng ta là một phần của việc tu tập và theo dõi sát một cách kiên nhẫn để trí tuệ mở mang và an lạc một cách tự nhiên. Ðây là con đường của thiền sư Achaan Chaa.

Thiền sư Achaan Chaa tiếp đãi ân cần những người phương Tây và hơn hai mươi người đã sống và tu học với ngài nhiều năm tháng. Trí tuệ là một cách sống, và ngài Achaan Chaa duy trì lối sống đơn giản, của các tỳ khưu thời đức Phật, áp dụng cho việc học giáo pháp ngày hôm nay.

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2018

Nói rồi nhà sư từ biệt ra đi, bỏ lại sau lưng người thanh niên vẫn còn đang thẫn thờ với câu hỏi lớn trong đầu: “Mục đích chân thực của đời người, rốt cuộc là tìm kiếm hay bỏ đi đây?”

                                             -------------------------------o0o-------------------------

Có một chàng thanh niên mang trong lòng rất nhiều dự định, đặt cho mình rất nhiều mục tiêu mà theo anh là cần phải thực hiện. Anh lập quyết tâm thật cao để thực hiện những mục tiêu đó. Tuy nhiên, dù cố gắng rất nhiều nhưng anh chẳng hoàn thành được mấy việc. Dần dần, anh cảm thấy mệt mỏi và uể oải.

Hôm nọ, do yêu cầu của công việc, anh thanh niên lên đường giữa buổi trưa trời nắng chang chang. Chỉ đi một lúc anh đã mệt nhoài, chân chẳng muốn bước. Thấy từ xa có một cây cổ thụ tán rộng, cành lá sum suê anh mừng lắm, cố lê chân tới gốc cây rồi ngồi nghỉ.Đang nhăn nhó quệt những giọt mồ hôi chảy đầy trên mặt, anh thấy một nhà sư khất thực tiến tới.Nhà sư cũng dừng lại bên gốc cây, ngồi xuống nghỉ ngơi. Trên mặt nhà sư mồ hôi cũng chảy ròng ròng, nhưng không hề thấy ông nhăn nhó, cũng chẳng thấy ông ta đưa tay lên quệt mồ hôi.

Quan sát nhà sư, người thanh niên chỉ thấy sắc mặt ông yên bình, thanh thản đến lạ, hình như những nóng bức ghê người kia không hề làm ông khó chịu chút nào.

Thấy nhà sư có vẻ thoát tục lạ thường, anh thanh niên kính trọng lắm, mở lời:

- Thưa sư, con trông sư thật lạ, dường như sư đã đắc đạo, giải thoát được khỏi những đau khổ bình thường của thế gian vậy.

Nhà sư nhìn chàng trai nói:

- Không phải sư đã đắc đạo, mà sư đã bỏ được đạo.

- Bỏ đạo? - Người thanh niên ngạc nhiên.

- Đúng vậy! Một con thuyền chở thí chủ qua dòng sông lớn, qua sông rồi, thí chủ nên bỏ con thuyền mà đi tiếp hay nên vác con thuyền theo mình để tỏ lòng biết ơn?

- Dạ, tất nhiên con phải bỏ thuyền.

- Đạo cũng giống như con thuyền kia vậy. Là công cụ đưa ta đi tìm chân lý. Thấy được chân lý rồi thì phải bỏ hết công cụ đi.

Người thanh niên thấy lời nhà sư có vẻ như không đúng, tuy nhiên anh chưa biết phản bác thế nào.

Nhìn vẻ mặt của người thanh niên, nhà sư hiểu ý, ông nói:

- Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã nói: “Ta không cần mọi người tán dương ta, mà chỉ muốn mọi người thực hành giáo pháp của ta”. Lòng từ bi của đức Phật bao la, Ngài đâu cần chúng sinh ghi nhớ công ơn của Ngài, mà chỉ mong chúng sinh thực hành giáo pháp tự vượt qua cái khổ của đời người. Giáo pháp của nhà Phật vốn đều quy về một chữ không. Không ác, không thiện.

Anh thanh niên tròn mắt rồi anh lẩm bẩm từng lời mà nhà sư vừa nói:

- Không ác, không thiện !

Thấy thái độ của chàng thanh niên như vậy, nhà sư hỏi:

- Theo thí chủ, ác là gì ?

Bị hỏi bất ngờ, anh thanh niên hơi lúng túng, ấp úng nói:

- Theo con... theo con... ác là làm những việc trái với đạo lý như đánh, giết người … ừm... ừm... nói chung theo con ác là làm hại người khác để lợi mình, hoặc để cho mình được vui thích.

- Ác không chỉ có vậy, nhưng thí chủ hiểu như vậy cũng không sai, vậy theo thí chủ, nguyên nhân tội ác từ đâu ra?

- Dạ con không biết ạ!

- Ác do tham, sân, si mà ra. Tất cả vốn tự tâm mình cả, nếu tâm không thì không có ác! Bây giờ thí chủ có thể cho sư biết, thiện là gì không?

- Theo con, thiện là lòng tốt của con người, làm thiện là làm việc tốt cho người khác, đôi khi có thể vì người khác mà quên đi bản thân mình.

- Thiện cũng không chỉ là vậy, tuy nhiên nghĩ như vậy cũng đúng. Theo thí chủ thiện từ đâu sinh ra?

- Như giải thích của sư khi nãy, thì thiện cũng do tâm sinh chăng?

- Đúng vậy, thiện cũng từ tâm ra. Chúng ta nhìn vào ác để thấy thiện, nhìn vào thiện để thấy ác. Tự nhiên vốn không có ác, không có thiện. Ma và Phật cũng vậy. Tất cả đều do tâm động mà sinh. Để dễ hiểu hơn, ta hỏi thí chủ một câu: “Khi cầm một vật lên, dù vật đó to hay nhỏ, thí chủ sẽ nặng người thêm hay nhẹ đi ?”

- Dù vật đó như thế nào thì người con cũng sẽ nặng thêm.

- Tâm con người cũng vậy, càng động thêm càng tăng phiền não. Vì vậy con người không nên mang gánh nặng quàng vào mình, mà nên học cách bỏ đi mới là sáng suốt.

Nói xong nhà sư kết luận:

- Chúng sinh thường mong muốn cao xa, tự gây khổ cho mình. Đâu biết tâm tự nhiên vốn tự thanh tịnh, không lay động (ghi chú thêm: là sự hay biết/nhận biết đơn thuần mà không hề có sự đánh giá , phê bình...).

Giáo lý của nhà Phật phải từ từ mới hiểu, lại từng bước mà lên, không thể một sớm một chiều là thông. sư và thí chủ đã có duyên mà cùng luận bàn câu chuyện, bây giờ cũng là lúc sư phải đi. Mong thí chủ suy ngẫm đôi điều, biết đâu sẽ được lợi ích gì chăng?

Nói rồi nhà sư từ biệt ra đi, bỏ lại sau lưng người thanh niên vẫn còn đang thẫn thờ với câu hỏi lớn trong đầu: “Mục đích chân thực của đời người, rốt cuộc là tìm kiếm hay bỏ đi đây?”.

------------------------------------------------------------------------------------------

Tôi viết là nên bỏ đi mới sáng suốt, nhưng khi đã hiểu ra thì bỏ đi có nghĩa là nhận lại bao la vô cùng. Các bạn thử tưởng tượng một căn phòng chứa rất nhiều đồ đạc to và vướng, ánh sáng của đèn điện không chiếu được khắp mọi nơi, khi chúng ta bỏ hết đồ đi thì khắp phòng chỉ toàn là ánh sáng. Bỏ ở đây là bỏ gánh nặng, u mê và phiền muộn, để trí tuệ tỏa sáng. Chúng ta cần có cái thang để leo lên mắc bóng điện, nhưng mắc xong rồi mà ta không bỏ thang đi thì cái thang sẽ là vật cản trở, gây vướng víu. Truyện này người hiểu được thì cực dễ, còn đã không hiểu thì cực khó. Có lẽ truyện chỉ dành cho người có duyên!

Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2018






Hạnh phúc là ở chỗ biết được mọi sự thể như nó đang là (đúng bản chất) mà không cảm thấy sự cần thiết phải phán xét nó. Bạn không bị vướng mắc, cố gắng làm hoặc dứt bỏ một điều gì.
Thiền sư Ajahn Sumedho 
……………….
Không có một chúng sanh hay một thực thể thuần nhất và trường tồn trong Phật Giáo mà chỉ có một luồng tâm xem như một dòng nước luôn luôn trôi chảy.
Như vậy ta phải nói rằng sự tu tập là thanh lọc luồng tâm,để nó trở nên hoàn toàn tinh khiết bằng cách tận diệt và loại trừ mọi ô nhiễm.
Trích: Đức Phật và Phật Pháp - Hòa thượng Narada, 1980
…..
Khi đau khổ phát sinh, hãy ý thức rằng chẳng có ai nhận chịu đau khổ. Nếu nghĩ rằng đau khổ và hạnh phúc là của bạn thì bạn sẽ không bao giờ tìm thấy bình an.
Thiền sư: Ajahn Chah
……………………..
-"Cái gì khác biệt giữa một người đầy dính mắc và một người khác không còn dính mắc?"
--"Thưa Nhà Vua, người dính mắc thì bị trói buộc còn người kia thì không."
--"Ðiều đó có nghĩa gì?"
--"Người dính mắc thì sống trong tham muốn còn người kia thì không."
--"Tuy nhiên cả hai đều thích thức ăn ngon, không ai thích ăn dỡ."
--"Thưa Nhà Vua, người dính mắc khi ăn thì kinh nghiệm cả mùi vị lẫn sự dính mắc, nhưng người không dính mắc thì khi ăn chỉ kinh nghiệm mùi vị mà không kinh nghiệm sự dính mắc do mùi vị sinh ra."
Trích: Vua Milinda Vấn Ðạo

......................

Do thói quen truyền thống của mình mà chúng ta muốn nắm giữ cái gì đó. Đó là tại sao nếu như bạn không đặt niềm tin vào cơ thể mình thì bạn sẽ đặt niềm tin vào tâm mình. Chúng ta đang nắm giữ tâm như là của riêng mình. Nếu như bạn có thể chấp nhận rằng mọi người chỉ là Sự Thật Tâm Tạo, nó sẽ không ảnh hưởng đến bạn. Và rồi, mọi thứ kinh nghiệm sẽ không ảnh hưởng đến bạn nữa. Bất cứ điều gì diễn ra với bạn hay với người khác sẽ không còn ảnh hưởng đến bạn nữa.
Thiền sư U. Ottamasara
…………………..
   Nếu như ta không có hạt giống của sân hận, sẽ không một ai có thể làm cho ta nổi giận được hết. Chính cái hạt giống sân hận có mặt trong ta, phản ứng lại với hành động hoặc lời nói của một người nào đó, khiến ta tức giận.
Trích: CHÍNH NIỆM - THỰC TẬP THIỀN QUÁN
………………….
Tham muốn, ao ước trong thực hành có thể là bạn hay kẻ thù. Thoạt đầu, sự tham muốn, ao ước thúc đẩy hay khích lệ việc hành thiền. Chúng ta muốn thay đổi sự vật, muốn hiểu biết, muốn chấm dứt đau khổ. Nhưng nếu luôn luôn ao ước chuyện chưa xảy ra, muốn sự vật diễn ra hay có đặc tính mà chúng không thể có thì chỉ gây thêm đau khổ thôi.
Thiền sư: Ajahn Chah
………….
Hãy giữ chánh niệm. Chánh niệm trên Sự Thật và theo cách này, bạn sẽ không phải là “một ai đó”. Cuộc sống của bạn sẽ thay đổi. Nếu như bạn chánh niệm không liên quan đến cái “tôi”, cuộc sống hiện tại và cuộc sống tương lai của bạn sẽ thay đổi. Trí thông minh hiện tại và trí thông minh tương lai của bạn sẽ thay đổi.
Có rất nhiều ham muốn trong tâm bạn. Đó là tại sao tâm luôn luôn bận rộn, tại sao tâm không được dễ dàng. Tâm không được nghỉ ngơi, mà bất an. Đó là tại sao, nếu chúng ta xả ly khỏi ham muốn, sẽ ngày càng ít ham muốn hơn. Tâm sẽ được bình an và tự do. Tâm sẽ có sức mạnh.
Thiền sư U. Ottamasara
……………
Một cái tâm trống không, không có nghĩa là chẳng có gì trong đó cả. Nó không có phiền não, nhưng nó có đầy trí tuệ.
Thiền sư: Ajahn Chah

Thứ Tư, 14 tháng 3, 2018




Có người nói ngủ chiếm một phần ba cuộc đời, uổng phí quá! Đừng ngủ thì lợi hơn! Nhưng lợi đâu không thấy chỉ thấy mất ngủ vài ba đêm thì đầu óc không sảng khoái để làm việc, năng suất thấp, mất ngủ lâu dài hơn thì dẫn tới bệnh tâm thần và cuối cùng thì thay vì cuộc sống dài ra lại bị rút ngắn đi một cách đáng tiếc!

Không biết tại sao ngày càng có nhiều người mất ngủ trên thế giới phẳng này! Thuốc ngủ là một trong những thứ thuốc bán chạy nhất hiện nay trên thế giới.

Hình như đời sống ngày càng bận rộn, ngày càng náo động, ngày càng bất an, đầy “điên đảo mộng tưởng” thì con người ngày càng mất ngủ. Và đó cũng là lý do tại sao ngày người ta càng cần tới… Thiền. Phải, chỉ có thiền mới có thể “cứu rỗi” một thế giới đầy náo loạn như vậy! Thiền cũng có thể thay cho… ngủ, dù thiền không phải là ngủ, trái lại thiền là tỉnh giác. Thế nhưng, về mặt sinh học, thiền tiêu hao năng lượng rất ít, ít hơn cả giấc ngủ, nhờ đó tiết kiệm được năng lượng, không phải tiêu hao cho cái tâm náo động. Khi tâm được an, “an tịnh tâm hành” thực sự thì năng lượng tiêu hao giảm hơn một nửa. Nhưng không phải ai cũng thành công với thiền nên “một nghệ thuật ngủ” là cần thiết để giảm bớt… thuốc ngủ!

Có một “nghệ thuật… ngủ” như sau: Khi nào buồn ngủ thì đi ngủ ngay. “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên. Cơ tắc xan hề khốn tắc miên!” Đừng ráng. Ráng thì khó mà dỗ lại giấc ngủ!  Chưa buồn ngủ thì kệ nó, việc gì phải ngủ! Cơ thể sẽ biết cách tự điều chỉnh, nghĩa là biết cách ngủ bù! Tiếng Việt ta thiệt hay. Không nói mắc ngủ mà nói “buồn ngủ”? Vì buồn mới dễ ngủ. Vui khó ngủ. Vui là kích thích, là hào hứng, là rộn rã. Thở gấp, tim đập nhanh, huyết áp tăng. Buồn, mọi thứ xìu xuống. Giảm kích thích. Thở chậm, tim đập chậm và huyết áp cũng giảm. Cho nên cách dỗ giấc ngủ tốt nhất là làm cho cơ thể rơi vào trạng thái “buồn”. Đó là cách tách “thân xác” ra khỏi “thân hơi”. Buông xả toàn bộ thân xác, như rả nó ra, xì nó xuống, làm cho nó xẹp lép, hết căng. Đặt tay chân trong tư thế tự nhiên không gò ép, miễn dễ chịu. Khi “thân xác” đã xẹp lép, lửng lơ như vậy rồi thì tập trung chú ý tới “thân hơi”, tức là hơi thở của ta. Không cần phải cố gắng điều khiển hơi thở, ráng sức điều hoà hơi thở chi cả. Bởi còn ráng, còn cố gắng thì còn căng, không gọi là buông xả đựơc!  Cứ để “thân hơi” tự nhiên, nó sẽ biết lúc nào vào lúc nào ra, lúc nào nhiều lúc nào ít.  Nó có cơ chế điều chỉnh tự động tùy nồng độ dưỡng khí (O2) và thán khí (CO2) tác động lên trung khu hô hấp ở hành tủy. Vậy là ta rơi vào… giấc ngủ lúc nào không hay!

Cái khó lúc mới tập là ta thường dễ bị tràn ngập bởi những ý tưởng này nọ, những tính toán, những giận hờn, những âu lo… làm ta sôi lên. Mà đã sôi lên thì có trời mới ngủ được! Lúc đó nếu ta biết cách dùng thân hơi “dụ” thân xác, bằng cách tập trung theo dõi xem thân hơi đang dở trò gì, xì xọp ra sao, nhanh chậm, nhiều ít ra sao một lúc ta sẽ cắt đứt được dòng nghĩ tưởng. Thần kinh của ta trong cùng một lúc không thể nghĩ đến hai việc. Đã nghĩ việc này thì quên việc kia. Khi ta nghĩ đến thân hơi, tập trung quan sát nó, thì ta đã đánh lạc hướng những cái nghĩ tưởng khác.

Đã có người khuyên nên dỗ giấc ngủ bằng cách đếm sao trên trời hoặc nghĩ đến một dòng sông tuổi thơ, một bãi biển vắng người…! Thật ra đếm sao cũng còn căng thẳng, mất công nhớ số; nghĩ đến dòng sông tuổi thơ thì nhớ chuyện tắm ở truồng… Cứ chuyện này dắt chuyện kia mãi không ngớt. Chỉ có cách tìm một cái gì đó thật trung tính, không tạo kích thích thì đó là cách quan sát thân hơi. Thân hơi sẵn có, không phải tìm kiếm đâu xa, ngay trước mũi mình, cũng không đòi nghĩ tưởng gì cả. Bởi ta phải thở bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Thở ở trong ta mà như ở ngoài ta, chẳng cần ta, chẳng có ta. Thử hít một hơi thiệt dài, thiệt mạnh, thiệt sâu xem sao? Chỉ một lúc là đầu váng mắt hoa, phải tự động thở ra ngay, không muốn không được. Thử thở ra một hơi thiệt dài, thiệt mạnh, thiệt lâu xem sao! Chỉ một lúc là nó tự động thở vào, không muốn không đựơc! Nói cách khác, cái “thân hơi” đó nó tự ý, tự động. Do đó, ta có thể dùng thân hơi như một công cụ để … dụ thân thể quên đi tất cả những chuyện khác. Mà đã quên thì hết căng, hết căng thì xìu, xìu thì… buồn, buồn thì… ngủ vậy!

(BS Đỗ Hồng Ngọc)

http://www.trungtamhotong.org/index.php?module=thugian&function=detail&id=720