Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2017

XXXX Uống rượu say, rồi bị tai nạn vào bệnh viện>>cảm ơn Bác sỹ đã cứu mạng
Mà quên mất trước khi uống rượu, Đức Phật đã dạy tránh xa sự uống rượu mà không nghe
XXXX Đánh bạc đến bán cả cửa nhà, được người thân giúp >> cảm ơn họ.
Mà quên mất Đức Phật dạy tránh xa sử dụng chất kích thích…cũng đâu có nghe
Vô số những vấn đề như thế chúng ta cảm ơn người cứu mình khi đã là Quả xấu. Nhưng quên mất việc theo nghe lời dạy của người giúp ta tránh được ngay từ Nhân xấu.
Sự cứu khổ của Đức Phật chính là như thế, cứu bằng những lời chỉ dạy, vì muốn tránh khổ cho chúng sanh, nên Phật răn dạy đừng làm những điều xấu ấy, để không gieo Nhân xấu, thì ắt không phải gặt Quả xấu, nhưng chúng ta không nghe thì khổ đến lại trách sao Phật không cứu.

Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2017

* * *
 I- ÐỊA CHỈ CHÙA NAM TÔNG TẠI SÀI GÒN
 QUẬN 2
CHÙA NGUYÊN THỦY
33-A đường 10,khu Phố 1, phường Cát Lái, Q.2, Tp.HCM
ÐT: 08. 742 0214; 0918. 325 769
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP CHẤT
QUẬN 3
CHÙA KỲ VIÊN
610 Nguyễn Ðình Chiểu, phường 3, Q.3, Tp.HCM
ÐT: 08. 832 5522; 830 0845; 830 5135; 830 0846; 0903. 870 370
Trụ trì: Tỳ khưu TĂNG ÐỊNH
CHÙA CHANDARAMSYA (Khmer)
164/235 Trần Quốc Thảo, phường 7, Q.3, Tp.HCM
ÐT: 08. 843 5359
Trụ trì: Tỳ khưu DANH LUNG (Ekasuvanna)
QUẬN 6
CHÙA TRÚC LÂM (Quận 6)
154B Đặng Nguyên Cẩn, phường 13, Q. 6, Tp.HCM
ÐT: 08. 876 3324
Trụ trì: Tỳ khưu PHÚC HỶ
CHÙA SIÊU LÝ (Phú Định)
241-B/44/37 Nguyễn Văn Luông, phường 11, Q.6, Tp.HCM
ÐT: 08. 876 1635 - 08. 876 7570 - 08. 876 7614 - 0903. 856 825
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP NHIÊN
 QUẬN 7
CHÙA BỒ ÐỀ (Tân Quy)
6B/1 Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, Q.7, Tp.HCM
ÐT:
Trụ trì: Tỳ khưu PHƯỚC ĐỨC
QUẬN 8
CHÙA GIÁC QUANG
47 Lương Văn Can, phường 15, Q.8, Tp.HCM
ÐT: 08. 8 549.247
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN ÐẠT
QUẬN 9
XÁ LỢI PHẬT ÐÀI
246/5 Vĩnh Thuận, phường Long Bình, Q.9, Tp.HCM
ÐT: 08. 8870 211 - 08. 8870 212 - 090. 604 882
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN NHÂN
CHÙA KIỀU ÐÀM
Ấp Cây Dầu, phường Tân Phú, Q.9, Tp.HCM
ÐT: 08. 8961 696
Trụ trì: Tỳ khưu NHẬT THIỆN
CHÙA BỬU LONG
số 81,  đường Nguyễn Xiển, phường Long Bình, quận 9, Tp.HCM.
ÐT: 08. 7325 059 – 061. 831 193 – 08. 8889 513
Trụ trì: Tỳ khưu VIÊN MINH
Q. BÌNH THẠNH
CHÙA PHÁP QUANG
414/17 Nơ Trang Long, phường 13, Q.Bình Thạnh, Tp.HCM
ÐT: 08. 8432 913
Trụ trì: Tỳ khưu MINH GIÁC
Q. GÒ VẤP
CHÙA PHÁP LUÂN
19/1C Nguyễn Thái Sơn, Q.Gò Vấp, Tp.HCM
ÐT: 08. 9850 748 - 08. 8956 514
Trụ trì: Tỳ khưu PHƯỚC HẢI
CHÙA PHỔ MINH
2 Thiên Hộ Dương, phường 1, Q.Gò Vấp, Tp.HCM
ÐT: 08. 8945 049 - 0903. 951 075
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN TÂM
CHÙA TỪ QUANG
63 Trần Bình Trọng, phường 1, Q.Gò Vấp, Tp.HCM
ÐT: 08. 8931 499
Trụ trì: Tỳ khưu Minh Đức (ĐT: 0908 353 221)
CHÙA THANH MINH
90 Trần Huy Liệu, phường 15, Quận Phú Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam
ĐT: 08. 8457 792
Trụ trì: Tỳ khưu THANH MINH
Q. TÂN BÌNH
CHÙA DIỆU QUANG
100 Trần Văn Quang. Phường 10, Q.Tân Bình, Tp.HCM
ĐT: 08. 9742 304
Trụ trì: Tu nữ DIỆU TÂM (Sư cô HIỀN)
CHÙA PHẬT BẢO
57 Lạc Long Quân, phường 10, Q.Tân Bình, Tp.HCM
ÐT: 08. 8640 285 - 0913. 977 727
Trụ trì: Tỳ khưu Quang Minh
CHÙA BODHIVAMSA POTHI VONG (Khmer)
1985B Hồng Lạc, phường 10, Q.Tân Bình, Tp.HCM
ÐT: 08. 9710 131
Trụ trì: Tỳ khưu TĂNG NGỌC AN (Pannasaro)
Q. TÂN PHÚ
CHÙA BỬU THẮNG
73 Lê Thiệt (Văn Cao-Lê Thiệt), p.Phú Thọ Hòa, q. Tân Phú.
Trụ trì: Tỳ khưu Chơn Minh (0908 669 888)
Q. THỦ ÐỨC
CHÙA BỬU QUANG
171/10 QL. 1A, tổ 8, khu phố 3, ấp Gò Dưa, phường Bình Chiểu, Q.Thủ Ðức, Tp.HCM
ÐT: 08. 3729 0248; 0903. 870 370
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN MINH
CHÙA BỬU HẠNH (Tịnh thất Cây Mít Nài)
Tổ 8,khu phố 3, ấp Gò Dưa, phường Bình Chiểu, Q.Thủ Ðức, Tp.HCM
CHÙA BÁT CHÁNH ĐẠO
16/12A, đường số 12, khu phố 4, phường Tam Bình, Q.Thủ Đức.
ÐT: 0973 152 615
Trụ trì: Tỳ khưu Phước Định
HUYỆN BÌNH CHÁNH
CHÙA NAM TÔNG
220/110/166/1, thị trấn An Lạc, huyện Bình Chánh, Tp.HCM
ÐT: 08. 8754 246 - 08. 8858 099
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN HẠNH
CHÙA TĂNG BẢO
D3/1D Ấp 4, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Tp.HCM
ÐT: 08. 7650 521 - 0908. 432 930, 01688 925 246
Trụ trì: Tỳ khưu BỬU MINH
HUYỆN HÓC MÔN
TỊNH XÁ TRÚC LÂM (Hóc Môn)
18/1 Ấp Xuân Thới Ðông, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Tp.HCM
ÐT: 08. 710 8863; 883 0110
Trụ trì: Tỳ khưu TRÍ MINH
 -ooOoo-
II- ÐỊA CHỈ CHÙA NAM TÔNG TẠI CÁC NƠI KHÁC
AN GIANG
CHÙA SÔM XÂY
Ấp Phú Thọ, xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
ĐT: 076 272135
Trụ trì: Tk. Châu Xiếp
CHÙA TƯ'K PHÔ'S (Kh'mer)
Ấp An Lợi, xã Châu Lăng, Huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Trụ trì: Thượng tọa CHÂU HẮC
Điện thoại: 0913 12 59 70
BÀ RỊA - VŨNG TÀU
CHÙA THIỀN LÂM (THÍCH CA PHẬT ÐÀI)
4/7 Trần Phú, phường 5, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ÐT: 064. 834 418
Trụ trì: Hòa thượng KIM MINH
CHÙA BỒ ÐỀ (Vũng Tàu)
25 Vi Ba, phường 1, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ÐT: 064 510450 - 09003. 645 916
Trụ trì: Tỳ khưu CHÁNH MINH
TAM BẢO THIỀN ÐƯỜNG
72 Vi Ba, phường 1, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ÐT:
Trụ trì: Tỳ khưu THẮNG PHƯỚC
CHÙA PHƯỚC HẢI (Vũng Tàu)
38 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường 2, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
ÐT: 064. 854 664
Trụ trì: Tỳ khưu MINH HẠNH
CHÙA HỘ PHÁP
45/4C Trần Phú, phường 5, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ÐT: 064. 832 575
Trụ trì: Tỳ khưu GIÁC TRÍ (0937099508)
CHÙA NAM SƠN (Giri Dakkhinasattharama)
33/18 Tổ 29,khóm Bình Sơn, đường Trần Xuân Độ, phường 6, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ĐT: 064. 562 355
Trụ trì: Tỳ khưu Quách Thành Sattha (Cittapanno)
THIỀN ÐƯỜNG PHẬT QUANG
KHU PHỐ  5, phường Phước Hưng, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ÐT: 064. 827 138 - 091. 700 688
Trụ trì: Tỳ khưu GIÁC TRÍ
THIỀN VIỆN VIÊN KHÔNG
Khu 2, ấp 4, xã Tóc Tiên, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
ÐT: 064 948 533 - 0913. 886 778; 0903 058 315
Trụ trì: Tỳ khưu HỘ PHÁP
THIỀN VIỆN BỒ ĐỀ
78/14 Bình Giã, F.8 , tp Vũng Tàu,
ÐT:
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN MINH
Khemarama - TỊNH AN LAN NHÃ (Đối Diện Chùa Tịnh Quang Suối Nghệ)
Quốc lộ 56 – Tổ 11 – Thôn Quảng Thành – Xã Nghĩa Thành, Huyện Châu Đức, Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Trụ trì: Sư cô Như Liên
Mob: (084) 1683506446. Tel : (084) 064 3975 050
NI VIỆN VIÊN KHÔNG
Khu 2, Ấp 4, xã Tóc Tiên, huyện Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu.
Trụ trì: Sư cô Liễu Pháp
CHÙA VIÊN TUỆ
Tổ 7, ấp Gò Cát, xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu. Trụ trì: Tỳ khưu Khánh Tuệ (Đinh Văn Hùng )
Sđt : 0976698976
BẾN TRE
CHÙA TÂM THÀNH
Xã Quới Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre
ĐT: 075. 623 200 - DĐ : 0917 850 526
BÌNH DƯƠNG
CHÙA THANH LONG
42/23 Ấp Tân Lập, phường Phú Thọ, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
ÐT:
Trụ trì:
TỊNH THẤT PHƯỚC MINH
Tỉnh Bình Dương
Trụ trì:
CHÙA KIM QUANG
Tỉnh Bình Dương
Trụ trì: Tỳ khưu TUỆ PHÁP
CHÙA HỘI QUANG
B11, tổ 11, ấp Cây Sắn, xã Lai Quyên, huyện Bàu Bàn, tỉnh Bình Dương
Đt: 0982 802 604
Trụ trì: Tỳ khưu Trung Thiện
BÌNH ÐỊNH
CHÙA PHƯỚC QUANG
Thôn Vạn Quang, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Ðịnh
ÐT: 0651. 616 007
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP THÀNH.
BÌNH PHƯỚC
CHÙA TỨ PHƯƠNG TĂNG
Xã Phước An, ấp Xa Trạch, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước
ÐT:
Trụ trì: Tỳ khưu PHƯỚC TỊNH
TAM BẢO THIỀN ÐƯỜNG
Trụ Thơ, khu phố Phú Bình, thị Trấn An Lộc, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước
ÐT: 0651. 666 653 - 091. 722 183
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN TRÍ
BÌNH THUẬN
CHÙA BÌNH LONG
Phường Đức Long, Tp.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
ĐT: 062. 816 673, 0908. 382 223
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP TẤN
CẦN THƠ
TỊNH THẤT SIÊU LÝ (Thốt Nốt)
Huyện Thốt Nốt, Tp.Cần Thơ
ÐT: 071. 644 376
Trụ trì: Tu nữ NGỌC DUYÊN
Chùa PITUKHOSARANGSAY (Viễn Quang)
Địa chỉ: Mạc Đĩnh Chi, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ.
Chùa MUNIRENSAY
Địa chỉ: 36 đại lộ Hòa Bình, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ.
ÐÀ NẴNG
CHÙA TAM BẢO
323 Phan Châu Trinh, phường Bình Hiên, quận Hải Châu, Tp.Ðà Nẵng.
ÐT: 05113 823 399
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP HIẾU (0918 189 257)
ĐAK LAK
CHÙA PHỔ QUANG
Thôn 1, xã Quãng Tiến, huyện Cưm-gar, tỉnh Đaklak.
ĐT: 0935 - 330 199
Trụ trì: Tỳ khưu TÂM ĐỊNH
ÐỒNG NAI
CHÙA BỬU ÐỨC
C-61-A, phường Bửu Long, Tp.Biên Hòa, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 952 320 - 0913. 684 564
Trụ trì: Tỳ khưu GIÁC CHÁNH
CHÙA THIỀN QUANG 1
Ấp 8, xã Bình Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 845 027
Trụ trì: Tỳ khưu THIỆN PHÁP (0908 504 488)
CHÙA THIỀN QUANG 2
219 Ấp 3, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 845 366 -
Trụ trì: Tỳ khưu CHÍ TÂM (0918 902 099)
CHÙA CỒ ÐÀM
120 Ấp 8, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 0903. 856 857 - 0903. 608 823
Trụ trì: Tỳ khưu CHƠN THIỆN
CHÙA NGỌC ÐẠT
Ấp Ðông, xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 831 630
Trụ trì: Tỳ khưu TRÍ ÐỨC
CHÙA PHƯỚC HỘ
Tổ 21, ấp Tân Cang, xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 0918. 342 115
Trụ trì: Tỳ khưu MINH HUỆ
THIỀN VIỆN PHƯỚC SƠN
Ðồi Lá Giang, 368 Suối Tân Cang, ấp Tân Cang, xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 967 234 - 061. 967 237
Trụ trì: Tỳ khưu BỬU CHÁNH (0913 940 683 - 0913 629 860)
CHÙA Y SƠN
Ấp Tân Cang, xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT:
Trụ trì: Tỳ khưu PHƯỚC QUANG
CHÙA TAM PHƯỚC
247 K II, ấp Long Khánh 1, xã Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 511 590 - 0903. 856 854
Trụ trì: Tỳ khưu CHÁNH ÐỊNH
CHÙA PHƯỚC HUỆ (Long Thành)
311/9 QL 51,khu Cầu Xeo, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai.
ÐT: 061. 845 502
Trụ trì: Tỳ khưu TÂM HỶ
CHÙA QUANG MINH
Ấp 1, xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 845 872
Trụ trì:
CHÙA QUẢNG NGHIÊM
Ấp Ðông, xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 832 713 - 0903. 880 456
Trụ trì: Tỳ khưu TUỆ QUYỀN
CHÙA PHƯỚC QUANG
Ấp 1, xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 848 141
Trụ trì: Tỳ khưu CHƠN QUANG
CHÙA THÁI HÒA
Km 112, ấp Hiệp Nhất, huyện Ðịnh Quán, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 852 810
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP TÂN
CHÙA PHƯỚC HUỆ (Ðịnh Quán)
Km 90, ấp Cây Xăng, xã Phù Tức, huyện Ðịnh Quán, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 639 598
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP HUYỀN
CHÙA TỪ THIỆN
Km 90, ấp Ðồn Ðiền 1, xã Túc Trưng, huyện Ðịnh Quán,
Tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 639 899
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP ĐĂNG
CHÙA LINH PHÚ
Km 139, Quốc Lộ 20, xã Phú Sổ, huyện Tân Phú, tỉnh Ðồng Nai
ÐT: 061. 858 101
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP CĂN.
TỊNH THẤT NGUYÊN KHÔNG
Ấp 9/4, xã Xuân Thạnh, huyện Thống Nhất, Đồng Nai.
Trụ trì: Tỳ khưu Phước Tùng (Phan Thanh Tùng).
Đt : 0903 610420
HÀ NỘI
CHÙA NỘI PHẬT (NAM THIÊN)
Thôn Nội Phật, xã Mai Đình, huyện Sóc Sơn, tp Hà Nội
Trụ trì: Tỳ khưu Minh Từ
THIỀN VIỆN TÂM PHÁP
Tam Đảo – Vĩnh Phúc
Trụ trì: Tỳ khưu Tâm Pháp 
CHÙA ĐỨC HÒA
Sóc Sơn – Hà Nội
Viện chủ: Tỳ khưu Thiện Minh, trụ trì: Tu nữ Hương Thiền
Đt : 0944915 698
CHÙA KHMER
Địa chỉ: Làng văn hoá – Du lịch các dân tộc Việt Nam – Đồng Mô – Sơn Tây
Trụ trì: Tỳ khưu Kim Tuệ
BẮC NINH
CHÙA HỘ PHÁP
Đào Xuyên, xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Viện chủ: TT Giác Trí, trụ trì: ĐĐ Tâm Pháp, ĐĐ Nguyên Tuệ.
Đt: 0937099508
HUẾ
CHÙA TĂNG QUANG
2/3/91 Nguyễn Chí Thanh, phường Phú Hiệp, Tp.Huế
ÐT: 054. 3541597 - 0914729792
Trụ trì: Tỳ khưu TÁNH HIỀN
CHÙA HUYỀN KHÔNG
Hương Hộ, hương Trà, Tp.Huế
ÐT: 054. 550 138 , 0913. 457 006
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP TÔNG
CHÙA HUYỀN KHÔNG Sơn Thượng
Hương Hộ, hương Trà, thừa Thiên Huế
Trụ trì: Tỳ khưu GIỚI ĐỨC
CHÙA THIỀN LÂM
Thượng 2, xã Thủy Xuân, phường Hương Thủy, Tp.Huế
ÐT: 054. 836 081
Trụ trì: Tỳ khưu TÂM AN
CHÙA PHÁP LUÂN
(Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa)
3 Lê Quý Đôn, thành phố Huế
ĐT: 054. 815 161
Trụ trì: Tỳ khưu TUỆ TÂM
CHÙA ĐỊNH QUANG
Xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, thừa Thiên Huế
Trụ trì: Tỳ khưu CHƠN HỮU
TỊNH XÁ GOTAMI
Thừa Thiên Huế
Trụ trì: Sư cô Từ Nguyên
KHÁNH HÒA
CHÙA NHƯ Ý
Tổ 14, núi Sạn, Tây Nam, Vĩnh Hải, Tp. Nha Trang (trước BV Lao và phổi)
ÐT: 058. 833 825; 0905. 153 647
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP TÂM
Nguyễn Đăng Khoa (Sư Đức Hiền) dt 0.90.50.40.654                                                                                       
THIỀN TRANG VIÊN HÒA
Tổ 4, thôn Cát Lợi, xã Vĩnh Hương, Tp. Nha Trang
ĐT: 01699 460 309
Quản tự: Sc TỊNH HỶ
KIÊN GIANG
CHÙA THIÊN TRÚC (Chùa Phật Lớn)
Ðường Phương Thành, Khu phố 4, phường Bình San, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
ÐT: 077. 3852 993; 0983 830 024
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP HẢO
CHÙA LÁNG CÁT RATANARANGSI (Khmer)
KHU PHỐ 4, phường Vĩnh Lạc, thị xã Rạch Giá
ĐT: 077. 863 786
Trụ trì: Hòa thượng DANH NHƯỜNG
CHÙA SURIVANSA SURIYA (Khmer)
36 Cao Thắng, khu phố  3, phường Vĩnh Lợi, huyện Rạch Sỏi, thị xã Rạch Giá
ĐT: 077. 864 270; 0913 790 192
Trụ trì: Tỳ khưu DANH DĨNH >>> người nhận đã chết
CHÙA SÓC XOÀI RAJAKUSALA BOMPENHJAYA (Khmer)
Xã Sóc Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
ĐT: 077. 842 741
Trụ trì: Tỳ khưu DANH PHẢN
LÂM ĐỒNG
CHÙA ĐỊNH QUANG
Thôn Phú Thạnh, xã Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
ĐT: (063. 622 257
Trụ trì: Tỳ khưu Pháp Lực.
QUẢNG NAM
CHÙA NAM QUANG
430 Cửa Đại, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam.
ĐT: 0905370514
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP CAO
CHÙA THÁI BÌNH
Xã Điện Phước, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
CHÙA GIÁC VIÊN
Xã Bình Đào, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Trụ trì: Tỳ kheo Giới Hỷ.
SÓC TRĂNG
CHÙA KH'LEANG (Khmer)
71 đường Lương Định Của (Mậu Thân), thị xã Sóc Trăng
ĐT: 079. 821 340
Trụ trì: Tỳ khưu TĂNG NÔ
CHÙA MAHATUP (Chùa Dơi, Mã Tộc) (Khmer)
73-B đường Lê Hồng Phong, phường 3,
Thị xã Sóc Trăng
TIỀN GIANG
CHÙA PHÁP BẢO
44/448 Lý Thường Kiệt, phường 5, Tp.Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
ÐT: 073. 878 169 - 073. 878 168
Trụ trì: Tỳ khưu BỬU HIỀN
CHÙA PHƯỚC HẢI (Tân Hiệp)
261/4 Ấp Rẩy, thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
ÐT: 073. 831 066
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP NGỘ
CHÙA ÐÔNG PHƯƠNG
QL 1, số 317,khu 5, thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
ĐT: 073. 916 722
Trụ trì: Tỳ khưu CHÍ THÀNH
CHÙA LINH CỔ
Ấp Thân Hoà, thân Cửu Nghĩa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
ĐT: 073. 3934 777 - 0918 609 435
Trụ trì: Tỳ khưu PHÁP GIỚI
TRÀ VINH
CHÙA BỬU CHÂU
70 Lý Tự Trọng, phường 4, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
Trụ trì: Tỳ khưu Thiện Giới
CHÙA SAMRONG-EK
Quốc lộ 53, khóm 6, phường 8, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
ĐT: 074. 842 168
Trụ trì: Tỳ khưu SANTIPALO HỘ TỊNH (Thạch Kim Ngân)
CHÙA ANGORAJAPURI (Chùa Ang, Ao Bà Om)
Quốc lộ 53, khóm 4, phường 8, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
ĐT: 074. 842 062; 0913. 659 376
Trụ trì: Hòa thượng CANDASIRI NGUYỆT QUANG (Thạch Sóc Sang)
CHÙA KAMPONGNIGRODHA KOMPONG CHRÂY (Chùa Hang)
Khóm A, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
ĐT: 074. 872 579
CHÙA SUVANNAVIJAYA CHRAYKOK (còn có tên dân gian là Chùa Bà Nhì)
Ấp Bà Nhì, Xã Đôn Xuân, Huyện Trà Cú, Tỉnh Trà Vinh.
Trụ Trì: Tỳ Kheo Thạch Sa Mi
VĨNH LONG
CHÙA VIÊN GIÁC
50/5 Trần Phú, phường 4, thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Trụ trì: Tỳ khứu GIÁC GIỚI
CHÙA SIÊU LÝ (Vĩnh Long)
162/8 Ðường 14-9, phường 5, thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
ÐT: 070. 823 885
Trụ trì: Tỳ khưu GIÁC SƠN
CHÙA BỬU QUANG (Vĩnh Long)
Xã Mỹ Thanh Trung, thị trấn Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
CHÙA HẠNH PHÚC TĂNG SANGHAMANGALA
Ấp Trung Trạch, xã Trung Thành, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Tỳ khưu Sơn Ngọc Huynh
TỊNH XÁ NGỌC ĐĂNG
Ấp Phú Tiên, xã Trung Nghĩa, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long
ĐT: 070. 871 518
Trụ trì: Tỳ khưu Minh Thảo
THIỀN VIỆN THIỆN MINH
Xã Bình Hòa Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
ĐT:
Trụ trì: Tỳ khưu Thiện Minh (0903 870 370).
CHÙA NHƯ PHÁP
Địa chỉ: chợ Cái Đôi, Mỹ Thuận, TP Vĩnh Long.
Trụ trì: Tu nữ Mỹ Hồng
 * (Danh sách cập nhật ngày 13 tháng 7 năm 2014)

Thứ Tư, 27 tháng 9, 2017



-       Nghiệp Kamma là hành động có chủ ý, chủ định làm  mới tạo ra nghiệp
- Có nghiệp trên thân, trên lời nói và trên ý.
- Có nghiệp thiện, bất thiện và duy tác (Của Phật và các bậc A la hán, vì các ngài không còn vô minh và tham ái là các Nhân tạo nghiệp)
- Nghiệp là quy luật tự nhiên, không phải do Đức Phật hay thượng đế nào chế tạo ra.
“Thiện nghiệp cho quả tốt, quả an lạc, Ác nghiệp cho quả xấu, quả khổ đau”.
-Nếu thiện nghiệp có cơ hội cho quả, thì người ấy là người thừa hưởng quả tốt, quả an lạc của thiện nghiệp ấy một cách bị động mà không có quyền lựa chọn, chỉ chấp nhận dễ dàng quả tốt, quả an lạc của thiện nghiệp ấy mà thôi.
- Nếu ác nghiệp có cơ hội cho quả thì người ấy cũng là người thừa hưởng quả xấu, quả khổ đau của ác nghiệp ấy một cách bị động mà không có quyền lựa chọn, chỉ chấp nhận quả xấu, quả khổ đau của ác nghiệp ấy mà thôi, không thể tránh khỏi được.
Như vậy, muốn được quả tốt, quả an lạc thì nên biết lựa chọn tạo thiện nghiệp. Và không muốn quả xấu, quả khổ đau, thì không nên lựa chọn tạo ác nghiệp.
Ví dụ về nghiệp và Quả cúa nghiệp:
Hành ác nghiệp sát sinh, hành hạ chúng sinh thì chịu quả chết yểu, và nhiều bệnh hoạn
 Hành ác nghiệp sân hận, quả của ác nghiệp sân hận là người xấu xí
 Hành ác nghiệp hay ganh tỵ, quả của ác nghiệp hay ganh tỵ là người có ít quyền lực,
Hành ác nghiệp không bố thí, quả của ác nghiệp không bố thí là người có ít của cải,
Hành ác nghiệp khó dạy, không biết tôn kính, quả của ác nghiệp khó dạy, không biết tôn kính là người thấp hèn .
 Hành ác nghiệp không học hỏi về ác pháp, thiện pháp từ các bậc thiện trí, quả của ác nghiệp này là trở thành người không có trí tuệ (người ngu dốt).
 Tất cả mọi chúng sinh đều có nghiệp là của riêng họ, họ là người thừa hưởng quả của nghiệp của họ; nghiệp là nhân sinh ra họ, nghiệp là bà con thân quyến của họ; nghiệp là nơi nương nhờ của họ. Ta đã tạo thiện nghiệp nào hoặc ác nghiệp nào, rồi thiện nghiệp ấy hoặc ác nghiệp ấy là của riêng ta, hoàn toàn không phải của người khác, những người khác không liên quan đến nghiệp ấy của ta.
Như vậy, trong đời này, ta còn có nhiều tài sản quý báu như cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái, bà con thân quyến, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, của cải, tài sản, sự nghiệp v.v… tất cả mọi tài sản quý báu ấy không phải của riêng ta. nghiệp của họ là thân quyến theo hộ trì, hỗ trợ suốt cuộc đời của họ, nghiệp của họ là nơi nương nhờ của họ từ kiếp này sang kiếp khác trong vòng tử sinh luân hồi trong 3 giới 4 loài. Cho nên, nếu họ đã tạo thiện nghiệp nào thì họ được thừa hưởng quả an lạc của thiện nghiệp ấy của họ. Và nếu họ đã tạo ác nghiệp nào thì họ phải chịu thừa hưởng quả khổ của ác nghiệp ấy của họ. Ngoài nghiệp chắc chắn là của riêng ta ra, còn lại tất cả tài sản quý báu khác ở trong đời đều là của chung mà mỗi người tạm thời thay phiên nhau làm chủ, song vẫn còn tuỳ thuộc vào năng lực quả của nghiệp của họ.
 Chính nghiệp phân loại chúng sinh thấp hèn hoặc cao quý.
"Chúng sanh lên cao hay xuống thấp là do nơi Nghiệp."
Nghiệp và tái-sanh trả lời cho chúng ta về điều gì?

o Vấn đề sướng khổ mà chính ta phải chịu trách-nhiệm;
o Sự chênh lệch gần như bất công giữa nhân loại;
o Tại sao có những vĩ nhân và thần đồng;
o Sự khác nhau về tánh-tình, xu-hướng của các trẻ trong một gia-đình hoặc giữa trẻ sinh đôi, sinh ba…
o Sự khác nhau về đạo-đức và trí-tuệ giữa cha mẹ và con cái;
o Tật xấu tự nhiên của trẻ thơ, như tham lam, sân hận và ganh ghét;
o Mối thiện cảm hoặc ác cảm của chúng sanh đối với nhau trong khi gặp gỡ lần đầu tiên;
o Ðiều lành và điều dữ đã sẵn có trong mỗi người;
o Sự thay đổi bất ngờ của một người thiện trí thức ra một kẻ tầm thường, hoặc một kẻ sát nhân thành bực thánh-nhân;
o Tại sao có những cái chết bất đắc kỳ tử và sự thay đổi tài sản sự nghiệp một cách bất ngờ;
o Những đặc tính xuất chúng, tinh thần đạo đức trí tuệ viên mãn của các bậc toàn giác như Ðức Phật....
 4 loại nghiệp là thế nào?
1.Cực trọng nghiệp: là nghiệp nặng nhất có quyền ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau trước tiên, không có nghiệp nào có thể ngăn cản được.
Nếu không có cực trọng nghiệp này, thì kế tiếp nghiệp cận tử (āsannakamma) cho quả tái sinh kiếp sau.
Ác nghiệp Cực trọng nghiệp có 2 loại:
a- Ác nghiệp tà kiến cố định
1. Tà kiến này còn gọi là đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi) chết rồi là hết, không có tái sinh kiếp sau trong cõi nào cả.
2. Chấp lầm rằng: “Chúng sinh đang chịu mọi cảnh khổ, hoặc đang hưởng mọi sự an lạc. Đó là điều tự nhiên, không phải do từ nhân nào, duyên nào nghĩa là không do từ ác nghiệp hoặc thiện nghiệp nào cả”.
3. Chấp lầm rằng Làm ác không có tội, làm thiện không có phước.
b- 5 ác nghiệp vô gián
- Ác nghiệp giết cha.
- Ác nghiệp giết mẹ.
- Ác nghiệp giết bậc Thánh Arahán.
- Ác nghiệp làm bầm máu bàn chân của Đức Phật.
 - Ác nghiệp chia rẽ chư Tỳ khưu
Hết kiếp hiện tại này, ác nghiệp này liền sinh quả tái sinh kiếp kế tiếp ngay, không có gián đoạn. Do đó, ác nghiệp này gọi là ác nghiệp vô gián.
2.  Loại nghiệp cận tử là nghiệp phát sinh lúc lâm chung. Nếu không có nghiệp trọng yếu, thì nghiệp cận tử này có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau.
Nếu không có nghiệp trọng yếu và nghiệp cận tử, thì kế tiếp nghiệp thường hành (āciṇṇakamma) cho quả tái sinh kiếp sau.
3. Loại nghiệp thường hành là nghiệp thường được hành hằng ngày đêm đã trở thành thói quen. Nếu không có nghiệp trọng yếu và nghiệp cận tử, thì nghiệp thường hành này có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau.
Nếu không có cả 3 loại nghiệp trên (nghiệp trọng nhẹ, nghiệp cận tử và nghiệp thường hành), thì kế tiếp nghiệp loại thường (kaṭattākamma) cho quả tái sinh kiếp sau.
4.  Loại nghiệp loại thường là nghiệp yếu hơn 3 loại nghiệp trên, nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hoặc nghiệp đã được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau.
Nếu xét về năng lực của nghiệp thì nghiệp cận tử không thể có nhiều năng lực hơn nghiệp thường hành, bởi vì nghiệp cận tử được phát sinh trong khoảng thời gian ngắn ngủi lúc lâm chung, còn nghiệp thường hành đã được tạo và được tích lũy trong khoảng thời gian lâu dài trong kiếp hiện tại. Do đó, nghiệp thường hành có nhiều năng lực hơn nghiệp cận tử.
Những quan niệm về nghiệp và quả của nghiệp
- Một số người có quan niệm rằng:
“Hễ còn nghiệp thì còn có quả của nghiệp, còn phải tái sinh kiếp sau”.
chư bậc Thánh Arahán tuy không tạo thêm nghiệp mới, nhưng tất cả mọi nghiệp cũ vẫn còn, nếu thiện nghiệp nào hoặc ác nghiệp nào có cơ hội cho quả của nó, thì thiện nghiệp ấy hoặc ác nghiệp ấy vẫn chỉ có khả năng cho quả cho đến trước khi tịch diệt Niết Bàn mà thôi. Khi bậc Thánh Arahán tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong tam giới, đồng thời tất cả mọi thiện nghiệp, và mọi ác nghiệp đều trở thành nghiệp vô hiệu quả (ahosi kamma) vĩnh viễn không còn hiệu lực cho quả của nghiệp nữa.
- Một số người có quan niệm rằng:
“Cố gắng làm phước để xóa tội” có nghĩa là cố gắng tạo thiện nghiệp để xóa bỏ ác nghiệp.
Điều ấy cũng không thể được, bởi vì ác nghiệp đã tạo trong thời quá khứ đã qua, còn thiện nghiệp đang tạo trong lúc hiện tại, không thể trở lui lại thời gian quá khứ để xóa bỏ ác nghiệp ấy. Nhưng khi tạo thiện nghiệp trong thời hiện tại, có khả năng làm giảm bớt tiềm năng cho quả của ác nghiệp quá khứ ấy.
Ví dụ: 1 kg muối có vị mặn nhiều, người ta đem 1 kg muối ấy đổ vào trong hồ lớn, rồi đổ nhiều khối nước vào hồ lớn, thì làm cho vị mặn của 1 kg muối ấy bị tan loãng ra, cho nên vị mặn của muối không còn như trước nữa. Cũng như vậy, một người nào trước kia đã tạo ác nghiệp, về sau người ấy cố gắng tinh tấn tạo nhiều thiện nghiệp, chính nhờ thiện nghiệp sau này làm giảm bớt tiềm năng cho quả của ác nghiệp trước kia, nhưng không thể xóa được ác nghiệp trước kia.
Ngoài Thiện nghiệp này ra không còn có Thiện nghiệp nào có đủ khả năng tận diệt được Nghiệp mà người đã tạo.
Nên nhớ rằng: sự hưởng phước (hay gọi là chạy khỏi nghiệp ác trả quả tạm thời) chưa phải là giải thoát thật sự, vĩnh viễn, phước thường không phải là Thánh quả, nó chỉ giúp ta được sanh vào nơi nào mà ác nghiệp không có cơ hội thuận tiện để trả quả thôi. Khi hưởng hết phước, ác nghiệp sẽ đến trả quả liền. Vì vậy gọi phước là phương tiện chạy trốn khỏi nghiệp ác tạm thời mà thôi.

 Người làm phước cũng vậy, chưa làm đúng cách hay còn thiếu chưa đúng độ nên chưa có kết quả mỹ mãn đó thôi. Dù vậy cũng không phải là mất hết công đức nhưng chỉ vì còn quá ít nên chưa trả quả thôi.

Theo Phật giáo: Quả của phước là tâm được trong sạch, được kỳ mài, chùi rửa hết phiền não, và không còn chìm đắm trong vòng luân hồi nữa. Người không còn bị sự hành hạ cho đau khổ nữa nên gọi là phước. Phước là sự được giải thoát khỏi luân hồi.
Còn quả của phước mà người đời ham muốn nào là sự an lạc trong cõi nhân thiên như là sang giàu, quyền chức, vợ đẹp, con khôn, đaây cũng là quả của phước, nhưng người làm phước không được thọ hưởng liền khi vừa làm phước xong, vì còn đợi một thời gian sau mới được hưởng.
Còn quả hiện tại mà người làm phước được liền trong khi đang làm là sự vui vẻ trong tâm, làm cho tâm thơ thới, đó mới là phước thực sự. Điều này chỉ có các bậc trí thức mới nhận thấy rõ.
 Bởi vì thiện nghiệp nào hoặc ác nghiệp nào có cơ hội, hội đủ điều kiện của nó, thì thiện nghiệp ấy hoặc ác nghiệp ấy mới có cơ hội cho quả của nó. Quả an lạc của thiện nghiệp hoặc quả khổ của ác nghiệp ấy đều có thời gian lâu hoặc mau hoàn toàn tùy thuộc vào năng lực của thiện nghiệp ấy hoặc ác nghiệp ấy.
Đặc biệt, trong kiếp hiện tại, nếu người nào tạo thiện nghiệp nào có nhiều năng lực do hội đủ điều kiện; hoặc ác nghiệp nào có nhiều năng lực, thì thiện nghiệp ấy hoặc ác nghiệp ấy có cơ hội cho quả của nó ngay trong kiếp hiện tại đối với người ấy. Quả của nghiệp trong kiếp hiện tại này có thể làm giảm bớt tiềm năng hoặc thay đổi được quả hiện hữu của nghiệp quá khứ.

http://trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/NghiepVaQuaCuaNghiep/Nghiep7.htm
https://thuvienhoasen.org/a12847/03-chu-de-toi-phuoc

Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2017

Chánh ngữ là lời nói chân chánh, không tạo nghiệp bất thiện bằng lời nói, mà trái lại, dùng lời nói để tạo các nghiệp thiện lành. Trong Bát Chánh Đạo, Chánh Ngữ là chi thứ ba, và được định nghĩa như sau, như đã ghi trong Tương Ưng Bộ: "Thế nào là Chánh ngữ? Đó là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm". Đó là về mặt tiêu cực. Về mặt tích cực, Đức Phật cũng dạy rằng chúng ta phải cố gắng tu tập để có những lời nói chân thật, hòa hợp, dịu dàng, và có ý nghĩa. Khi ta thực tập được những lời nói nầy, ta được nhiều người quý mến. Để đáp lại, họ sẽ lắng nghe những gì ta nói ra, và sẽ đáp ứng thân thiện và xây dựng.
Trong Tăng Chi Bộ 10.176, Đức Phật dạy:

-- "Có bốn pháp tịnh hạnh về lời nói:

1) Ở đây, có người đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo. Nếu không biết, người ấy nói: "Tôi không biết"; nếu biết, người ấy nói: "Tôi biết"; nếu không thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy"; nếu thấy, người ấy nói: "Tôi thấy". Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợi gì.

2) Người ấy đoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi. Nghe điều gì ở chỗ này, người ấy không đi đến chỗ kia nói, để gây chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, người ấy không đi nói với những người này, để gây chia rẽ ở những người kia. Như vậy người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp.

3) Người ấy đoạn tận lời nói độc ác, từ bỏ lời nói độc ác. Người ấy chỉ dùng những lời nói nhu hòa, êm tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui ý nhiều người.

4) Người ấy đoạn tận lời nói phù phiếm. Người ấy nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói Pháp, nói Luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, lợi ích".

Đó cũng là 4 thiện nghiệp về Khẩu trong 10 thiện nghiệp (thập thiện nghiệp) mà Đức Phật thường giảng dạy cho các vị đệ tử cư sĩ. Còn các thiện nghiệp khác là về Thân có 3: các hành động không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm; và về Ý có 3: các ý tưởng không tham, không sân, không si.

*

Cũng có trường hợp, khi ta nói chân thật và lễ độ mà vẫn chạm đến tự ái của kẻ khác, khiến họ phật lòng. Tuy thế, đôi khi cần phải nói sự thật dù có mất lòng nhưng hữu ích, có khả năng đem đến lợi lạc trên đường tu tập. Trong kinh số 58, Trung Bộ, Vương tử Vô Úy hỏi Đức Phật rằng có thể nào lời nói của Ngài làm phật ý người khác hay không. Ngài trả lời:

-- "Này Vương tử Vô Úy, lời nói nào Như Lai biết không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, Như Lai không nói lời nói ấy.

Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, Như Lai không nói lời nói ấy.

Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, ở đây, Như Lai biết đúng thời mà giải thích lời nói ấy.

Lời nói nào Như Lai biết là không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa thích, Như Lại không nói lời nói ấy.

Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, Như Lai không nói lời nói ấy.

Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, ở đây, Như Lai biết đúng thời mà giải thích lời nói ấy".

Như thế, chúng ta thấy rằng Đức Phật chọn đúng thời để giảng dạy người khác, với những lời lẽ như thật, như chân, đưa đến mục đích giải thoát giác ngộ, cho dù lời ấy được người nghe ưa thích hoặc không ưa thích.

*

Trong kinh Lời Nói (Tăng Chi 5.198), Đức Phật giảng 5 yếu tố của một lời nói thiện lành như sau:

--"Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ khưu, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những bậc Hiền trí chỉ trích. Thế nào là năm? Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời đem đến lợi ích, nói với lời từ tâm".

1) Nói đúng thời: có khi một lời chân thật nhưng không được phát biểu đúng lúc thì thành ra vô ích hoặc làm cho người khác bực mình. Người thiện trí phải tế nhị để áp dụng lời nói của mình đúng chỗ, đúng lúc.

2) Nói đúng sự thật: bậc thiện tri thức nói một lời phải dựa trên sự thật, không ngụy biện, không lừa dối.

3) Nói lời nhu hoà: lời nói cần phải dịu dàng, lễ phép, tạo không khí hòa hợp.

4) Nói lời đem đến lợi ích: lời nói phải có mục đích và ý nghĩa của nó, dù là lời chân thật nhưng không có mục đích đem lại lợi ích cho ai, thì đó cũng chỉ là lời nói nhảm, vô dụng.

5) Nói lời với từ tâm: lời nói phải phát xuất từ tấm lòng thương yêu, cẩn trọng.

Ngoài ra, trong bài kinh Khéo Thuyết, Kinh Tập 78, Đức Phật giảng thêm:

-- "Thành tựu bốn chi phần, này các Tỳ-khưu, lời nói được khéo nói, không phải vụng nói, không có lỗi lầm, không bị người trí quở trách. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chỉ nói lời khéo nói, không nói lời vụng nói; chỉ nói lời đúng pháp, không nói lời phi pháp; chỉ nói lời khả ái, không nói lời phi khả ái; chỉ nói lời đúng sự thật, không nói lời không đúng sự thật. Thành tựu với bốn chi phần này, này các Tỳ khưu, lời nói là được khéo nói, không phải vụng nói, không có lỗi lầm, không bị người trí quở trách."

*

Trong Tăng Chi Bộ 10.69, Đức Phật khuyên chúng ta chỉ nên bàn luận về những đề tài thiết thực, có ích lợi trong sự tu tập:

-- "Có mười đề tài đáng để đàm luận. Thế nào là mười? Đó là các câu chuyện về ít dục, câu chuyện về biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến".

Ngài thiền sư Buddhadassa (Phật Lệ), Thái Lan, giải thích thêm:

1) Giảm dục (Appiccha-gatha): đàm luận để giảm lòng tham, dùng những từ ngữ khuyến khích ta tiết giảm lòng ham muốn.

2) Biết đủ hay Tri túc (Santutthi-gatha): đàm luận để đưa đến sự biết đủ, dùng những từ ngữ khuyến khích ta thỏa mãn với những gì mình đang có, mà không còn chú ý đến các tiện nghi xa hoa.

3) Viễn ly hay Ðộc cư (Paviveka-gatha): đàm luận để đưa đến sự sống một mình, dùng những từ ngữ khuyến khích việc sống và tư duy đơn độc, xa lánh các náo động.

4) Không tụ hội hay Giảm Tiếp (Asamsagga-gatha): đàm luận để tránh các tiếp xúc vô ích, dùng những từ ngữ khuyến khích ta tránh phí phạm năng lực và thì giờ.

5) Tinh tấn (Viriyarambha-gatha): đàm luận để bảo tồn và gia tăng tinh tấn, dùng những từ ngữ khuyến khích nỗ lực trong tu tập.

6) Giới đức (Sila-gatha): đàm luận để giữ giới hạnh tốt, dùng những từ ngữ để khuyến khích gìn giữ đức hạnh.

7) Thiền định (Samadhi-gatha): đàm luận để tạo lập tâm an định, thăng bằng, chuyên chú, tổng hợp, dùng những từ ngữ để khuyến khích tâm thêm trong sáng và ổn cố.

8) Trí tuệ (Panna-gatha): đàm luận để tạo thông minh và trí tuệ, dùng những từ ngữ để khuyến khích sự phát triển tuệ minh triết.

9) Giải thoát (Vimutti-gatha): đàm luận để giải thoát, dùng những từ ngữ để khuyến khích sự giải thoát tâm trí khỏi mọi phiền não, mọi mầm mống bất thiện.

10) Tri kiến Giải thoát (Vimutti-nanadassana-gatha): đàm luận để tạo lập tri kiến giải thoát, dùng những từ ngữ để khuyến khích sự chú tâm và hiểu biết về tri kiến giải thoát, xả ly khỏi mọi tham thủ và phiền não.

*

Ðức Phật rất chê trách những cuộc nói chuyện huyên thuyên, phí thời gian vô ích. Những lời gièm pha và đồn đãi không đem đến lợi lạc gì, vì chúng làm quấy động sự yên tĩnh và định tâm. Ngài cũng giảng thêm rằng người ta không thể trở thành bậc trí chỉ vì nói nhiều, cũng không phải vì nói nhiều mà người ta được gọi là bậc lão thông Pháp (Dhammadhara), như trong các câu Pháp Cú sau đây:

"Dầu nói ngàn ngàn lời,
Nhưng không gì lợi ích,
Tốt hơn một câu nghĩa,
Nghe xong, được tịnh lạc." (PC 100)

"Không phải vì nói nhiều,
Mới xứng danh bậc trí.
An ổn, không oán sợ.
Thật đáng gọi bậc trí." (PC 258)

"Không phải vì nói nhiều,
Là thọ trì chánh pháp.
Người nghe ít diệu pháp,
Nhưng trực nhận viên dung,
Chánh pháp không buông lung,
Là thọ trì chánh pháp." (PC 259)

Trong ngôn ngữ Pàli, danh từ "Mâu-ni" (Muni) trong tên "Thích-ca Mâu-ni" (Sakya Muni) có nghĩa là người luôn giữ sự yên lặng (bậc Tịch tịnh), thường được dùng để gọi một vị Thánh. Đức Phật thường khuyên các vị tu sĩ đệ tử rằng: "Này các Tỳ-khưu, khi quí vị hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: một là đàm luận về Chánh pháp, hai là giữ sự im lặng của bậc Thánh" (Phật tự thuyết, Ud 10).

*

Tóm lại, lời nói có một ảnh hưởng vô cùng quan trọng, không những tác động đến đời sống hạnh phúc của mỗi cá nhân mà còn có thể tác động đến sinh hoạt của xã hội. Nếu có tỉnh giác và định hướng tốt, lời nói qua các cuộc đàm luận, giao tiếp hằng ngày, sẽ mang đến nhiều lợi ích trong sự tu tập của những người con Phật chúng ta. Chính vì thế mà Đức Phật đã đưa Chánh Ngữ vào Bát Chánh Đạo, con đường Tám Chánh dẫn đến giải thoát giác ngộ.

Bình Anson,
Tây Úc, tháng 9-2004
1. CÔ HỒN LÀ AI?
Trung Quốc ngày xưa cho rằng cô hồn là những linh hồn chưa được siêu thoát vẫn còn vất vưởng trên thế gian. Nhưng với trí tuệ và khả năng thần thông siêu việt của Đức Phật, Ngài khẳng định sau khi chết không có linh hồn nào vất vưởng cả, ngay lập tức tái sinh vào 1 trong 6 cõi gồm: chư thiên, người, súc sinh, ngạ quỷ, atula.
Có lẽ dân gian nhầm lẫn giữa cô hồn và Ngạ quỷ hoặc cảnh địa ngục, cảnh giới mà người khi chết đi, do những ác nghiệp đã tạo ra mà phải đầu thai vào ngay lập tức. Thông thường Các loài quỷ (Peta) gồm hai loại: một loại Ngạ quỷ hoàn toàn chịu khổ đau mọi mặt, và một loại quỷ thần được hưởng một phần hạnh phúc do một số thiện nghiệp đã làm và một phần khổ đau do ác nghiệp đời trước.
2. THÁNG 7 VÀ LỄ PHÁ CỬA ĐỊA NGỤC
Trung Quốc cho rằng Diêm Vương cho mở cửa Quỷ môn quan vào ngày 2/7 hàng năm để quỷ đói được trở lại trần gian rồi đến Rằm tháng 7 lại quay về. Chính vì thế mà theo tục lệ dân gian, người trần gian phải cúng cháo, gạo, muối cho quỷ đói để chúng không quấy nhiễu cuộc sống thường ngày.
Tuy nhiên việc này không thấy có chứng cứ nào, và không được nói tới trong Đạo Phật.
Nói về sự vô lý thì lại đầy rẫy bởi ngạ quỷ sống sao được bằng gạo, muối…vv bởi thức ăn của mỗi loài khác nhau, như loại người thì cần cơm, bánh, rau…vv, súc sinh có loại ăn cỏ, loại ăn thịt, loại nào có thức ăn loại đó, không thể thay thế, ngạ quỷ không dùng thức ăn của loại người được.
Thức ăn không dùng được nên đồ vàng mã đốt xuống càng không thể dùng, gì chứ mấy món quần áo, nhà lầu, siêu xe, thậm chí máy bay, du thuyền thì chắc chắn là không hưởng được.
3. NÊN LÀM GÌ TRONG THÁNG CÔ HỒN
Cũng như mọi tháng khác trong năm, làm lành gặp lành, làm ác gặp ác, tháng này nếu đặc biệt nhớ nghĩ đến hương linh quá vãng thì thân nhân hãy làm phước, hoặc các vị sư thương xót nhận làm các thiện sự, bố thí, cúng dường, tu thiền, giữ giới v.v... rồi hồi hướng công đức về họ thì họ sẽ được nhận phần phước ấy, phát tâm hoan hỷ mà đỡ khổ, đỡ khổ rồi có thể quay ra hỗ trợ cho những người hồi hướng đến họ
Chỉ có Nhân- Quả và sự hợp lý, khoa học, không có sự mê tín, mông muội trong Phật Giáo đích thực.

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

Trả lời cho những vấn đề nhức nhối:
CÁI CHẾT THỰC SỰ LÀ THẾ NÀO?
LÀM SAO ĐỂ THOÁT KHỎI CÁI CHẾT
VẬY CON NGƯỜI LÀ CÁI GÌ?
BẢN NGÃ- CÁI TÔI
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
1. TÁI SINH
- Theo đạo Phật, không có đời sống vĩnh viễn trên thiên đàng hay địa ngục. Dù ở cõi chư thiên hạnh phúc thì hết phước cũng lại sinh tử luân hổi. Sinh rồi tử, tử rồi sinh, tái sinh tùy thuộc vào Nghiệp. Đây là Quy luật tự nhiên không do thượng đế hay Đức Phật tạo nên.
- Tái sinh là sự tiếp diễn của đời sống khi kiếp sống hiện tại chấm dứt. Ðời sống không phải chấm dứt hoàn toàn lúc chết mà tiếp diễn tái sinh vào kiếp tiếp sau
- Luồng nghiệp và lòng tham ái khát khao là động lực làm cho đời sống trôi chảy như vậy
- Sự sinh hiện tại do nghiệp tham ái quá khứ đưa đến. Sự bám víu vào đời sống hiện tại sẽ trổ quả là sự tái sinh vị lai. Chính vô minh và tham ái đẩy chúng ta chết là tái sinh ngay.
- Có thể nói chúng ta sống và chết từng khoảnh khắc. Sự sinh và diệt trong đời sống luôn tiếp nối nhau như các ngọn sóng tiếp nối nhau trên đại dương. Đây là tiến trình liên tục, không có một khoảng cách nào ở giữa.
-Trong tiến trình sinh tử không có linh hồn thường còn, bất biến chuyển sinh từ kiếp nầy đến kiếp khác. Đó chỉ là sự làm việc cúa luồng tâm
LUỒNG TÂM
Tâm không phải là một cục hay một khối cứng ngắc, mà là một luồng tư tưởng hay một chuỗi dài những chập tư tưởng sinh diệt. "Trong tiến trình luôn luôn biến đổi của đời sống, mỗi chập tư tưởng khi diệt, chuyển tất cả năng lực và những cảm giác thâu nhận cho chập tư tưởng kế tiếp. Mỗi chập tư tưởng mới gồm những tiềm năng do chập tư tưởng trước trao lại ". Một chập tư tưởng sau không hoàn toàn khác chập trước mà cũng không tuyệt đối là giống. Cũng vậy một chúng sinh kiếp này khi chết chuyển tất cả nghiệp lực sang một chúng sinh kiếp tới. Hai chúng sinh này không hẳn là một mà cũng không phải là khác, bởi vì cùng nằm trong một luồng nghiệp, và một luồng tâm.
Tâm là nguồn lực linh động trôi chảy liên tục, chứa đựng tất cả kinh nghiệm ghi nhận trong hiện tại và vô lượng kiếp quá khứ. Khi Ðức Phật đề cập đến chúng sinh hay một cá nhân, là tổng hợp Thân và Tâm, là sự thay đổi liên tục của các động năng, điều nầy rất phù hợp với khoa học ở thế kỷ 20.
CÁI CHẾT THỰC SỰ LÀ THẾ NÀO?
Cái chết chẳng phải là sự tiêu diệt hoàn toàn của một chúng sanh, bởi mặc dầu chập sống cuối cùng đã chấm dứt, nhưng năng lực thúc đẩy chập sống ấy vẫn còn nguyên vẹn. Tâm thức hiện tại khuất đi, để nhường chỗ cho tâm thức mới sanh lên trong một đời sống khác. Sự tái sanh xuất hiện tức khắc, bất kể chỗ nào, như một làn sóng điện được phát ra trong không gian, tức khắc được thâu vào một máy vô tuyến điện.
"Người vừa mới chết và người vừa mới tái sanh không phải cùng một người và cũng không phải hai người khác nhau. Có sự tái sanh nhưng không có "người" tái sanh. Ðây là tánh không trong tái sanh
Phật Giáo nguyên thủy không công nhận rằng tâm thức của người quá vãng phải tạm trú một nơi nào, để chờ lựa chỗ đi luân hồi, lập trường tạm trú 7 ngày, hoặc 49 ngày là trái hẳn với giáo lý của Ðức Phật
Ví dụ như một người sắp chết
- Trong tâm người hấp hối này đã hiện ra một nghiệp tướng (Kamma nimitta) hoặc một biểu tượng thọ mạng (Gati nimitta). Những hiện tượng nghiệp này phát sanh do hành động tốt xấu trong lúc sanh tiền, hoặc tức khắc trước giờ cuối cùng.
- Nghiệp tướng (Kamma nimitta) là những biểu tượng xuất hiện trong tâm thức của người hấp hối vì họ ấn tượng mạnh nhất: ví như thấy một con dao và những thú chết trong trường hợp anh đồ tể; hoặc là thấy bịnh nhân, nếu là một vị y sĩ dễ thương; hoặc là thấy vật sùng bái, nếu là một người mộ đạo,...
- Biểu tượng thọ mạng (gati nimitta) có nghiã là một dấu hiệu của cảnh giới sắp tái sanh vào. Những cảnh tượng hạnh phúc hay khổ não thường hay biểu hiện trên sắc diện của người hấp hối. Khi triệu chứng của kiếp vị lai phát sanh, nếu thấy xấu có thể sửa chữa kịp thời, bằng ảnh hưởng cảm hóa tư tưởng của người sắp chết. Dấu hiệu báo trước những điều sẽ đến cho thọ mạng thường là lửa, rừng núi, vú mẹ, thiên cung, v.v...
"Người vừa mới chết và người vừa mới tái sanh không phải cùng một người và cũng không phải hai người khác nhau. Có sự tái sanh nhưng không có "người" tái sanh. Ðây là tánh không trong tái sanh
Hỏi: Kiếp sau tôi là người khác và không nhớ về những hành động xấu, tốt cúa mình ở kiếp này, thì sao lại phải chịu kết quả của những hành động ở kiếp này:
Đáp: Nếu người kia trong lúc đang ngủ mà đứng dậy đi trên lan can và té xuống đường rồi gãy tay hay gãy chân. Khi nằm trên giường bệnh, ông không còn nhớ gì đến sự đi trên lan can, vừa đi vừa ngủ, nhưng dĩ nhiên, ông phải nhận và biết hậu quả của việc làm ấy.
Với cái chết cũng vậy, khi tái sinh thành 1 người khác, tuy hình thể bề ngoài có biến đổi, nhưng luồng tâm trôi chảy liên tục (citta santati), không bị cái chết làm gián đoạn, vẫn tiếp tục diễn tiến, và mang theo tất cả cảm giác do ngũ quan đã thâu nhận.
Sự quên mất dĩ vãng của mình không gây trở ngại nào cho sự vận hành của định luật Nghiệp Báo. Chính nhờ sự hiểu biết lý nhân quả, đã gieo nhân thì phải gặt quả, lúc nào cũng trong vòng luân hồi, mà người Phật tử cố gắng tu dưỡng tâm tánh mình.
LÀM SAO ĐỂ THOÁT KHỎI CÁI CHẾT
Có thể khắc phục cái chết không? Câu trả lời là - Có thể!
Sở dĩ có chết là bởi vì có sanh. Tình trạng lặp đi lặp lại nầy được gọi là vòng luân hồi sansàra. Nếu vòng quanh những kiếp sinh tồn nầy ngưng lại, chấm dứt, nó chỉ có thể bị cắt đứt ở giai đoạn Vô Minh (Không hiểu biết) và ái Dục (Tham ái) -- Ðó là hai cội rễ của vòng luân hồi mà ta phải tận diệt. Như vậy, nếu tận diệt ái Dục và Vô Minh ắt ta chế ngự "sanh", chinh phục "tử", và vượt ra khỏi vòng luân hồi, thành tựu Niết Bàn.
Cho đến khi, và ngoại trừ khi thành tựu giải thoát ra khỏi thế gian những sự vật được cấu tạo, ta còn phải đối diện với cái chết, trở đi trở lại. Và trên phương diện nầy cũng vậy, vai trò của sự chết rất là rõ ràng. Nếu ai cảm thấy rằng chết là điều không thể chịu đựng, hãy cố gắng chuyên cần khắc phục vòng quay sanh và tử.
VẬY CON NGƯỜI LÀ CÁI GÌ?
Phật giáo cho rằng con người được cấu tạo do hai thanh phần: tinh thần và vật chất (Nàma và Rùpa). Hai thành phần này ở trong trạng luôn thay đổi không ngừng nghỉ:
* Thành phần vật chất (Sắc - Rùpa) bị chi phối bởi 4 yếu tố:
1) Nghiệp (Kamma): kết quả của những hành động trong quá khứ;
2) Tâm (Citta):những thánh phần tinh thần;
3) Nhiệt năng (Utu): yếu tố nhiệt lượng;
4) Chất dinh dưỡng (Ahara): yếu tố dinh dưỡng của thức ăn.
* Thành phần tinh thần (Danh - Nàma) là phần quan trọng nhất của bộ máy con người, gồm có:
1) Thọ hay cảm giác (vedanà);
2) Tưởng hay tri giác (sannà);
3) Hành (Sankhàrà) những sinh hoạt tâm có tác ý;
4) Thức (vinnàna). Nhận thức đối tượng
Bốn loại hiện tượng tinh thần ấy, phối hợp với hiện tượng vật chất ở trên, tạo ra năm uẩn (ngũ uẩn)>>>Con người chính là vật cấu hợp phức tạp ấy.
BẢN NGÃ- CÁI TÔI
"Cái mà chúng ta gọi là 'Bản Ngã', giống như một vật sáng hình thành bởi nhiều đốm sáng liên tục tiếp nối một cách thật nhanh, đến nỗi mắt con người không có khả năng phân biệt thành từng đốm riêng biệt". Cũng như thế ấy, không có một linh hồn trường cữu nằm bên trong sự vật qui ước được gọi là "CÁI TÔI", mà thực tế chỉ là sự kết hợp của Ngủ Uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Chúng ta không thể nói mùi hương của một cái hoa nằm trong cánh hoa, hoặc trong nhụy hoa, hay trong màu hoa, nó nằm trong toàn thể cái hoa. Tương tự như thế, một cá thể được qui định bởi sự phối hợp của năm thành phần nói trên.
Chính cái giáo lý Vô Ngã, Vô Linh Hồn (Anattà) là đặc thù chính yếu của Phật Giáo.

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2017

Trong sự tùy duyên (sống hợp theo các điều kiện hiện tại) thì vẫn phải có 1 định hướng, như con diều dù bay đi đâu vẫn có dây neo, không thì diều bay mất và sẽ kẹt lại ngọn cây, dây điện nào đó.
Dây neo - sự bất biến không đổi của người học Phật là gì?
Mỗi người sẽ có 1 quan điểm khác nhau nhưng tựu chung là:
- cùng hướng đến giải trừ Tham, Sân, si
- cùng con đường Giới, Định, Tuệ.
Không có điểm neo bất biến này, ta đánh mất mình lúc nào không biết vì duyên đời đa dạng, nhiều lúc duyên điều Bất thiện và Thiện cùng song hành. Không có điểm neo, phiền não sẽ luôn dẫn chúng ta về đường bất thiện đầy cám dỗ.
Biết sống tùy duyên thì là:
1. Biết những tổng hợp duyên tạo thành Quả là gì?
Chỉ có tỉnh thức với thực tại, không dính mắc, không chối bỏ, không đồng hóa mới có thể nhìn nhận được mọi mặt của một vấn đề, thì sẽ phát hiện được những nhân duyên tác thành
2. Gieo nhân mà không chấp Quả.
Nỗ lực làm những việc mình có thể làm, với hiểu biết rằng đó chỉ là phần Duyên mình có thể làm, còn việc đạt quả thế nào, ra sao, ở đâu, khi nào....vv còn phải tùy duyên.
- Sư Cô Hương Thiền -

Thứ Năm, 7 tháng 9, 2017

"Trên thế gian này không có kho tàng nào quý giá hơn một người có thói quen giữ giới!"
Ajahn Mahà Bua Nãnasampanno
Cảm tưởng: Nguồn an toàn cho người khác và cả các chúng sinh. Ngoài ra người giữ giới thành thói quen là người biết đủ, biết kiểm soát mình khỏi những tác động mạnh mẽ của phiền não. Người có giới sẽ luôn cẩn trọng trong thân, khẩu, ý do đó không làm khổ ai, và chính họ. Đặc biệt khi giữ giới sẽ thấy rất tự tin, an toàn và chấp nhận được chính mình- một điều mà không dễ có được.
Namo Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo...Sadhu! Lành thay Diệu Pháp.
- Nếu không có giới đừng nói đến Định,Tuệ.
- Và không thể phá giới chạy theo phiền não rồi gọi đó là Phương Tiện khi mà người đó chưa giác ngộ. Vì khi chưa giác ngộ (chưa đạt mức độ trí tuệ tuyệt đối, trong tâm chưa hết Tham, Sân, Si) nghĩa là chưa có trí tuệ thì chỉ có phiền não điều khiển hành động phá giới đó.
- Sư cô Hương Thiền -

Thứ Bảy, 2 tháng 9, 2017


Người ta thấy chúng tôi tu hành, họ hay hỏi tu là gì? để được gì hay tu để thành ai?
Tu để được cái gì thì vẫn còn ham muốn, tâm tham sở hữu cho mình, ☺Tu chính để không còn ham muốn nữa.
☺Tu hành để không còn ý muốn trở thành ai cả!
Tu hành không để gặp Phật mà là để gặp chính mình, gặp chính mình trong mọi ng và gặp mọi ng trong chính mình
➡ Tu mới đầu là hành động, suy nghĩ, nói năng thiện, sau đó là hành động, suy nghĩ, nói năng hợp với Sự Thật tuyệt đối (chân lý cuộc sống luôn luôn thay đổi không ngừng, không thể điều khiển và luôn hướng đến sự trống rỗng không thật)
➡ Tu hành cũng không ở chùa, không ở chợ, cũng chẳng phải ở nhà, tu hành tại thân tâm này, mà 2 thứ đó ở đâu chẳng có, chỉ là ta không thấy mà thôi
➡ Mới đầu tu là sửa những hành động, lời nói từ bất thiện thành thiện
Tiếp theo thì tu chỉ là Biết, khi tâm có tham, sân, si hay từ bi, hỷ, xả cũng chỉ Biết mà thôi. Nếu còn muốn sửa thì sẽ tăng thêm cái bản Ngã tự cao tự đại của mình mà thôi
Để tham khảo, mời quý vị đọc lời Phật Thích Ca thuyết giảng, trong kinh Trung bộ và Trường bộ do hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.:
hhttp://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong22.htm
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung38.htm

Thứ Năm, 31 tháng 8, 2017

Thường con người được dạy cố gắng vươn lên phía trước hơn là hướng tinh tấn trở về thấy lại chính mình. Nhưng thấy lại chính mình mới là cái gốc của sự Tiến Bộ
Do cứ lo vươn tới tương lai mà không chịu thấy ra tình trạng hiện tại nên không có Trải Nghiệm thực mà chỉ mơ mộng hão.
Trải Nghiệm: Tạm định nghĩa là trải qua và kinh nghiệm. Có nhiều người trải qua mà không có kinh nghiệm nào thực sự được hiểu, bởi khi họ trải qua 1 cái gì đó/ điều gì đó, họ không Ở Cùng Điều Đó mà họ còn mải chạy trốn khỏi đó, hoặc mơ mộng về điều tốt đẹp hơn.
Vì vậy cách đầu tư tốt nhất cho tương lai chính là biết rõ mình trong từng giây phút hiện tại để thực sự kinh nghiệm và học hỏi từ hiện tại.

Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017



Có nhiều loại tự do, chắc chắn là như vậy. Có loại tự do về chính trị. Có loại tự do từ kiến thức mang lại, nhờ đó, bạn biết cách làm việc này, việc kia."Biết cách làm thế nào ... ". Có cái tự do của người nhiều tiền của được đi du lịch vòng quanh thế giới. Nào là tự do vì có khả năng, có thể viết lách, có thể bày tỏ tư tưởng của mình, có thể suy nghĩ một cách minh mẫn. Lại có loại tự do vì thoát khỏi sự vướng mắc vào cái gì đó, thí dụ thoát khỏi sự đàn áp, sự thèm khát, truyền thống, lòng tham lam, v .v... Có loại tự do là kết quả của sự phấn đấu mà giành được, chúng ta hy vọng rằng khi kết thúc một quá trình hành trì, kết thúc một quá trình rèn luyện phẩm hạnh, kết thúc một quá trình cố gắng, sự tự do tối thượng mà chúng ta ước ao này sẽ giúp chúng ta làm được một số công việc. Nói về những sự tự do như sự tự do nhờ khả năng mang lại, sự tự do từ một cái gì đó, sự tự do mà chúng ta cho rằng sẽ đạt được sau một thời gian rèn luyện phẩm hạnh, thì tất cả các loại tự do đó chúng ta đều đã biết rồi. Vậy câu hỏi là, phải chăng tất cả những loại tự do đó đều chỉ là những phản ứng? Khi bạn nói :" Tôi muốn giải thoát khỏi sự giận dữ", đó chỉ là một phản ứng của lòng mong muốn, không phải là sự tự do, giải thoát khỏi sự giận dữ. Và ngay chính sự tự do mà bạn tưởng rằng bạn sẽ đạt được sau một đời rèn luyện phẩm hạnh, do phấn đấu, do ép mình, đó cũng chỉ là những phản ứng của các việc mà bạn đã làm.

Xin hãy theo dõi cẩn thận, bởi vì điều mà tôi sẽ nói ra có thể khiến cho bạn thấy khó hiểu vì có một cái gì đó có vẻ như không quen thuộc với dòng suy nghĩ của bạn. Có một loại tự do vốn không từ điều gì mang lại, không có nguyên nhân, nhưng là một trạng thái giải thoát.
Bạn thấy đó, sự tự do mà chúng ta đã biết thì đều luôn luôn đạt được nhờ ý chí, đúng không? Tôi sẽ được tự do. Tôi sẽ học một khoa kỹ thuật. Tôi sẽ trở thành một chuyên viên. Tôi sẽ học hỏi. Và cái ý chí đó mang đến cho tôi tự do. Cho nên chúng ta dùng cái ý chí để đạt sự tự do. Chúng ta không muốn trở nên nghèo, do đó, chúng ta dùng khả năng, dùng tất cả quyết tâm của chúng ta để đạt được sự giầu có. Hoặc, tôi là kẻ vô dụng, cho nên tôi quyết tâm học tập để hết vô dụng. Và chúng ta tưởng rằng chúng ta sẽ tìm được tự do khi chúng ta hành động với sự quyết tâm, với ý chí. Nhưng mà, ý chí không đem đến tự do, mà ngược lại, như tôi sẽ trình bày dưới đây. Ý chí là gì? Tôi sẽ là..., tôi sẽ không được là..., tôi sẽ phấn đấu để trở nên cái gì đó..., tôi sẽ học hỏi... v.v ...

Tất cả những chuyện kể trên đều là những dạng hành động của ý chí. Vậy thì cái ý chí này là gì, nó hình thành ra sao? Hiển nhiên là từ khát vọng. Biết bao nhiêu là nỗi niềm khát vọng của chúng ta, với những sự thất vọng, những sự bó buộc, những sự hoàn tất, kết lại như sợi dây ràng buộc. Ðó là ý chí, phải vậy không? Quá nhiều nỗi khát vọng của bạn kết hợp lại với nhau, tạo thành một sợi dây chão và nhờ nó mà bạn cố gắng leo lên bậc thang thành công, muốn tiến đến tự do. Vậy thì, xin hỏi rằng khát vọng có đem lại tự do được không, hay là chính cái khát vọng để đạt được tự do đó lại làm cho người ta mất tự do? Xin các bạn hãy nhìn vào bản thân, tự xét cái lòng khao khát của chính bạn, cái tham vọng của chính bạn, cái ý chí của chính bạn.

Tôi lại xin hỏi rằng cái ý chí của bạn có phải là nhân tố của tự do không? Ý chí có mang lại tự do không? Hay là tự do, giải thoát là một cái gì hoàn toàn khác hẳn, nó không liên hệ gì với phản ứng, không thể đạt được nhờ khả năng, nhờ suy nghĩ, nhờ kinh nghiệm, nhờ kỷ luật.

. . . Tự do, giải thoát, là một phẩm chất của tâm hồn. Cái phẩm chất này không đến từ sự thận trọng tìm tòi, nghiên cứu, phân tích, sắp xếp tư tưởng lại với nhau. Tư tưởng và tự do, giải thoát, là hai điều đối nghịch. Tư tưởng không đem tới tự do, giải thoát, vì tư tưởng đã bị điều kiện hóa. Cái phẩm chất của tâm hồn này là sự tỉnh giác, chỉ ghi nhận thuần túy, không phân tách, không so sánh từ kinh nghiệm của quá khứ, v.v ... Ðó chính là khởi đầu của sự tự do đích thực. Sự chuyển hóa này trong tâm hồn là một cuộc cách mạng đích thực. Ngoài ra, tất cả các cuộc cách mạng khác đều chỉ là những phản ứng, dù cho người ta có dùng từ ngữ như tự do, giải thoát, những hứa hẹn thiên đường, v . v ... , mọi loại. Chỉ có một sự tự do, giải thoát đích thực. Ðó là cái phẩm chất trong tâm hồn.



Thứ Ba, 29 tháng 8, 2017


Câu chuyện là hôm trước trong cuộc họp, con đang tập trung quan sát các đồng nghiệp phát biểu, con vô tình thấy ra một điều. Đó là sâu thẳm trong con luôn có động cơ tìm cầu hạnh phúc, thành công... rồi đạt được cái này, cái khác. Đây là nguyên nhân gây khổ. Tâm niệm thôi thúc này gây nên những ức chế trong tâm con, và sai sử con làm mọi thứ để đạt được, chính điều này đã là khổ. Khi con thấy ra, thì tâm đó bị yếu và mất đi. Ngay khi đó con thấy rất nhẹ nhàng, không vui cũng không khổ. Lúc này con không biết nói gì thêm nữa thưa thầy.
Trả lời:
Còn tham ái thì vẫn còn động lực thôi thúc sự nỗ lực để trở thành hay đạt được mục tiêu mơ ước, và đó chính là động cơ của luân hồi sinh tử, phiền não khổ đau. Nhưng có điều kỳ diệu là tiến trình này cũng là chu trình tự động hóa giải khi tham ái gặp phải khổ đau do chính nó gây ra. Như vậy, chỉ cần quan sát rõ ràng (Minh sát - Vipassanā) tiến trình này để thấy sự hóa giải tự nhiên của nó, chứ không cần phải nỗ lực chuyển hóa theo ý mình, vì như vậy chỉ lặp lại động cơ của sự trở thành.
HT Viên Minh - Trungtamhotong.org
Không ai coi thường thân thể mình, nếu nó bệnh, ta vội vã chạy đi bác sĩ. Nếu nó mệt mỏi, ta vội vã cho nó nghĩ ngơi. Nhưng ta đã làm gì cho tâm? Hình như chỉ có các vị Thiền sư là chú trọng đến tâm của họ.
♝♝♝ KHI HÀNH THIỀN♝♝♝

☢ Thân được thanh tịnh vì ta không làm những điều bất thiện, vị kỷ, hung ác nữa.
☢ Khẩu được thanh tịnh: Vì ta im lặng không nói lời dối trá, vô ích, đâm thọc, chia rẽ.
☢ Ý được thanh tịnh vì mỗi giây phút tỉnh thức trong thiền là mỗi giây phút tâm được sàng lọc. Khi ta Thiền quán, ái dục, tham vọng, dù có mặt cũng bị thay thế dần dần.

Luôn chạy đuỗi theo bất cứ tư tưởng nào dấy khởi lên trong tâm, dù hạnh phúc hay đau khổ, là thói quen của chúng ta, lâu dần chính nhưng tư tưởng bất chợt đó điều khiển chúng ta, chúng ta thiền để dừng lại, để biết và làm chủ tâm ý mình

KHI THIỀN THÌ CẢ 3 NGHIỆP THÂN KHẨU Ý ĐỀU ĐƯỢC THANH TỊNH, ĐÓ CHÍNH LÀ NGUỒN PHƯỚC DỒI DÀO CHO CHỦ NHÂN KHI VÀ BƯỚC RA XÃ HỘI, NGƯỜI ẤY ĐEM LẠI SỰ AN TOÀN, VỮNG CHÃI VÀ BÌNH TĨNH HÒA CÙNG CUỘC SỐNG.

Thứ Hai, 28 tháng 8, 2017


S: Bà có thể giải thích cho tôi về Thương và Ghét?

T: Ồ, cô thấy, thương và ghét không khác nhau lắm đâu. Chúng là hai khía cạnh của tâm phân biệt, giống như hai mặt của một đồng xu.

S: Nhưng chúng ta cảm thấy rất khác.

T: Phải, ban đầu chúng khác nhau, nhưng chúng đều phát xuất từ thói quen phân biệt, và đều dẫn tới đau khổ. Chúng ta thương hay ghét một người nào là căn cứ trên sự 'thích' hay 'không thích'. Chúng ta tự động phân loại người khác tùy theo những định kiến của chúng ta. Nếu họ đáp ứng được lý tưởng của chúng ta và có vẻ hợp với sở thích thì tâm chúng ta lập tức bám níu vào họ; nhưng nếu họ thuộc loại không hợp với sở thích thì tâm chúng ta bắt đầu chối từ họ. Bằng cách nầy, chúng ta đi tới Thương và Ghét.

S: Nhưng làm sao chúng ta có thể chấm dứt Thương và Ghét? Tôi thấy bực mình trong cả hai trường hợp.

Hãy nghĩ về trường hợp cô thương một người vào lúc nào đó, nhưng một lúc khác sau đó thì lại ghét y. Hắn cùng là một người, tại sao tình cảm của cô lại thay đổi?

S: Có lẽ là vì người ấy và bản thân tôi đều thay đổi.

T: Ðúng vậy. Ðiều đó có nghĩa là tình thương của chúng ta thay đổi với tình huống, có nghĩa là cảm xúc của chúng ta là vô thường, tương đối với thời gian và nơi chốn.

S: Cảm xúc của chúng ta là vô thường?

T: Thật đúng vậy. Ðây là điều mà Ðức Phật gọi là Maya, ảo tưởng của tâm thức. Cảm xúc của chúng ta là ảo tưởng sinh ra từ tâm khái niệm; chúng phát xuất từ bản ngã. Theo Phật giáo, bởi vì bản ngã chỉ là ảo tưởng, tất cả những gì phát sinh từ tâm khái niệm cũng đều là ảo hóa. Nó không có thực chất, thường tính và bình an tính. Do đó tình thương thế tục là không bền, nó có thể trở thành sự ghét.

Khoảng một tuần sau, cô ấy lại đến gặp tôi, và lần nầy cô rất hớn hở nói với tôi:

S: Bây giờ tôi hoàn toàn hiểu những gì bà nói về Thương và Ghét. Tôi gặp người đó hôm trước đây, và thật đáng ngạc nhiên thay, tôi tự thấy mình đi đến với hắn và chào hỏi hắn mà không ngần ngại. Tôi không hiểu tại sao, nhưng tôi không còn cảm thấy thù nghịch với hắn nữa. Trước đây, tôi rất ghét thấy bản mặt hắn. Thật là một sự giải tỏa lớn lao đối với tôi! Bây giờ tôi cảm thấy mìnhđược tự do!

T: Tôi muốn hỏi cô một điều: lần nầy trước khi cô gặp người đó, cô cảm thấy còn sự ghét bỏ trong tâm mình hay không?

S: Ừ nhỉ, khi nghĩ về điều đó, thật là tôi không có.

Và ngay bây giờ đây, cô còn ghét hắn không?

S: Không.

T: Vậy thì, có cái gì khác, trước và sau?

Cô ấy bật cười và nói:

S: Thật rất đúng!

T: Ừ, cô đã thoát khỏi sự thương và ghét nầy trước khi cô gặp hắn phải không?

S: Phải, đúng vậy.

T: Cô đã làm gì để được tự do như thế?

S: A, tôi có làm gì đâu. Tôi tự mình được tự do.

T: Ðúng vậy. Chúng ta tự mình không có thương và ghét. Chỉ khi nào chúng ta bắt đầu thích hay không thích thì chúng ta mới bị rắc rối bởi cảm xúc sau đó. Ngay khi chúng ta vừa nhận ra rằng chúng nó chỉ là ảo tưởng do chúng ta tự tạo ra, chúng ta được tự do. Chúng ta được trở về tình trạng ban đầu trong đó không có thương và ghét. Chỉ khi nào tâm mình bắt đầu làm việc với 'thích' và 'không thích' thì thương và ghét trở thành gánh nặng và chúng ta tạm thời bị mất tự do.

Ðây là một thí dụ thực tế cho thấy khi đám mây ảo tưởng được vén lên thì chúng ta sẽ có được tự do và giác ngộ về giây phút hiện tại.


Nguyên tác: "Living Meditation: Living Insight", 
Dr Thynn Thynn

Chủ Nhật, 27 tháng 8, 2017

Khi chưa thiền: Tham mà không biết, bị tham dẫn dắt để nghĩ, nói, hành động mà không hay
Khi mới thiền: Biết tham nguy hại, mê mờ... nên Tham sự vô Tham.
Khi biết cách thiền: Biết có Tham và Chấp nhận tham vì chỉ có tâm Tham, không có Tôi tham.
Và làm thiện pháp với hiểu biết đó! Sự chấp nhận đó
Thiện pháp = bố thí, giữ giới, hành thiền.

Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2017


Trong lúc thực tập Thiền, một thiền sinh có thể bị “lạc đường” vì nhiều lý do. Những điều quan trọng sẽ được nêu ra sau đây để cảnh giác mỗi thiền sinh vì chúng thường hay xảy ra…

Trước hết, một nguy hiểm quan trọng là thiếu sự thúc đẩy đúng đắn trong việc thực hành Thiền. Khi Bát chánh đạo được trình bày, phần “trí tuệ” đứng ngang hàng với sự hiểu biết đúng đắn, kế đến là động cơ thúc đẩy chính đáng, và rồi nhấn mạnh về những gốc rễ khéo léo của cảm xúc làm nền tảng cho sự thực hành: những gì có liên quan đến sự từ bỏ (không ham muốn), thiện chí (không ghét) và không bạo động được nhắc đến. Nếu một người đến với Thiền Phật giáo mà không có sự hiểu biết chính đáng về khổ (dukkha) và sự chấm dứt của đau khổ, thêm vào đó không có động cơ chính đáng, thì chắc chắn rằng sự thực tập Thiền của người này sẽ dễ bị lạc lối.

Thí dụ, có những người thực hành Thiền như là một cách để đầu tư quyền lực, học có thể gây ảnh hưởng hoặc thôi miên các học trò. Những kẻ khác xem đây như là một cách nhanh chóng để có nhiều học trò và mau làm giàu. Để được nổi tiếng cũng là một động cơ không xứng đáng. Tất cả những điều này, như là những động cơ đùa giỡn với thiền định, có thể đưa đến bệnh hoạn cho kẻ không thận trọng, và đôi lúc đưa đến sự rối loạn tâm trí.

Trong Thiền Phật giáo, không có gì tệ hơn một người cho rằng kinh nghiệm của mình là tột bực, và cho mình là một vị thầy trong khi kinh nghiệm Thiền của họ còn non nớt.

Ở đây cho thấy, rõ ràng là điều này có thể đưa đến một nguy hiểm xa hơn nữa - là lòng kiêu hãnh dưới nhiều hình thức. Sự kiêu hãnh của một người nhìn đươc ánh sáng trong lúc thiền định, và cho rằng đây là một dấu hiệu báo trước của sự nhập định. Kế đó, sự kiêu hãnh của kẻ vừa chạm đến trạng thái định dù chỉ là một khoảnh khắc, và tự cho rằng mình là người “đắc đạo”, và đây là một yếu tố rất mạnh mẽ để tự thuyết phục, nếu như không thuyết phục được những người khác. Những người tầm thường khi thực tập Thiền có thể nảy sinh những thái độ cho rằng mình “thành thiện hơn người khác”: “tôi cố gắng, trong khi anh…”, hoặc “tôi thực tập Thiền mỗi ngày, trong khi anh…”. Sự kiêu hãnh là một chướng ngại lớn cho bất cứ sự tiến triển nào, trong khi chỉ có đức Phật hoặc vị A la hán mới có thể dẹp bỏ nó, mọi người nên dè dặt, và luôn sử dụng chánh niệm để kiểm soát.

Một nguy hiểm khác là, nhiều người luôn tìm kiếm cái gọi là “tiến bộ”. Người này tin chắc rằng mình đang “ tiến bộ”, vì khi thiền định họ thấy những ánh sáng, nghe những âm thanh, hoặc có những cảm giác kỳ lạ. Theo thời gian, người này bị những thứ này quyến rũ, và dần dần quên rằng mình thực tập Thiền là ước vọng tìm con đường giác ngộ. Sự “thiền định”của người này trở nên thoái hóa, nghiêng về những ảo mộng và biến cố kỳ lạ, đưa người này vào thế giới của huyền bí và ma thuật. Con đường này là con đường đưa thiền sinh vào những vướng mắc. Những hiện tượng này dú có hấp dẫn cách mấy đi chăng nữa, chúng ta cần được mạnh mẽ dẹp bỏ bằng cách chỉ chú tâm, không để cho ý nghĩ rời rạc chú ý đến chúng, và như vậy sẽ tránh được những xao lãng.

Ngoài những “ảo mộng” mà một người có thể thấy, cho dù chúng ở trong (được tạo ra bởi tâm thức của một người) hay ở ngoài (được tạo ra bởi những sinh vật bên ngoài), đối với vài người học Thiền cũng có một kinh nghiệm làm sợ hãi, như thấy được thân thể của mình bị tan hoại chỉ còn xương hoặc bị phình ra như một xác chết. Nếu một kinh nghiệm như thế này xảy ra, hoặc những kinh nghiệm khác tương tự như thế, người ấy cần thu hồi lập tức cái thấy của mình khỏi ảo giác này, nếu như họ không có thầy hướng dẫn. Những ảo giác đáng sợ như thế này có thể được sử dụng một cách chính đáng và lợi ích, nhưng nếu không có sự chỉ dẫn của một vị thầy thì thiền sinh nên tránh chúng là hơn, bởi chúng có thể đem đến cảm giác sợ hãi hay chán sống.

Một nguy hiểm khác nữa là cố gắng thực tập thiền trong khi tâm thần đang bị dao động bởi những cảm giác, tâm lý mất thăng bằng và chưa chín chắn. Sự hiểu biết về giá trị của những việc làm phước thiện hoặc tạo công đức rất là hữu dụng trong lúc này. Công đức làm thanh tịnh tinh thần, đây là một nền tảng rất tốt cho sự phát triển tinh thần, dễ dàng cho việc nhập định và như vậy sự hiểu biết sâu sắc sẽ xuất hiện dựa vào công đức đã gieo. Những việc làm công đức có thể được tìm thấy trong cuộc sống như: bố thí và lòng rộng lượng, giữ gìn những giới cấm, giúp đỡ và phục vụ những người khác, kính trọng , và hết lòng nghe giảng pháp (Dhamma), thiết lập sự hiểu biết chính đáng về pháp, tất cả những điều này là việc làm công đức, đem đến hạnh phúc và những cảm xúc chín chắn. Công đức, một người nên luôn nhớ rằng, mở tất cả các cánh cửa ở mọi nơi. Công đức có thể làm được, và mang đến nhiều cơ hội thăng hoa. Hãy để tâm thức luôn nghĩ về việc làm công đức, là sửa soạn cho tâm thức để có thể thực hành thiền và phát triển sự nhập định cũng như đạt được trí tuệ.

Nếu một người thực tập thiền mà vẫn nắm giữ những tham đắm của mình, những gì mình thích cũng như ghét, rõ ràng là làm cho con đường trở nên khó khăn hơn, nếu không muốn nói là nguy hiểm. Thiền định ngụ ý là từ bỏ, và không có một thực tập nào có thể thành công nếu một người không sửa soạn ít nhất là cố gắng giảm bớt tham lam và sân hận, canh chừng sự ham muốn nhục dục, và nhận diện được si mê khi nó xuất hiện và làm mờ tâm tư. Một người chấp nhận từ bỏ cho tới lúc có những thay đổi bên ngoài (chẳng hạn như trở thành một vị Tăng hay Ni), cũng còn tùy thuộc vào cá nhân và hoàn cảnh chung quanh, nhưng chắc chắn một điều là: sự từ bỏ từ bên trong, một điều khá quan trọng, đó là thái độ từ bỏ đối với những dữ kiện không tốt của tinh thần cũng như sự buông lung dục lạc.

Một nguy hiểm khác cũng thường có liên quan đến những nguy hiểm kể trên là: có một người tự dưng có cơ hội để thực tập thiền định trong một thời gian dài hạn. Người này ngồi xuống với quyết tâm là: “bây giờ tôi sẽ thiền”. Dù cho người này có một năng lực rất mạnh, họ ngồi và ngồi, đi và đi , nhưng tâm thần thì xáo trộn và không được an bình. Có thể là vì họ cố gắng quá do đó bị xáo trộn. Hơn nữa, người này nên hiểu rằng, trong khi thiền cần phải biết rõ giới hạn của chính bản tánh mình. Cũng giống như bất cứ người công nhân nào, nếu biết được giới hạn của sức lực mình thì sẽ cẩn thận không để mình bị mất sức. Với chánh niệm, một người cần biết đâu là cực độ của lười biếng và của căng thẳng, để mà tránh.
Sự cố gắng quá độ hoặc thực tập quá mức sẽ tạo nên những trạng thái xáo trộn về mặt cảm xúc. Sự tức giận bất chợt hoặc kéo dài về những việc nhỏ nhặt, những ham muốn nhục dục mãnh liệt, những ảo giác kỳ lạ và những hình ảnh tưởng tượng quái dị có thể xuất hiện từ sự thực tập gay go nhưng thiếu sáng suốt.

Với những nguy hiểm này, chỉ có một vị thầy kinh nghiệm mới có thể cho được lời khuyên thích ứng, và như thế tránh được những nguy hiểm nói trên và những đổi hướng sai lệch, và thiền sinh mới có thể tiếp tục thẳng tới con đường Niết bàn. Những người nào không có thầy, cần tiến bước một cách cẩn trọng, và cẩn thận kiểm soát sự phát triển của mình bằng chánh niệm. Nếu người này để ý với chánh niệm và thấy rằng dù cho cố gắng với sự thực tập Thiền, vẫn không thay đổi được gì cho cuộc sống hiện tại của họ, họ không có được sự an bình nội tại hoặc sự liên hệ với những người chung quanh cũng không tốt đẹp hơn như vậy có nghĩa là có gì đó không ổn. Vì thế nên ngưng tập Thiền trong một thời gian, và trong lúc này nên tìm những tài liệu xác thực, tốt nhất là gặp một vịthiền sư có kinh nghiệm, và nên để ý đến những vấn đề đạo đức chưa được hóa giải, nếu không thì tâm thức khó lòng mà phát triển được; và nên cố gắng sống đời sống phạm hạnh căn bản của người Phật tử. Con đường thực tập của Trung đạo sẽ không có tiến triển nếu một người xao lãng với những vấn đề căn bản đạo đức.

Thiền sư Khantipalo - Mỹ Thanh dịch

Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2017

February 12, 2014 at 3:38pm


Nhà  sư Có ý kiến cho rằng “Khi cho đi chúng ta mới nhận ra được sự dính mắc” vì có những dính mắc vi tế mà chỉ khi có sự cho đi chúng ta mới phát hiện ra được. Dính mắc có thể kể đến như dính mắc với người hay dính mắc với đồ vật.
Thực tế một người có thể cho đi rất nhiều thứ nhưng có khi một thứ lại không cho ra được, chẳng hạn có anh chàng có thể cho đi cả thế giới nhưng có một người anh ta sẽ không bao giờ từ bỏ. Như vậy số lượng vật cho đi không phản ánh sự buông bỏ. Đôi khi một vấn đề, một việc thôi nhưng  sự buông bỏ lại rất mạnh.

Mặt khác, một người sẽ dễ buông bỏ hơn đối với những thứ họ không có sự quan tâm hay những thứ ít quan trọng đối với họ… Nếu họ quan tâm tới văn thơ mà chúng ta cứ đem những câu chuyện về công nghệ thông tin ra bàn luận, ta nói về  Iphone, về smart phone  thì họ cũng không quan tâm.
Vấn đề buông bỏ  sự dính mắc không nằm ở món đồ ta cho ra hay con người ta từ bỏ, mà vấn đề thuộc về tâm. Ví dụ nếu người nào  đó cho đi chiếc điện thoại với động cơ, với  ý định là ngày hôm sau họ sẽ có được chiếc khác; hoặc cho đi những thứ họ không quan tâm thì đó đâu phải là cho đi để từ bỏ sự dính mắc?
Nếu ta phải cho đi món  đồ duy nhất, quý nhất không thể thay thế  thì sao? Ta có nhận ra sự dính mắc không?

Nhiều Thiền sinh: Thì rất dễ nhận ra sự dính mắc ạ.

Nhà sư : Lúc này họ cảm thấy nuối tiếc. Cảm thấy nuối tiếc như vậy liên quan đến điều gì? Liên quan đến Thọ.  Nếu không có tác động đến thọ thì không có điều gì xảy ra cả, nhưng khi cái Thọ trở nên rõ rệt thì nhận ra dễ dàng.
Có những người rất nhiều lần đau khổ nhưng vẫn không học  được bài học nào. Họ biết sự đau khổ, cảm giác đau khổ đó nhưng không có được hiểu biết. Thất tình, đau khổ cứ lặp đi lặp lại nhưng không có được bài học. Vì sao vậy? Vì mặc dù họ biết thọ khổ và nhưng lại dính mắc với thọ lạc. Bằng mọi cách họ gạt bỏ thọ khổ để thay thế bằng thọ lạc, và để làm được việc đó thì họ thay đổi đối tượng. Đó là trò chơi muôn thủa của tâm, từ trước đến nay vẫn luôn như vậy. Họ chỉ muốn thay đổi chứ không có sự hiểu biết ở đó, thay thế thọ này bằng thọ khác
Thọ khổ dễ thấy hơn, còn học được từ thọ lạc sẽ khó khăn hơn. Chúng ta luôn có xu hướng hướng tới đối tượng, thay đổi đối tượng để tìm kiếm cảm thọ dễ chịu hơn. Như khi bị đau vì ngồi thiền, chúng ta không chấp nhận thọ khổ, mà vẫn có ý muốn thoát khỏi, cố gạt bỏ thọ khổ đó cho hết đau.
Quay lại vấn đề, khi chúng ta bị mất đồ, có rất nhiều cảm giác lộn xộn, chẳng hạn như tự an ủi bản thân  “của đi thay người”, .v.v.. Việc tìm hiểu cần phải bắt nguồn từ việc thấy đúng vấn đề. Tuy nhiên nhận ra vấn đề thì chưa đủ, phải có sự chấp nhận điều đó. Nếu nhận ra nhưng không chấp nhận thì không quan sát được. Sự quan sát khách quan chính là việc ghi nhận, hay biết với thái độ chấp nhận cả hai trạng thái: nắm giữ hay chối bỏ.
Nói riêng về chấp nhận, ở giai đoạn ban đầu chúng ta có sự tạm thời chấp nhận; đến khi thực sự có hiểu biết rõ ràng, đầy đủ thì sự chấp nhận mới thực sự là chấp nhận, cho dù có điều gì xảy ra cũng không còn phản ứng.
Chúng ta hãy phân biệt giữa Nhẫn và Nhẫn nhục. Nhẫn là có sự hiểu biết ở đó, ít ra là sự hiểu về nhân tình thế thái. Nhẫn nhục là sự kìm chế, đè nén với một động cơ khác, đến một ngày nào đó sẽ bộc phát mà còn mạnh mẽ hơn, như nhẫn nhục để tìm cơ hội trả thù chẳng hạn. Hình thức bên ngoài có vẻ giống nhau nhưng nội dung, động cơ hoàn toàn khác nhau

Thiền sinh: Con thấy nhiều người chịu nhẫn nhục với những động cơ khác nhau, để củng cố cho bản ngã cúa họ, để được người khác đánh giá tốt,… 

Nhà  sư: Đa số chúng ta sống theo khuôn mẫu cúa xã hội, thể hiện theo một quan điểm nào đó để xã hội đánh giá cao. Rất khó thoát ra khỏi các khuôn mẫu đó, đôi khi phải trả giá rất nhiều, phải đứng trên đầu sóng ngọn gió, búa rìu dư luận.
Như vậy mọi người nghĩ sao? Có đúng là cho đi thì mới nhận ra được sự dính mắc không?

Thiền sinh: Con thấy khi cho đi thì nhận ra được  đa dạng sự dính mắc hơn, chứ không phải là vì cho đi mới nhận ra được. Nhờ có sự cho đi thì dễ nhận ra được rất nhiều sự hiểu biết sai lầm.

Nhà  sư: Nếu không nhận biết được những hiểu biết sai lầm thì tâm sẽ củng cố những sai lầm đó. Nếu có sự nhận biết thì có sự hiểu biết, và hiểu biết thì không mang tính củng cố cho những hiểu biết sai lầm; vì hiểu biết luôn luôn đi cùng với sự buông bỏ; đó là hai mặt cúa một vấn đề.

Thiền sinh: Tâm chúng ta luôn dính mắc vào cái đúng và cái sai. Vậy khi đã nhận ra sự dính mắc rồi thì cần phải làm gì? Có nên suy nghĩ lại với góc nhìn mới hay không?

Nhà  sư: Chỉ có Pháp hiện tại là thực nhất. Tuy nhiên, việc xem xét, suy nghĩ về các vấn đề của mình để hiểu rõ thêm là cần thiết.
Những gì chúng ta học từ thực tế xảy ra là rất khác nhau, không có trường hợp nào giống nhau hoàn toàn, không ai giống ai, cho nên không có câu trả lời chung cho tất cả mọi người. Lý thuyết là như vậy nhưng thực hành quan sát là rất quan trọng. Chẳng hạn, những người dạy Vi Diệu Pháp biết về tâm thì thực sự họ có hiểu biết hết về tâm không? Họ biết rất nhiều lý thuyết nhưng có thể nói là họ hiểu hết về tâm không?

Thiền sinh: Như vậy chánh niệm thì sẽ có  được sự buông bỏ, chứ vấn đề không nằm  ở việc cho đi hay không mới nhận ra được sự dính mắc?

Nhà  sư: Buông bỏ phải đi đôi với sự hiểu biết, khi có hiểu biết thì cùng với nó là sự buông bỏ.
Có người đốt hết nhà cửa nhưng chưa chắc họ đã buông bỏ được nhà cửa. Người ăn mày có thể có rất ít tài sản nhưng lại dính mắc rất chặt, trong khi một ông quý tộc nhà giàu lại có khả năng buông bỏ mạnh. Do đó dính mắc nằm trong tâm thức cúa chúng ta, mà tâm thức phụ thuộc vào sự hiểu biết.
Có những người bị ung thư, bệnh viện trả về thì họ  lại có khả năng buông bỏ thực sự, vì khi đó họ đã hoàn toàn bất lực, khi còn hy vọng được sống thì còn không chịu buông bỏ. Như vậy đó là buông bỏ thực sự hay buông bỏ có điều kiện? Chúng ta thấy mình luôn luôn bị chi phối bởi các điều kiện không? Cho dù dùng mỹ từ gì chăng nữa thì chúng ta vẫn bị phụ thuộc vào điều kiện, không thể vượt ra ngoài để đạt đến tự do.

Thiền sinh: Chúng ta không thể vượt ra ngoài các  điều kiện, vậy chúng ta cần điều kiện gì, yếu tố nào để hỗ trợ phát triển việc buông bỏ?

Nhà  sư: Các phẩm chất tâm trong sự quan sát, khi các yếu tố này hội tụ thì tự động tâm buông bỏ. Khi tâm ở trong sự hỷ lạc, an định, cảm giác rất khác biệt, không cần bất cứ điều gì, không thấy ý nghĩa nào khác. Nhưng khi mất đi điều kiện đó thì lập tức rất nhiều trạng thái khác tràn vào.
Chúng ta không cần phải tầm cầu, mà tầm cầu cũng không được vì đó là quá trình đặt điều kiện tiếp theo. Từ trước đến nay ta đều tầm cầu rồi và ngay trong thực hành quan sát thì cũng có ý muốn tầm cầu tại đó.

 Thông thường chúng ta không để ý đến cảm thọ, khi để ý đến đối tượng này người ta sẽ không phát hiện được cái khác. Nếu không quan sát rộng thì khó phát hiện ra các đối tượng khác



Chúng ta có quyền sử dụng thân tâm này, quan hệ này, tài sản này, thời gian này, địa điểm này...vv nhưng không có quyền sở hữu (kiểm soát, khống chế, quyết định tất cả), bởi vì trên hết, tất cả mọi thứ, mọi người, mọi loài đều phải tuân theo quy luật Vô thường sinh diệt và 1 luật nữa không phải dễ thấy, là luật của Nghiệp: Luật nhân quả nghiêm minh!
Vì không có quyền sở hữu nhưng lại khao khát điều khiển, chi phối, nên chúng ta khổ
Học cách sử dụng Quyền Sử Dụng đi thôi, đó chính là sử dụng cho đúng, cho hợp chân lý.
Sử dụng cho điều thiện
Sử dụng để cảm nhận và học hỏi
Sử dụng để biết, không dính mắc và để học buông.
Tu tập nơi nhà vắng, rừng sâu, đối diện với nỗi cô đơn, nỗi sợ hãi, phải biết muốn ít vật chất…là 1 hoàn cảnh tu khó khăn, mà trong phố thị, tu làm sao để cân bằng giữa tu tập và công việc xã hội, giữa áp lực và an ổn… cũng là 1 hoàn cảnh tu vô cùng gian khó. Và cần thực hành làm sao để không dính mắc cũng không chối bỏ các điều kiện tu khác nhau

Cho nên chỉ cần tách rời cảm xúc khỏi hoàn cảnh, không cần tách rời bản thân khỏi hoàn cảnh, rồi nhận biết và học hỏi từ những Chân Lý sâu sắc của cuộc đời đang diễn tiến…đó là việc cần làm để phát huy trí tuệ... phát huy trí tuệ hiểu Sự Thật, đó là điểm đến của công cuộc tu tập theo Phật Thích Ca.

Thứ Năm, 24 tháng 8, 2017

Thiền sư Ajahn Suphan hiện là Viện trưởng tu viện Rampoeng, Chiang Mai, Thái Lan, một địa chỉ có nhiều thiền sinh người nước ngoài đến học thiền. Tháng 5/2007, thầy đã sang Việt Nam lần đầu tiên theo lời mời của chùa Nguyên Thủy, Q,2,TP. HCM, được sự chấp thuận của Ban Tôn giáo Chính phủ, hướng dẫn hai khóa tu thiền Minh sát tuệ (Vipassana), VHPG đã gặp gỡ thầy. Phong thái nhẹ nhàng, thanh thoát, nụ cười từ ái. Cuộc phỏng vấn của VHPG với Thiền sư Ajahn Suphan được thực hiện bằng tiếng Anh. Bên tách trà kỳ này giới thiệu cùng quý độc giả về thiền Minh sát tuệ và những điều cần lưu ý khi thực tập thiền.

PV: Thưa thiền sư, xin thầy giới thiệu cho độc giả Việt Nam vài nét về thiền Minh sát (Vipassana)

Thiền sư Ajahn Suphan (A.Suphan): Nguyên tắc căn bản của thiền Minh sát (thiền quán) là phát triển chánh niệm của người thực tập. Người tu thiền Minh sát phải liên tục giữ chánh niệm, tỉnh giác trong khi đi, đứng, nằm, ngồi – tức là trong bốn oai nghi. Người đó cũng phải liên tục giữ chánh niệm tỉnh giác như vậy trong tất cả mọi hoạt động khác trong ngày.

Chữ Vipassana có nhiều nghĩa khác nhau và một trong các nghĩa đó là “biết rõ chân lý để sống hợp với quy luật của tự nhiên”. Có người nghĩ rằng họ tới thiền viện, ngồi xếp bằng rồi nhắm mắt lại và thế có nghĩa là họ đang hành thiền Minh sát. Không phải như vậy. Ý nghĩa đích thực của thiền Minh sát là nhận chân được thực tại, được bản chất của sinh tồn, quy luật của cuộc sống và trực nhận được ba tướng: khổ, vô thường, vô ngã. Vipassana giúp cho hành giả sửa chữa những nhận thức sai lầm về cuộc sống để thấy được cái quy luật của cuộc sống và của tự nhiên. Vipassana có thể thay đổi được cuộc sống con người, giúp cho con người đoạn diệt được phiền não – tham, sân, si – và đạt tới chân lý tối thượng.

PV: Xin thiền sư cho biết nguồn gốc của thiền Minh sát.

A.Suphan: Thiền Vipassana thuộc về giáo huấn của Đức Phật. Trong kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật đã giải thích tỉ mỉ bốn phép quán: quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp. Vipassana thuộc về Phật giáo. Tứ niệm xứ với bốn phép quán là cách thức để hành giả tu tập và phát triển chánh niệm. Bốn phép quán này là đủ để rèn chánh niệm, đoạn diệt phiền não và trực nhận ba tướng: khổ, vô thường, vô ngã của hiện hữu.

Đức Phật dạy rằng bốn phép quán có thể giúp ta tu rèn lối sống đạo hạnh của bậc thánh nhân và đạt tới Niết bàn. Hành giả tu Vipassana có thể nhập dòng thánh. Tuy nhiên, điều đó còn phụ thuộc vào căn cơ của hành giả. Khi người ta nhận thấy được sự vô nghĩa của cuộc sống bon chen thì họ tìm đến pháp này và họ có thể đạt tới giác ngộ, giải thoát. Có ba yếu tố trợ duyên cho hành giả tu thiền tuệ:Thien-su-Ajahn-Suphan

– Các hạnh Ba la mật mà hành giả đã  tích lũy qua nhiều kiếp.

-Việc hành giả giữ giới trong sạch và phát triển định.

– Tuệ giác giúp hành giả nhìn thấy sự vật, hiện tượng như chúng đang là.

Hành giả có Ba la mật và Giới, Tuệ phát triển đầy đủ là người đã hội đủ các yếu tố chủ yếu hỗ trợ cho việc hành thiền.

Tùy theo căn cơ mà các hành giả tu thiền với các động cơ, mục đích khác nhau. Người thì hành thiền với mục đích phục vụ cho công việc riêng của họ, người thì tu thiền với mục đích phục vụ cộng đồng, giúp đỡ cho mọi người khác.

Năm yếu tố trực tiếp ảnh hưởng tới việc tu thiền và phát triển chánh niệm: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Hành giả phải cần có tín – có nghĩa là người đó phải có lòng tin vào chính bản thân mình, tin rằng mình có thể đạt tới giác ngộ, giải thoát. Người đó phải tin Luân hồi Nhân quả: Cuộc sống hiện tại của chúng ta phụ thuộc vào những ý nghĩ, lời nói, việc làm thiện hoặc bất thiện của chúng ta trong quá khứ. Hành động hiện tại có thể thay đổi cuộc sống của chúng ta – có nghĩa là chúng ta có thể tác động tới tương lai và thay đổi cuộc đời mình. Vipassana có nghĩa là trí tuệ, hiểu ngộ – tự do và giải thoát.

PV: Thưa thiền sư xin thầy cho biết về việc hành thiền Vipassana ở Miến Điện, Thái Lan và một số nước phương Tây.

A.Suphan: Vipassana chỉ có một, về mặt lý thuyết mà xét. Về nguyên tắc thì không có sự khác biệt nào cả. Toàn bộ việc tu thiền Vipassana là dựa trên bốn phép quán được giải thích tỉ mỉ trong kinh Tứ Niệm Xứ. Tuy nhiên, có sự khác biệt về mặt kỹ thuật giữa các truyền thống khác nhau. Điều này phụ thuộc vào thiền sư, cách tu tập của thiền sư và năng lực, tính cách, khí chất của thiền sinh.

Thông thường người tu thiền lựa chọn thiền viện dựa vào tính cách, đặc điểm tâm lý của cá nhân họ hoặc thông tin mà họ có được. Sau khi có được thông tin cần thiết, họ tới thiền viện ở các nước khác nhau. Ngày nay có rất nhiều thiền viện trên khắp thế giới. Một số thiền viện có xu hướng nhấn mạnh nghi lễ, nghi thức, còn một số khác thì chú trọng nguyên tắc dạy thiền hoặc việc trao truyền thông tin hoặc đề cao vai trò của việc hướng dẫn tỉ mỉ từng bước một. Một số thiền viện có thể coi trọng việc giúp thiền sinh đưa những gì họ học được vào cuộc sống và muốn cho thiền sinh có điều kiện tu tập theo khả năng riêng của từng người, theo sở thích cá nhân.

Mặc dù một số khác biệt như đã nêu, khi chuẩn bị đi tu thiền, các hành giả cũng phải tuân theo một số nguyên tắc chung:

– Có thông tin đúng đắn

– Việc hành thiền phải dựa trên nền tảng của bốn phép quán: thân, thọ, tâm, pháp

– Hành giả phải có khả năng áp dụng cho được những gì đã học vào cuộc sống hàng ngày.

Phương pháp dạy có thể khác nhau phụ thuộc vào môi trường tu học nhưng các nguyên tắc căn bản thì không thay đổi

Hiện nay có nhiều thiền viện được mở ra ở châu Âu và Bắc Mỹ. Các trung tâm này cung cấp cho hành giả những thông tin cần thiết và hướng dẫn kỹ thuật tu Vipassana. Một số thiền viện do các chùa hoặc các hành giả cư sĩ hướng dẫn; cũng có những khóa tu thiền được tổ chức ngay tại nhà riêng – các khóa tu ở những nơi này thường được tổ chức theo truyền thống Nguyên thủy. Các khóa thiền, các thiền viện có thể hoạt động dựa vào tiền đóng góp tự nguyện, cúng dường mà không thu tiền của người học.

PV: Thầy có thể nhận xét về việc tu thiền của các thiền sinh ngoại quốc tại các nước theo truyền thống Phật giáo Nam tông.

A.Suphan: Để tìm được một thiền viện phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh riêng của mình, thiền sinh phải có được thông tin đầy đủ, chính xác. Thứ nữa, họ phải tìm hiểu các nội quy, quy tắc và các hướng dẫn hành thiền của thiền viện vì trong đó các nguyên tắc dạy thiền của các vị thầy được thể hiện cụ thể, rõ ràng.

Các thiền sinh ngoại quốc có mặt mạnh và mặt yếu riêng của họ. Ưu điểm lớn nhất của họ là thường có động cơ tu thiền mạnh mẽ. Yếu điểm thường gặp ở họ là họ không có được niềm tin tôn giáo (đạo Phật) mạnh mẽ. Khi tín (niềm tin – BT) yếu thì tấn (siêng năng, nỗ lực – BT) cũng không thể đi xa được. Họ chỉ có lòng tin vào khoa học, kỹ thuật và cách nhìn của họ thường rơi vào tình trạng phiến diện, không có tính trọn vẹn, tổng hòa. Họ tranh cãi, lý luận quá nhiều và có xu hướng nặng ganh đua để đạt tới thành công. Tu thiền Vipassana là để đạt tới hiểu ngộ cần thiết cho sự phát triển ở bên trong, thế nhưng họ lại hướng tới sự thành đạt ở bên ngoài và quá chú trọng tới điều đó.

Ngày nay đạo Phật được lan truyền rộng rãi ở phương Tây và ngày càng có nhiều người quan tâm tới việc tu thiền. Trong thời đại của khoa học và kỹ thuật, họ gặp nhiều khó khăn, bế tắc; nhiều người cảm thấy cô đơn, buồn chán (đặc biệt là ở Mỹ) và họ tìm tới các nước theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy với những mục đích khác nhau: hành thiền Vipassana, tìm hiểu một nền văn hóa khác, một truyền thống khác v.v… Tuy nhiên, nhiều người trong số họ hiểu sai về nguyên tắc của thiền Minh sát và cách tu thiền Minh sát. Ví dụ, họ không hiểu ý nghĩa của một trong ba tướng: vô ngã; và họ không hiểu tại sao hành giả lại không nên dính mắc vào cái ngã của mình. Họ thắc mắc khi xem các nghi lễ vì họ không hiểu mục đích chính của các nghi lễ là làm giảm bớt bệnh chấp ngã ở nơi hành giả. Họ cho rằng việc giữ giới không cho các thiền sinh có sự đụng chạm về thể xác (như ôm nhau chẳng hạn) là phạm vi nhân quyền. Họ giữ cái nhìn sai lệch về ý nghĩa, mục đích của việc giữ giới…

PV: Xin thầy giải thích rõ thêm về sự khác biệt giữa thiền chỉ (Samatha) và thiền quán, tức thiền Minh sát (Vipassana). Nhiều hành giả mới bắt đầu thực tập còn lầm lẫn giữa hai loại thiền này.

A.Suphan: Thiền chỉ có từ trước khi đạo Phật ra đời. Nhiều người ở Ấn Độ (ví dụ như tín đồ đạo Hindu) đã đạt được mức định cao nhất. Khi Đức Phật tìm ra Thiền quán (Vipassana), Ngài thấy rằng thiền chỉ có khả năng hỗ trợ cho việc tu thiền quán. Vì vậy Đức Phật dạy rằng có hai cách tu thiền quán. Một là, người ta có thể tu  thiền chỉ và dùng thiền chỉ để hỗ trợ cho việc tu thiền quán. Hai là, hành giả có thể tu thiền quán mà không cần phải tu thiền chỉ. Họ chỉ cần tu tập để phát triển chánh niệm và phát triển sự tỉnh giác khi quán sát đối tượng. Họ chỉ cần thấy sự vật, hiện tượng như chúng đang là mà không cần có định thật sâu. Sự khác biệt chủ yếu giữa thiền chỉ và thiền quán là ở chỗ, mặc dầu thiền chỉ có thể giúp hành giả giảm bớt phiền não nhưng khi người đó quay trở lại với đời sống thường ngày thì phiền não lại nổi lên. Khác với thiền chỉ, thiền quán có mục đích là triệt tận gốc phiền não thông qua con đường phát triển chánh niệm tỉnh giác để đạt tới trí tuệ bát nhã, tức là đạt tới trực nhận ba tướng: khổ, vô thường, vô ngã của hiện hữu.

PV: Thưa thiền sư, từ kinh nghiệm dạy thiền của mình, xin thầy cho biết một số nhận xét của thầy về mặt mạnh và mặt yếu của thiền sinh Việt Nam.

A.Suphan: Về mặt yếu: vì nhiều thiền sinh Việt Nam mà tôi trực tiếp hướng dẫn ở Thái Lan cũng như ở Việt Nam biết thiền chỉ trước khi tu thiền quán nên họ có những cách nhìn sai lệch về việc phải tu thiền quán thế nào, tại sao phải tu thiền quán và về nguyên tắc cơ bản của thiền Vipassana. Thứ nữa, họ thích ngồi hơn là thiền hành và vì vậy mà không đạt được cân bằng ngũ căn. Thứ ba, họ có xu hướng tập trung chỉ vào một đối tượng và vì thế mà không chú ý để quán sát sinh diệt của các phương pháp và không thấy rằng mọi thứ đầu liên quan phụ thuộc lẫn nhau. Họ quên rằng ngoài bốn oai nghi chính còn có các oai nghi phụ cũng cần phải được quan sát liên tục. Vì thế khi đi thiền hành, họ không chú ý quan sát các oai nghi phụ để có những điều chỉnh kịp thời và phù hợp. Thái độ hành thiền Minh sát đúng đắn là khi nhận biết một đối tượng thì hành giả ngay lập tức phải nhìn thấy các hiện tượng có liên quan khác. Tuy nhiên, các thiền sinh Việt Nam sau một thời gian hành thiền đã có một số tiến bộ và tự họ có thể có một số điều chỉnh khi cần thiết. Ưu điểm: đa số các thiền sinh dự khóa tu ưa thích hành thiền. Nhiều người trong số họ đã tu thiền định nên có định lực tốt và đó là yếu tố cần thiết để duy trì và phát triển chánh niệm.

Khi hành thiền Minh sát, hành giả cần cảm thấy niềm vui. Họ phải thực sự yêu thích việc hành thiền. Ở giai đoạn sơ cơ, hành giả chưa cần phải quan tâm nhiều tới việc trở thành thánh nhân. Họ chỉ cần phát triển chánh niệm để tu tâm sửa tính, là một người tốt ngày càng có ít phiền não và biết sống trong yêu thương, đồng thuận với mọi người khác. Rồi sau đó họ có thể tiếp tục tu để đạt các trình độ cao hơn, tiến tới đoạn diệt phiền não và trở thành thánh nhân. Với một cái tâm thánh thiện, họ có thể làm việc để giúp mọi người khác trên con đường đ5t tới chân lý tối hậu.

PV: Xin thầy cho các hành giả Việt Nam muốn ra nước ngoài tu tập thiền Minh sát một vài lời khuyên.

A. Suphan: Trước hết, khả năng diễn đạt, nghe, hiểu tiếng Anh là rất quan trọng. Thứ hai cần đem theo một ít tư trang và tiền bạc. Thứ ba, họ cần biết rằng họ đi tu thiền để học một cái gì đó mới chứ không phải cái cũ – cái họ đã quen thuộc rồi. Vì vậy họ cần phải mở rộng tấm lòng và trí tuệ để chấp nhận sự khác biệt về văn hóa. Là những người muốn tìm kiếm chân ký, nếu họ vẫn còn dính mắc, bám chặt lấy nền văn hóa của mình thì họ sẽ không học hỏi được.

PV: Xin cảm ơn thầy

Hiếu Thiện thực hiện và chuyển ngữ