Hiển thị các bài đăng có nhãn Câu hỏi thảo luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Câu hỏi thảo luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 13 tháng 3, 2025

 

Một thiện nam trao đổi với Ajahn Fuang về giới luật và khi nói đến giới thứ năm cấm uống rượu, anh ta nói Đức phật cấm uống rượu vì người dùng sẽ thất niệm đúng không, nhưng nếu ta uống với chánh niệm thì không sao phải không thưa sư? Sư trả lời nếu còn thực sự chánh niệm thì trước hết con đã không nghĩ tới việc uống rượu rồi.




 

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2025

Nhiều thiền sinh hỏi tôi về những khó khăn này và tôi xin chia sẻ tại đây.

Khó khăn đầu tiên đối với các thiền sinh mới đấy là quá nhiều suy nghĩ. Họ mới, tập trung và quá nhiều, cái sự sao lãng ở trong tâm, sao lãng ở trong cuộc sống, sao lãng ở trong thiền lúc này. Đừng có tìm cách để đè nén hay là tiêu diệt suy nghĩ. Càng làm như vậy nó càng bùng nổ. Việc của một thiền sinh lúc này là thư giãn thả lỏng, thoải mái chấp nhận suy nghĩ và hướng cái sự ghi nhận hay biết vào những cảm giác ở trên thân. Rất nhiều lần sao lãng và rất nhiều lần chúng ta lại hướng lại những cảm giác ở trên thân. Dần dần những suy nghĩ sẽ từ từ lắng xuống, nó không còn chi phối các bạn quá nhiều nữa.

Khó khăn thứ hai mà một thền sinh hay phải đối diện khi các bạn mới hành thiền đấy là chúng ta mong chờ quá nhiều và mong chờ kết quả đến rất là nhanh. Trong thiền bạn chờ đợi sự tỉnh thức, bạn chờ đợi trí tuệ giác ngộ, tự do, vân vân,... Nhưng mà sau vài thời thiền thì các bạn mới thấy rằng không dễ dàng để đạt được điều đó. Và cái sự thất vọng có mặt, các bạn bỏ hành thiền, thì các bạn nên kiên nhẫn và đặt ra cho mình những cái mục tiêu nó ngắn hạn, nó ở trước mắt thôi. Khi mà hôm nay mình ngủ đướng đến nửa tiếng nhưng mà sau một tuần cố gắng hành thiền thì bạn có thể chỉ chỉ cần đừng ngủ nướng có 5 10 phút thôi. Hôm nay bạn ngồi thiền có 5 phút thôi là không thể chịu đựng được nhưng mà vẫn cứ duy trì cái việc ngồi thiền như vậy thì sau một tuần bạn có thể nâng lên thành bạn có thể ngồi thền thiền được khoảng 10 phút 15 phút và cứ kiên trì cứ nỗ lực duy trì như vậy thì cuối cùng bạn sẽ thành tựu được những cái mong muốn của mình.

Điều khó khăn thứ ba đối với cả các thiền sinh mới đấy là cái trạng thái đau nhức mệt mỏi ngứa ngáy bồn chồn. Thì đầu tiên ý là khi mà có những cảm giác đó thì các bạn cũng chấp nhận đừng có tìm cách tiêu diệt. Nhưng mà nếu như cái sự đau đớn nó tăng dần lên thì trong cái sự chú ý của các bạn nên có cái sự thư giãn thả lòng thoải mái các bó cơ gân xương và nếu như vẫn không thể chịu được được thì có thể các bạn chưa quen với việc thực hành thì các bạn nên đứng dậy thay đổi tư thế. Chuyển từ ngồi thiền sang đi thiền, đứng thiền hoặc là có thể phải xem xét đến cả cái chế độ sinh hoạt của mình. Có thể các bạn đã ăn quá no trước khi ngồi thiền thì cũng là không phù hợp. Sau khi có những thay đổi thói quen sống cho nó hợp lý thì chúng ta sẽ làm quen được với cái việc tu dưỡng và huấn luyện thân tâm mình và việc hành thiền sẽ trở nên dễ dàng thuận lợi hơn.

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2025

Có người xin tôi hướng dẫn thiền cho họ một cách đơn giản, ngắn gọn nhất. Xin được trả lời như này:

- Nếu bạn là một người hoàn toàn mới, chưa biết gì về thiền, thì thiền được hiểu là: thân ở đâu, tâm ở đó, biết rõ việc mình đang làm.

- Nếu bạn thực hành được một thời gian, có thêm thông tin, thì cách thực hành của bạn nên là ghi nhận, chánh niệm hay biết, với thái độ đúng, không dính mắc, không chối bỏ và không đồng hóa.

- Nếu bạn đã trở thành một thiền sinh kinh nghiệm và đã có một khoảng thời gian dài nghiên cứu Phật giáo cũng như ứng dụng thiền trong cuộc sống, thì lúc này việc hành thiền của bạn phải đầy đủ ba yếu tố: chánh niệm, chánh kiến, chánh tinh tấn.

Khi đó, bạn đã thực hành đúng phương pháp Thiền Vipassana, phương pháp Thiền Tứ Niệm Xứ do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ dạy.

Xem video tại đây

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2025

Vì phiền não luôn luôn sát cánh với chúng ta, luôn đầu độc cuộc sống này, nên lúc nào chúng ta cũng cần phải hành thiền để biết chúng, để hiểu chúng, để rồi thoát khỏi sự chi phối của chúng.

Dù chúng ta đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi trong một khoá hành thiền miên mật hay ở tại gia đình, chúng ta làm việc máy tính, cắt may, nói chuyện, rửa bát đũa, đều là thời điểm cần thiết để hành thiền.

Vậy những phiền não là những gì? Phiền não không chỉ là sự thể hiện của tham, sân, si ở dạng thô mà nó còn là tất cả những trạng thái tâm bất thiện gần với chúng nữa như là đố kỵ, soi mói, keo kiệt, sợ hãi, chấp chặt và nếu bị các trạng thái phiền não này điều khiển thì cuộc sống của chúng ta sẽ đau khổ, bất an và cũng làm cho những người xung quanh chúng ta đau khổ, bất an.

Trong thiền Vipassana, chúng ta không đè nén hay tiêu diệt phiền não, chúng ta biết chúng, hiểu chúng có sinh có diệt và thoát khỏi sự chi phối của chúng.

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2018




Tôi có một người bạn luôn luôn đến thăm tôi để bàn luận về Phật pháp mỗi khi anh có dịp tới thành phố. Anh là một Phật tử thuần thành đã học hỏi và thực tập Phật pháp nhiều năm ở Tích-lan với ông thầy viện chủ của anh. Anh ấy đã viết thơ cho tôi trước là anh muốn bàn luận bài viết của tôi về Tình Thương và Lòng Bi Mẫn. Anh vào đề ngay khi vừa tới nơi.

G: Tôi rất cảm kích về bài viết 'Tình Thương và Lòng Bi Mẫn' và tôi rất mừng khi bà viết về đề mục đó, bởi vì đây chính là một trong những vấn đề mà tôi phải đối diện với đứa con trai đang tuổi thanh niên của tôi. Thật đúng là khi đã nghiên cứu Phật pháp thì chúng ta học cách tách ly khỏi những người khác, nhưng như bà đã nói, thật là khó phân biệt giữa sự bình thản và sự lãnhđạm. Và thường khi chúng ta lầm lẫn hai thứ nầy. Tôi thấy khi tự tách ly, tôi cũng xa cách với người khác.

T: Phải, khi chúng ta bắt đầu học Phật và tìm cách áp dụng giáo pháp vào đời sống, chúng ta bắt đầu bằng cách tự tách ly, buông xả. Ðó là bởi vì chúng ta vốn đã bị điều kiện hóa, trên phương diện tâm lý và cảm xúc, để bám níu vào bất cứ gì có liên hệ với chúng ta. Chúng ta học cách tách mình khỏi tình thế thay vì bị nhận chìm và kẹt cứng trong đó, để chúng ta có thể nhìn nó một cách khách quan hơn.

G: Như là trở thành một chứng nhân?

T: Phải, lúc ban đầu chúng ta phải học cách làm chứng nhân chớ không dính líu với cảm xúc. Chúng ta cần phải khách quan để có thể nhìn tình huống 'như nó là' (đúng như thực tế) mà không thiên lệch.

Nhưng làm như thế thì chúng ta có thể đi tới tách mình quá mức, trừ phi chúng ta có sự hướng dẫn rõ ràng. Sự tách ly có thể lấn áp các cảm xúc khác như là sự quan tâm và chú ý đến hạnh phúc và lợi lạc của người khác. Ðiều nầy có thể dẫn tới sự phân cách tâm lý đối với họ, bởi vì chúng ta có thể nhận lầm sự thỏa mãn của mình và cho rằng mình đã làm xong bổn phận và không còn gì phải làm nữa.

G: Ðiều đó thật là đúng. Tôi cảm thấy rất khó khăn khi thuyết phục con tôi về những gì mà tôi nghĩ là sẽ tốt nhất cho nó. Bởi vì nó không thật sự đáp ứng, tôi đã trở nên tách ly phần nào lúc nầy. Tôi nghĩ là mình đã làm xong bổn phận, và từ đó thì chấp nhận hay không là tùy nó. Nếu nó không chịu thì tôi làm gì được đây? Tôi thường nghĩ như thế. Nhưng bây giờ thì tôi thấy thật là không nên.

T: Phải, khi chúng ta tự tách ly theo cách nào đó, thì chúng ta cũng có khuynh hướng tách ly theo những cách khác.

G: Tại sao nó xảy ra như thế?

T: Ðây cũng là một thứ điều kiện hóa. Trước đây, chúng ta bị điều kiện hóa để bám níu vào tất cả. Khi chúng ta học Phật pháp, chúng ta được dạy cách tách ly hay buông xả; tuy nhiên thay vì bám níu vào mọi sự vật, bây giờ chúng ta lại bám níu vào ý niệm buông xả. Do đó chúng ta bị điều kiện hóa quá mức theo chiều ngược lại. Chúng ta buông xả hầu như tất cả. Do đó khi phải đối diện với một tình thế, chúng ta có khuynh hướng buông xả cả tình thế lẫn nhân vật. Kể cả buông xả cũng có thể trở thành thói quen.

G: Một thói quen?

T: Bạn xem, tâm thức mình là một thứ gì rất kỳ lạ. Nó có thói quen dính níu vào một cái gì - kinh nghiệm đã qua và ký ức, tri kiến và ý niệm cũ, vv...Bởi vậy, chúng ta không thể kinh nghiệm giây phút hiện tại mà không bám níu vào một cái gì. Chúng ta bám níu vào cả đến những giáo lý cao siêu nhất.

Ý niệm buông xả cũng chỉ là một khái niệm. Khái niệm nầy có ích khi chúng ta bắt đầu học Phật, hay khi chúng ta tu tập thiền định. Nhưng cuối cùng chúng ta trở thành quá giỏi trong việc tách ly, đến nỗi chúng ta không nhận ra là mình đang bám níu vào một khái niệm khác. Từ khái niệm bản ngã chúng ta chuyển qua khái niệm vô ngã, cái ý tưởng là 'nó không can hệ gì đến tôi'. Ðiều nầy dẫn đến sự dửng dưng và thiếu quan tâm đến người khác.

Do đó, bạn có thể vô tình đóng kín lòng mình và cả trái tim đối với những người thân nhất. Ðiều nầy tạo ra ngăn cách giữa bạn và những người liên hệ.

G: Ðây có phải là điều mà bà gọi là sự lãnh đạm chăng?

T: Phải, đúng vậy. Từ tách ly, chúng ta vô tình bước vào sự lãnh đạm. Xin nhắc bạn, đây không phải là sự lãnh đạm cố ý, không có ý định nào đằng sau nó. Ðó chỉ là sự điều kiện hóa. Khi nào tâm mình còn đáp ứng với người khác và tình thế theo một nề nếp nào, thì tình thương và lòng bi mẫn không còn chỗ để xảy đến.

G: Vậy thì tình thương làm sao đến?

T: Tình thương chỉ đến trong một tâm hồn hoàn toàn tự do, không bị dính níu với bất cứ khái niệm nào - ngay cả với khái niệm buông xả. Chúng ta phải học cách tự giải thoát mình khỏi khái niệm buông xả.

G: Nhưng làm sao chúng ta tự giải thoát khỏi khái niệm nầy?

T: Bằng cách tỉnh giác về giây phút hiện tại. Tôi muốn nhấn mạnh điểm nầy. Khi nào bạn nhận biết là mìnhđang bám níu vào khái niệm buông xả, bạn sẽ buông nó đi. Trong giây phút 'buông' đó, bạn được tự do.

Có câu chuyện ngụ ngôn về một thiền sinh mỗi tay cầm một cái bình. Khi thiền sư thấy y, ông ta hét: 'Buông nó đi!', và thiền sinh buông một bình. Thiền sư lại ra lịnh 'Buông nó đi!', và thiền sinh buông cái bình còn lại. Thiền sư lại hét: 'Buông nó đi!', và thiền sinh bỗng nhiên đắc ngộ. Tất cả mọi thứ đều được buông xả từ bản tâm, thiền sinh trở nên hoàn toàn tự do. Trong giây phút hoàn toàn tự do đó, thiền sinh kinh nghiệm được Thực Tế.

Khi chúng ta nhận biết mình bị điều kiện hóa về buông xả, chúng ta tức thời siêu thoát sự điều kiện hóa. Chúng ta thôi bám níu vào ý niệm buông xả sự quan tâm và chú ý đến người khác.
Chỉ trong những giây phút tâm được hoàn toàn tự do thì sự bình thản (tâm Xả) mới siêu thoát được cả hai tình trạng tâm thức dính níu và tách ly.


Chỉ khi đó tuệ giác mới tức thời xảy đến về giải pháp tốt nhất cho tình thế. Nếu tình thế cần sự quan tâm thì chúng ta quan tâm, nếu cần sự lo lắng thì chúng ta lo lắng; nếu cần hành động hay can thiệp thì chúng ta không ngần ngại. Chúng ta buông xả và nhặt lên cùng một lúc.

G: Xin bà giải thích thêm một chút.

T: Chúng ta cần phải buông xả sự bám níu vào một ý tưởng cố định - thí dụ như bản ngã và ý muốn thay đổi người khác. Nhưng đồng thời chúng ta phải nhặt lên những khía cạnh thực tế của đời sống. Nói tóm lại, hãy làm cho hành động bạn có tính thuần túy - đến thẳng từ trái tim bạn.

Thí dụ như trường hợp của một đứa trẻ còn vị thành niên, sự lãnh đạm về phần của cha mẹ thật là không nên, có khi nguy hiểm nữa. Trẻ con không đủ hiểu biết và chín chắn để có thể tự quyết định trên nhiều vấnđề. Chúng cần sự quan tâm và lo lắng liên tục của chúng ta. Khi nào hành động của chúng ta không phát xuất từ lòng vị kỷ, và chúng ta có đủ tuệ giác về nhu cầu của đứa trẻ, chúng ta có thể vươn tay tới nó. Nhưng nếu để cho ý tưởng buông xả tạo ra sự ngăn cách bên trong, thì chúng ta sẽ bị tê liệt. Trước hết, chúng ta cần đối phó với vấn đề nội tâm của chúng ta, tức ý muốn kiểm soát. Sau đó chúng ta mới có thể đối phó có hiệu quả với những vấn đề bên ngoài.

G: Nhưng còn vấn đề làm chứng nhân? Nếu chỉ là chứng nhân thì chúng ta không quan tâm và dấn thân.

T: Ðiều đó đúng. Lúc ban đầu, bạn cần học làm chứng nhân - để tách ly mình khỏi cảm xúc về tình thế. Nhưng làm chứng nhân chỉ là một giai đoạn trong tiến trình học tập cách nhìn khách quan. Khi chúng ta đã học cách nhìn khách quan xong, chúng ta phải bước trở vào những bi kịch của đời sống.

G: Nhưng có thể nào chúng ta lại bị kẹt cứng trong chu trình phiền não như trước?

T: Phải, đó là một sự nguy hiểm. Nếu bạn không đạt được tuệ giác nào nhờ sự rút lui của mình, bạn có thể lại bước vào chu trình phiền não cũ. Nhưng nếu bạn biết cách 'buông xả và nhặt lên' đồng thời thì bạn không còn bị kẹt cứng nữa.

Bạn thấy, khi bước trở vào những bi kịch của đời sống, bạn bước vào một cách khác. Bây giờ, bạn hành động với hiểu biết sáng suốt chớ không phải với sợ hãi hay ngu tối. Trước kia, bạn nhìn tình thế qua bản ngã - bạn nhìn sự vật qua lăng kính. Không thể thấy được toàn bộ tình thế nếu chúng ta muốn kiểm soát tình thế. Trước đây, điều quan trọng hơn là thỏa mãn bản ngã của mình. Bây giờ, sau khi bước lui và bỏ đi lăng kính, bạn có thể thấy được toàn bộ khung cảnh của những gì đang xảy ra chung quanh.

Khi bạn càng có tự do trong giây phút hiện tại, bạn càng có thể thấy rõ ràng tình thế. Sự sáng tỏ nầy đem đến với nó sự nhạy cảm và lòng bi mẫn đối với người khác, nhờ đó bạn vẫn còn dấn thân mặc dầu họ không đáp ứng tức thời. Bạn có thể kiên nhẫn tìm cách làm lợi lạc cho người khác, bởi vì bạn không bị cảm xúc đè nặng. Hành động dấn thân tự nó trở thành niềm vui bởi vì đó là một hành động tự do, một hành động từ tình thương thuần túy và sự tức thời. Bạn là một phần của toàn thể, bạn không còn bị cô lập đối với người khác. Bạn liên hệ với họ mà không đánh mất chính mình trong những vấn đề của họ. Bạn đứng tự do, nhưng không xa cách. Ðó là sự bình thản thật sự.


Thứ Hai, 7 tháng 5, 2018



Tâm sự của cô Nhung - cô giáo cũ của một thành viên TGĐT:

"Tại sao mình luôn sống tử tế, sẵn sàng giúp đỡ mọi người và mình chưa bao giờ làm hại bất kỳ ai dù chỉ trong ý nghĩ mà toàn bị người đời tìm cách hãm hại và toàn gặp chuyện xui xẻo như thế này? Mình cảm thấy cuộc đời rất bất công, đôi khi mình muốn buông xuôi tất cả."

Là Thiền sinh Vipassana, bạn hãy cho cô Nhung lời khuyên để có thể lấy lại niềm tin trong cuộc sống nhé.

(Để có thể chia sẻ những vấn đề bạn đang khúc mắc trong cuộc sống mời bạn gửi email về địa chỉ thiengiuadoithuong@gmail.com. Chúng tôi sẽ chuyển những băn khoăn của bạn lên facebook, hy vọng các lời khuyên từ các thành viên TGĐT sẽ giúp ích cho bạn. Bạn có thể yêu cầu giấu danh tính nếu không muốn lộ diện).

Ý kiến của các thành viên TGĐT:

Hương Thiền: Khi hành thiền và quan sát các trạng thái tâm, dần dần nhận ra động cơ thật của những hành động, lời nói của mình chúng ta sẽ nhận ra có rất nhiều phiền não, ô nhiễm ẩn sâu bên trong tâm thức, khi đó những than phiền như trong tâm sự trên cũng sẽ không còn, ta biết và hiểu mình hơn, chấp nhận, tha thứ cho mình và người nhiều hơn bởi tất cả đều trong địa ngục của tham, sân, si.

Chúng ta hay có tâm trạng này, cho rằng mình tốt đẹp nhưng thiệt thòi, thật ra khi nhìn kỹ lại ta sẽ thấy mình ko tốt đẹp như mình tưởng đâu, chính những suy nghĩ so sánh, đánh giá này nói lên bạn luôn bất an, mà nội tâm bất an thì hành động lời nói cũng đem đến phiền não, bất an cho người khác- đó là quy luât. Hơn nữa nếu tốt mà gặp chuyện xui xẻo thì có thể do nghiệp kiếp trước, cũng có thể do bạn tốt mà chưa có hiểu biết, chưa đủ khôn ngoan để xử lý việc cho toàn vẹn. Nếu thực sự tốt thì nhân quả sẽ trả lời khi các điều kiện hội tụ, còn nếu bị xui xẻo, vẫn nên tự xét lại mình 1 cách sâu sắc hơn. Chỉ có sự tự tin và bình an nội tâm, hiểu biết sẽ khiến cho mọi việc ổn định lại, còn việc làm tốt nhưng động cơ chưa tốt, hoặc thái độ xấu ngầm bên trong thì chưa phải là Nhân tốt để chắc chắn ra quả Tốt được. Vài lời chia sẻ.

Hong Hanh: 99, 99% chúng ta ai cũng đã từng suy ngẫm điều này. Nhưng cái quan trọng là vì sao chúng ta luôn hỏi mà ko có kinh nghiệm khi đã biết tới Phật! suy cho cùng để trị dứt cái bệnh này có lẽ điều đầu tiên là hiểu tứ diệu đế! bát chánh đạo... cứ mỗi tình huống trong đời là cái để chúng ta học hỏi và hiểu ... khi hiểu rồi thì chúng ta sẽ ko còn hỏi nữa, biêt chấp nhận thực tại, chấp nhận chúng... chuyển hóa cái nghiệp xấu từ từ bi hỷ xả của mình, mọi thứ có thể thay đổi từ xấu sang tốt cơ mà tùy thuộc vào chú ý của tâm khẩu ý của chúng ta. giống như ko có cái gì là định mệnh an bài hay ko thay đổi, mọi thứ thay đổi theo hướng tích cực đều do bản thân mình... chỉ có điêu có muốn hay ko thôi...!

Thu Ngan Tran: Đôi khi mình cũng bị tình trạng này, lý do chủ yếu cũng do tâm "ái ngã". tôi hay chấp cái thân này lắm, chiều chuộng nó, muốn nó được sung sướng, may mắn, hưởng phước...suy cho cùng cũng là muốn bản thân dc hạnh phúc và ko ưa điều bất như ý. Đức Phật dạy ta đạo lý Vô ngã, nhưng để diệt trừ dc bản ngã thì khó vô vàn......


Thứ Tư, 2 tháng 5, 2018

Con hay nghe pháp thoại của Thầy, có bài giảng về bản ngã, trong đó Thầy có giảng nếu trong đời sống hàng ngày mà mỗi người có thể sống tương giao với nhau thì không có đau khổ.
Nhưng thưa Thầy, trong hôn nhân, liệu áp dụng sống tương giao thì có tốt không? Sống không đòi hỏi đối phương gì hết, sao cũng được, nếu đối phương có ý thức thì tốt, nhưng với người thương của con thì càng ngày càng lêu lổng, càng ăn chơi nhiều hơn.
Con xin Thầy từ bi giảng cho con hiểu thêm. Con kính chúc Thầy nhiều sức khỏe.

Trả lời:
 Trong mối quan hệ càng muốn như ý mình càng khổ. Con sinh ra chính là để học bài học này. Học thông con sẽ thấy nhẹ nhàng ngay thôi.

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2018



SDD: Tôi vừa đọc được một bài viết về lạc thú xác thân của một giáo sư Phật học nổi tiếng, ông nói tại sao lạc thú giác-quan là tai họa cho nhân loại. Ông giải thích tại sao sự bám níu vào lạc thú xác thân tạo ra nhiều vấn đề cho xã hội.

T: Thật đúng là có sự quá trụy lạc trong lạc thú giác quan. Rõ ràng là xã hội tân thời đã quá chú trọng đến lạc thú xác thân đến nỗi trở thành nô lệ cho chúng. Chúng ta hãy nhìn một cách khách quan vào cội rễ của vấn đề. Bằng không, chúng ta lại rơi vào cạm bẫy của sự chối bỏ thế giới giác quan hay chạy trốn nó, và cuối cùng thì điều nầy cũng tai hại như là làm nô lệ cho chúng. Có thể chúng ta bị kẹt cứng trong sự chối từ thế giới giác quan.

SDD: Sao lại thế?

T: Nếu bạn nghĩ rằng quá chú tâm tới thế giới giác quan là cội rễ của vấn đề, thì bạn có thể có cảm giác tội lỗi khi hưởng thụ lạc thú. Bạn có thể trở nên sợ hãi việc kinh nghiệm lạc thú giác quan. Ðiều nầy dẫn tới sự trốn tránh và ám ảnh sợ hãi, nếu bạn không cẩn thận.

SDD: Vậy thì giải pháp cho vấn đề là thế nào?

T:Sự khao khát lạc thú xác thân phần lớn là do cảm giác bất an và sự thiếu tuệ giác. Chúng ta không biết mình thiếu cái gì, nên chạy tìm ở bên ngoài. Chúng ta cố lấp đầy khoảng trống cảm xúc bằng đủ loại giải trí. Và dĩ nhiên, với ngành thương mại ào ạt hiện nay, việc thuận tiện nhất cho chúng ta là đắm mình vào đủ loại kinh nghiệm đem lại lạc thú giác quan. Nhưng rồi thế nào chúng ta cũng nhận thấy là chu trình trụy lạc - tìm kiếm không có chấm dứt. Không thể có sự thỏa mãn tuyệt đối và bền lâu từ lạc thú xác thân, bởi vì chúng ta không có tự do trong giây phút hiện tại.

SDD: Tại sao như thế?

T: Tâm chúng ta, trong tình trạng bất an, cần phải bám níu vào một cái gì - sở hữu vật chất, lạc thú giác quan, giải trí, tài sản, danh tiếng, thành công, ...gần như bất cứ thứ gì trên thế gian nầy - để lấp đầy khoảng trống cảm xúc. Thật ra, những thứ nầy chỉ cho chúng ta cảm giác an ninh giả dối hay sự thỏa mãn tạm thời thôi.

SDD: Làm sao đối phó với cảm giác bất an?

T: Chỉ có một cách đối phó với cảm giác bất an mà thôi.

SDD: Ðó là cách nào?

T: Ðó là đi đến sự hiểu biết là chúng ta không thể tìm được an ninh bất cứ ở đâu và trong bất cứ gì.

SDD: Ồ, sao lại thế?

T: Chính là sự tìm kiếm an ninh đã làm cho tâm chúng ta bất an; bởi vì tâm bị trói buộc vào sự tìm kiếm cho nên nó không được tự do kinh nghiệm những gì có thể tìm được trong giây phút hiện tại. Chúng ta có khuynh hướng phóng tâm vào tương lai, cho nên chúng ta không thể sống hoàn toàn trong giây phút hiện tại; chúng ta chỉ kinh nghiệm được hiện tại phần nào thôi. Do đó chúng ta không kinh nghiệm được sự tươi mát của giây phút hiện tại. Nhưng nếu mỗi giây phút xảy tới được kinh nghiệm trọn vẹn, vẻ đẹp và niềm vui của khung cảnh chung quanh sẽ trở nên rất hiển nhiên đến nỗi chúng ta không cần tìm sự thỏa mãn ở nơi nào khác.

SDD: Nhưng làm sao chúng ta học cách sống trong giây phút hiện tại?

T: Chúng ta lại trở lại cách sống tỉnh giác với giây phút hiện tại.

SDD: Tỉnh giác về cái gì? Tỉnh giác về thân thể hay là về chuyện ta đang làm?

T: Tỉnh giác về thân thể giúp bạn hiện hữu trong giây phút hiện tại, nhưng điều quan trọng nhất là nhận biết sự tự do của chính mình trong giây phút đó. Nếu bạn bắt đầu muốn nầy muốn nọ, nghĩ về quá khứ và nghĩ cách hưởng thụ trong tương lai, bạn không còn tự do. Giây phút hiện tại bị dục vọng xâm chiếm và do đó sự tự do bản nhiên của bạn trong giây phút đó sẽ bị mất đi.

SDD: Bà muốn nói là chúng ta bản nhiên vốn là tự do nhưng đã tự làm mình mất tự do?

T: Phải, giống như là bạn bị cột chặc bằng một sợi dây vô hình, bởi chính bạn chớ không do ai khác.

SDD: Bà muốn nói là, khi mình nhận biết rằng không có sợi dây nào trói mình, thì mình đã được tự do rồi?

T: Thật đúng như vậy. Từ đó, bạn trở về với sự tự do bản nhiên trong giây phút hiện tại, và bạn có thể kinh nghiệm mọi sự liên hệ một cách tươi mát, trong đời sống thường ngày. Ngay cả những sự vật bình thường nhất cũng trở nên hoàn hảo, và bạn không cần phải đi tìm tự do ở nơi nào khác hay lệ thuộc vào những kinh nghiệm mới và lạc thú xác thân. Bạn thấy, sự tự do bản nhiên trong chúng ta là một cái gì vĩnh cữu, bởi vì nó là bản chất bẩm sinh của sự hiện hữu nơi chúng ta; nó là một món quà thiên nhiên của đời sống. Tất cả những gì bên ngoài chúng ta đều là giả tạo và kém khuyết.

Như vậy, để có tự do đối với lạc thú giác quan không phải là bám níu hay chạy trốn nó, mà chúng ta phải học cách để được tự do nội tâm. Từ căn bản tự do bên trong nầy, các giác quan không còn đe dọa hay lôi cuốn bạn được nữa. Do đó bạn có khả năng kinh nghiệm lạc thú giác quan mà không trở thành nô lệ cho chúng.

Thật ra, chúng ta học Phật pháp không phải là để tự khép kín đối với thế giới bên ngoài hay ngược lại làm nô lệ cho nó, mà là để đạt tới sự tự do bản nhiên và bẩm sinh của chúng ta. Từ đó chúng ta có thể kinh nghiệm thế giới đúng như thực tế, trong cái đẹp và cái xấu, trong cái bình thường và cái siêu việt - mà không bị trở ngại hay kẹt cứng trong những cạm bẫy của đời sống.

Hình Thức Bên Ngoài

D: Bà nói là chúng ta không nên bám níu vào hình thức và cũng không nên chối bỏ nó. Làm sao biết là chúng ta có bám níu hay không?

T: Ðiều đó tùy thuộc bạn có tự mâu thuẫn về hình thức hay không. Xã hội chúng ta cần vài loại hình thức. Người ta mong đợi bạn xử sự theo cách nào đó, và ăn mặc theo một lối nào đó. Chân lý tương đối nầy gọi là Pannati. Nó có nghĩa là hiểu biết hình thức nào thích hợp cho tình thế đó. Nhưng nếu bạn bám níu vào hình thức, tâm bạn trở nên cứng ngắc và bạn làm nô lệ cho hình thức. Ngược lại, nếu bạn chối bỏ hình thức mà bạn đang ở trong đó, bạn cũng bị nô lệ hóa.

D: Tại sao thế?

T: Khi bạn chối từ cái gì, bạn đang bám níu vào sự chối từ đó. Tâm bạn bị dính níu vào sự chối bỏ. Dù bám níu hay chối bỏ, tâm bạn bị dính níu và không bao giờ thoát khỏi sự xung đột. Bạn luôn luôn đấu tranh.

D: Làm sao thoát khỏi sự dính níu nầy?

T: Bạn phải siêu thoát nhị nguyên của hình thức và không hình thức.

Bạn bám níu hay chối bỏ bởi vì bạn đã dựng lên sự 'thích' hay 'không thích' trong tâm. Có thể là bạn chối bỏ một hình thức qui định. Mặc dù chân lý nầy là tương đối, nó vẫn là qui tắc được chấp nhận trong lúc đó. Nếu bạn nổi loạn chống lại hình thức, bạn không thể chấp nhận sự vật đúng như thực tế.

D: Nhưng làm sao chúng ta có thể chấp nhận một hình thức khi nó ngược lại với sự phán đoán tốt hơn của chúng ta?

T: Ðây đúng là trọng tâm của vấn đề. Chính là vì sự phán đoán giá trị mà chúng ta không thể nhìn sự vật 'như chúng là'. Chúng ta nhìn sự vật theo lối suy tư của chúng ta. Sự thích và không thích trở thành khuôn mẫuđịnh chuẩn của chúng ta. Chúng ta chối bỏ ngay những gì không thích hợp với khuôn mẫu. Ngược lại nếu cái gì hợp khuôn thì chúng ta ôm lấy làm sở hữu. Tâm chúng ta luôn luôn nhảy chuyền giữa hai thái cực nầy, bám níu và chối bỏ. Khi nào bản tâm còn bị phân cực như thế, chúng ta luôn luôn bị dính níu vào thích và không thích, thì làm sao chúng ta có thể nhìn hình thức đúng như thực tế?

D: Vậy thì chúng ta phải làm sao?

T: Bạn không cần làm gì khác trừ việc học cách giữ tâm im lặng, không phán đoán hình thức. Khi bạn ngưng phán đoán thì thích và không thích cũng ngưng, và bám níu hay chối bỏ cũng không còn. Một khi dừng phán đoán, bạn sẽ thấy hình thức là hình thức, không hơn không kém. Bạn sẽ thấy nó 'như nó là' và bạn có thể liên hệ với nó một cách tự do.

Không bị cản trở bởi chối bỏ hay bám níu, bạn có thể hoạt động với cả hình thức hay không hình thức.

Nhận Thức Bình Thường

Khi là bạn thân, và càng thân hơn trong tâm linh, người ta có thể liên hệ với nhau một cách cởi mở và tự do mà không có một giới hạn nào.

E: Tôi nhận thức được một sự yên tịnh thật là bình an và tuyệt vời bên trong, đến nỗi tôi cảm thấy như là mình đang sống trong một tổ kén.

T: Ðây chỉ là một giai đoạn. Nó sẽ trôi qua, và sau đó sẽ trở thành bình thường. Sự bình an không có gì đặc biệt.

E: Nhưng đây không phải là bình thường! Tôi đã cảm nhận được sự bình an nầy khi còn rất trẻ, nhưng khi lớn lên tôi trở thành đầy nghẹt cảm xúc, mâu thuẫn và bực bội, và tôi đánh mất sự yên tịnh nầy. Bây giờ đây, nhờ thiền định và học Phật pháp mà tôi bắt đầu kinh nghiệm nó trở lại! Ðây nhất định là chuyện tuyệt vời chớ không phải bình thường. Tôi cho bình thường là những nóng giận và bực bội mà tôi có trước đây. Bây giờ chúng không còn nữa. Ðó là điều mà tôi cho là không bình thường.

T: Đúng là cảm giác kỳ thú và tuyệt vời làm cho mình cảm thấy như mình được bao bọc trong tổ kén. Ðây chỉ là lúc ban đầu. Cảm giác tuyệt diệu nầy - hay bạn gọi nó là cái gì cũng được - sẽ tan đi giống như mọi chuyện khác. Ngay lúc nầy, bạn cảm thấy mình cách biệt với người khác, và có thể nghĩ là mình ở trên họ. Thật ra, không có trên hay dưới. Chúng ta đều là con người. Mỗi người trong chúng ta đều có sự yên tịnh nội tâm.

Thứ Tư, 28 tháng 6, 2017

Phra Paisal Visalo
Tăng cường khả năng miễn dịch của xã hội: Làm cha mẹ, chúng ta không chỉ muốn con cái của chúng ta thành công, mà còn có một cuộc sống hạnh phúc và đạo đức.
Sẽ vô nghĩa nếu con cái chúng ta vẫn còn chịu dày vò bởi đau khổ hoặc sống một cuộc sống đồi bại và chìm đắm trong trụy lạc - cho dẫu của cải của chúng nhiều đến mấy đi nữa. Nhưng sống một cuộc sống đạo đức và hạnh phúc thật chẳng dễ chút nào trong thời đại hiện nay.

Giới trẻ cần phải được “chủng ngừa” để miễn nhiễm với đủ loại tệ nạn xã hội, để không bị lôi kéo vào con đường sai trái. Chúng cũng cần phải học để suy nghĩ, tìm kiếm những tấm gương đạo đức để noi theo để có thể sống một cuộc sống có ý nghĩa.

Kiến thức giúp con trẻ thông minh. Nhưng nếu bạn muốn các con của bạn được hạnh phúc và có một cuộc sống tốt lành, bạn cần phải dạy cho chúng hiểu phước báu hay công đức là gì, bởi vì điều này có thể giúp con của bạn tránh xa tất cả các loại tệ nạn. Nó có thể giúp con của bạn giải quyết và đối phó với các vấn đề của cuộc sống cũng như dưỡng nuôi tinh thần của mình với niềm hạnh phúc và sự bình an nội tại.

Tạo phước báu hay công đức là một sự lau chùi. Trước hết, nó “làm sạch” việc làm của chúng ta nhờ vậy chúng ta có thể sống một cuộc sống đạo đức đem lại lợi lạc cho chính chúng ta và cho người khác. Kế đó, nó lau chùi tâm của con người giúp chúng ta thoát khỏi những phiền muộn và những ham muốn. Nhờ đó, chúng ta có thể tu tập để có một cái tâm sáng suốt, không để cho các xung động tình cảm điều khiển hoặc chi phối chúng ta.

Tạo thiện nghiệp cũng có nghĩa là có được những cảm giác hạnh phúc đến từ làm những việc tốt đẹp. Người cho có được hạnh phúc: Chúng ta bắt đầu có được phước báu khi chúng ta biết cách để cho ra. Cho, tặng, bố thí hay "dana", giúp xóa bỏ cái thói quen xem cái tôi của chúng ta là trung tâm của vũ trụ. Cái tâm luôn luôn có khuynh hướng nắm giữ là một cái tâm hẹp hòi và ích kỷ, nó làm cho con người có cái tâm đó khó thương và khó có được hạnh phúc.

Trẻ em lớn lên trong sự an vui bởi vì chúng nhận được những gì chúng cần từ những người chung quanh ngay từ khi chúng mới được sinh ra. Nếu chúng không học cách để cho, chúng sẽ tin rằng chúng luôn có quyền để có được mọi thứ từ người khác. Trẻ em nên học để hiểu rằng sống có nghĩa là cho và nhận. Chúng có thể học bài học này từ cây cối. Thí dụ: Cây hút dưỡng chất và nước từ đất, nhưng đáp lại nó cũng cung cấp độ ẩm cho đất và lá khô là một thứ phân bón cho đất.
Nhưng cho không có nghĩa là một sự trao đổi hoặc một nghĩa vụ. Quan trọng của việc cho là nó đem lại cho chúng ta hạnh phúc. Dạy cho con trẻ biết cho có nghĩa là dạy cho chúng tìm hạnh phúc từ chính sự rộng lượng của chúng. Tất cả trẻ em nên học để biết rằng người cho là người được hạnh phúc, và đây là một sự thật.
Đây là lý do tại sao các bậc cha mẹ thuở xưa thường đưa con trẻ đến chùa để cúng dường cho các tu sĩ để tập cho chúng để sau này khi lớn lên, chúng sẽ mong muốn được tự mình làm lấy công việc tốt đẹp này.

Chúng ta được phước báu khi cúng dường đến chư Tăng, nhưng phước báu cũng có được từ việc giúp đỡ những người kém may mắn. Trẻ em có thể tạo phước bằng cách cho những món đồ chơi của mình cho các trẻ em nghèo hoặc ủng hộ tiền bạc cho những người tàn tật. Ngoài việc bố thí tiền bạc và của cải vật chất, trả lại cuộc sống cho loài vật cũng là một việc làm để tích tạo thiện nghiệp. Làm những việc tốt đẹp tuy đơn giản như giải thoát những con cá bị mắc cạn trong bùn và thả chúng lại sông, rạch hoặc tưới nước cho cây cối đang héo cũng là những cách để tạo thiện nghiệp.

Làm cho bộ mặt của thế giới tốt đẹp hơn bằng sự rộng lượng: Hãy dạy cho con trẻ rằng cái mà chúng cho hoặc giá trị của vật cho là bao nhiêu thì không quan trọng bằng sự quan tâm, ân cần. Bạn sẽ thực sự giúp ích cho con của bạn nếu bạn dạy chúng rằng ngay cả khi khả năng và tiền bạc của chúng bị hạn chế, chúng vẫn có thể tạo những thiện nghiệp lớn lao ngang bằng với người lớn nếu chúng có sự quan tâm, ân cần. Bạn nên dạy cho con của bạn rằng phẩm chất của con người của chúng ta không được đo bằng tuổi tác, sự thành công hay danh tiếng, mà bằng phẩm chất của trái tim của chúng ta.

Dành thời gian và sức lực để giúp đỡ những người khác cũng là một việc để tạo công đức: Trẻ em nên biết rằng chúng có thể tạo loại thiện nghiệp này trong đời sống hàng ngày của chúng. Ví dụ, nhặt các mảnh kính vỡ hoặc nhặt rác, giúp đỡ công việc trong nhà trường, mang vác đồ đạc cho người cao tuổi, giúp người mù băng qua đường, trồng cây ở các khu vực công cộng hoặc làm các công việc vặt trong nhà.

Không lợi dụng, bóc lột người khác: Để giúp đỡ người khác, khởi sự chúng ta phải đảm bảo rằng hành vi của chúng ta không gây hại cho họ. Hành vi có hại bao gồm giết người, trộm cắp, tà hạnh, xâm phạm những gì mà người khác trân quý, hoặc nghiện những chất say. Thiện nghiệp từ việc tự kiềm chế những hành động này được gọi là Sìla, Giới (đạo đức, đức hạnh) trong Phật giáo.

Bằng cách dạy cho con trẻ không lợi dụng, bóc lột người khác, bạn xây dựng cho chúng họ một hàng rào để tự bảo vệ, vì một lỗi lầm tuy đơn giản nhưng vẫn có thể dẫn đến một thảm kịch. Bạn không nên duy trì thái độ thụ động nếu con bạn phạm những lỗi lầm xem ra không đáng kể, chẳng hạn như lấy cắp viết của bạn bè, chép bài tập về nhà của bạn chúng, gian lận trong các kỳ thi hoặc giết hại kiến và sâu.

Việc tốt không chỉ ngăn chúng ta lợi dụng, bóc lột người khác, mà còn ngăn chúng ta không tự lợi dụng, bóc lột chính bản thân mình. Những người làm việc tốt mang lại hạnh phúc không chỉ riêng cho bản thân họ mà cho cả những người xung quanh.

Tiêu thụ một cách khôn ngoan hoặc đơn giản cũng là một phần của đạo đức Phật giáo. Chúng ta không nên thái quá trong việc ăn uống và sinh hoạt của chúng ta. Chúng ta nên ăn thức ăn bổ dưỡng và không để cho sự tham lam gây tổn hại cho cơ thể chúng ta. Điều này bao gồm việc sử dụng công nghệ một cách đúng đắn. Thí dụ, trẻ em nên tìm hiểu làm thế nào để sử dụng điện thoại di động chỉ khi nào thật cần thiết, xem truyền hình chỉ sau khi đã làm xong bài tập ở nhà, hoặc chơi các trò chơi (games) chừng mực, vừa phải. Trẻ em cũng nên học cách tiết kiệm, không phô trương sự giàu có, không tiêu xài phung phí cũng như không nghiện mua sắm hoặc nghiện các tệ nạn như cờ bạc và giải trí ban đêm.

Làm việc tốt với trái tim của bạn: Chúng ta có thể tạo công đức bất cứ lúc nào và bất kỳ ở đâu, cho dẫu chúng ta có hoặc không có tiền. Chúng ta có thể tạo công đức mà chẳng phải làm bất cứ việc gì nếu chúng ta huấn luyện tâm của chúng ta đúng cách để nó tạo ra những cảm xúc tích cực như hoan hỷ với sự may mắn của người khác - không ghen tị.

Dạy cho con của bạn làm thế nào để sống hạnh phúc vì những người khác sẽ tặng lại cho chúng những hạt giống của từ tâm.
Trẻ em cũng cần được dạy không nỗ lực để làm việc tốt một mình, mà nên chia sẻ cơ hội để cho những người khác cùng tham gia. Mong muốn những người chung quanh cùng chia sẻ phước báu từ những việc làm tốt lành tự nó cũng là một thiện nghiệp.

Khiêm tốn cũng là một cách để tạo thiện nghiệp: Trẻ em nên được dạy không được khinh thường người khác chỉ vì họ nhỏ tuổi hơn, ít học hơn hoặc nghèo hơn. Chúng cũng nên được dạy không được cư xử hống hách với những người giúp việc trong gia đình. Khiêm tốn là một thiện nghiệp bao gồm cả việc không có thành kiến đối với những người thuộc các tín ngưỡng khác nhau.

Làm việc tốt với trái tim của chúng ta tạo cho chúng ta một cái tâm tích cực và hạnh phúc. Ghen tị và kiêu ngạo, trong khi đó, đưa đến sự lo lắng và căng thẳng. Chúng ta nên dạy cho trẻ em cách huấn luyện tâm của chúng để chúng có thể đối phó một cách khéo léo với những tác nhân kích thích bên ngoài ảnh hưởng đến cảm xúc của chúng.

Huấn luyện để có một cái tâm định tĩnh: Thiền làm dịu tâm do dập tắt sân hận một cách hiệu quả. Khởi đầu, trẻ em cần được dạy thở vào chậm, sâu ít nhất từ 4 đến 5 lần mỗi khi chúng cảm thấy tức giận. Nhưng thiền định chỉ có hiệu quả khi được thực tập thường xuyên như là một phần của cuộc sống hàng ngày. Các phương pháp có khác nhau. Ví dụ, tập trung vào hơi thở vào và ra, hoặc đi bộ chậm rãi trong sự bình tĩnh. Sẽ có hiệu quả hơn nếu cha mẹ cùng tham gia thiền tập với con mình. Chỉ cần năm phút thực hành mỗi ngày sẽ làm nên điều kỳ diệu trong việc phát triển tâm linh của bạn và con của bạn.

Đối với trẻ nhỏ, trò chơi cũng có lợi. Ví dụ, trò chơi rô bô. Hãy bảo trẻ em để vận động từng phần riêng biệt của cơ thể một cách chậm rãi giống như một rô bô. Quy luật là chúng phải quan sát tất cả các cảm giác sinh khởi trong khi vận động. Phương pháp này tạo niềm vui trong việc giúp trẻ em học để trau dồi sự định tâm cũng như ý thức đối với cơ thể của chúng.

Trên thực tế, chúng ta có thể thiền tập với mọi hoạt động của chúng ta. Chúng ta có thể dạy cho con của chúng ta giữ chánh niệm khi đánh răng, rửa chén, hoặc làm bài tập ỏ nhà. Chúng ta cũng nên dạy cho chúng mỗi lúc chỉ làm một việc. Thí dụ, không ăn và đọc sách cùng một lúc. Điều này có thể giúp tăng cường khả năng tập trung của chúng.

Trước khi ngủ là thời điểm tốt để dạy trẻ em trau dồi sự định tâm cũng như sự điềm tĩnh. Điều này có thể được thực hiện qua lời những cầu nguyện đơn giản, sau khi đã bày tỏ lòng tôn kính đối với Đức Phật, Pháp (giáo lý của Ngài) và Tăng đoàn (cộng đồng các nhà sư), và sau đó đến cha mẹ và thầy cô. Trẻ em nên giữ tâm trí của chúng yên tĩnh một lúc trước khi ngủ. Rải tâm từ là một cách huấn luyện tâm hiệu quả do có thể bảo vệ mình khỏi sự tức giận. Sân hận tích lũy lâu ngày giống như lửa đốt cháy trái tim của chúng ta. Cha mẹ nên dạy trẻ em để ban rải lòng tốt và tâm từ trườc khi ngủ.

Nuôi dưỡng lòng từ cũng có thể tu tập qua việc thường xuyên bày tỏ sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn người khác và những thứ xung quanh chúng ta. Trẻ em cần được dạy không chỉ biết ơn cha mẹ và thầy cô của mình, mà còn biết ơn người giúp việc, lái xe, lao công v.v…, những người giúp đỡ để đảm bảo cho các em một cuộc sống thuận lợi, dễ dàng. Các em cũng nên học cách biết ơn ngay cả đến cây cối, núi, biển, cũng như những thứ mà chúng sử dụng như bút chì, túi xách, chăn, ô tô, v.v …Điều này giúp các em phát triển tính hòa nhã, quan tâm đến môi trường và biết sống căn cơ.

Nếu con bạn sống chẳng cần quan tâm đến ai , hãy dạy cho chúng tưới cây hoặc nuôi một con thú cưng và dạy cho chúng chúc lành cho cây trồng và thú cưng của chúng được hạnh phúc và tránh khỏi mọi đau khổ. Nếu chúng làm điều này thường xuyên mỗi buổi sáng và buổi tối, trái tim của chúng sẽ tràn đầy lòng từ bi.
Ban rải lòng từ là một công đức lớn. Đức Phật dạy rằng các phước báu mà nó mang lại còn lớn hơn cúng dường cho Đức Phật hay cho 100 vị tu sĩ đã giác ngộ. Được như vậy là vì đó là một hành động trực tiếp làm cho tâm trí của một người trở nên tích cực.

Dạy cho con trẻ có chánh kiến: Sau khi huấn luyện tâm định tĩnh , bước tiếp theo là rèn luyện để nó có được trí tuệ hay có chánh kiến. Con của bạn nên học để biết cách dùng thiện tâm thay vì để cái tâm thích và không thích hướng dẫn hành động của chúng. Chúng nên được dạy rằng khi bị la rầy, quở trách, ngay cả khi chúng không vui về chuyện đó, chúng nên suy nghĩ để hiểu rằng việc bị la rầy, quở trách như vậy là đúng hay sai. Thái độ này sẽ giúp làm cho chúng bớt buồn khổ và chúng có được sự lợi lạc từ việc bị la rầy, quở trách.

Tương tự như vậy, trẻ em nên sớm học để hiểu rằng khi ăn, chúng không nên đi tìm những món hợp khẩu vị mà tìm những món bổ dưỡng cho cơ thể đồng thời cũng là những món ăn giúp tiết kiệm. Suy nghĩ đúng đắn này giúp con trẻ học cách tiêu thụ đúng và giúp chúng không bị nô lệ vào chủ nghĩa tiêu thụ.
Chánh kiến có thể tu tập bằng cách cho con bạn tiếp cận với những thông tin hữu ích. Bạn nên giúp con mình nghe những hướng dẫn hữu ích, đọc những quyển sách hữu ích hoặc xem các chương trình truyền hình hữu ích. Bạn cũng nên cùng với con trẻ xem truyền hình để có thể cung cấp cho chúng những hướng dẫn phù hợp.

Dạy cho con của bạn làm việc tốt tự nó là một hành động tạo phước báu. Nếu chúng nghe theo lời dạy của bạn, có nghĩa là chúng đang tham gia vào việc tạo thiện nghiệp của bạn.

Tạo thiện nghiện là một cách làm cho tâm của chúng ta thanh tịnh, trong sáng, định tĩnh và tràn đầy niềm hỷ lạc thật sự. Có thể bạn sẵn sàng cung cấp cho con trẻ tất cả các của cải vật chất mà chúng muốn hoặc cần. Nhưng có một điều bạn không thể quên là phải dạy cho chúng biết những gì mang lại thiện nghiệp hay công đức, và giúp chúng sống một cuộc sống đầy đủ phước báu.

Như vậy, bạn có thể trao lại cho con mình một di sản lớn lao biết bao!

10 CÁCH TẠO THIỆN NGHIỆP

1. Bố thì tiền bạc hoặc của cải.

2. Nuôi dưỡng lòng quảng đại và tránh làm điều ác.

3. Giữ tâm định tĩnh.

4. Hy sinh thời gian và sức lực của mình cho người khác

5. Khiêm tốn.

6. Đánh giá cao những thành công, việc làm tốt của người khác.

7. Giúp người khác làm tốt công việc của họ hoặc chia sẻ với họ công đức của chính mình

8. Nghe Pháp hoặc nghe những tư tưởng đẹp

9. Bố thí Pháp hoặc những tư tưởng đẹp cho người khác.

10. Suy nghĩ đúng đắn phù hợp với đạo đức

Theo: Teaching children to make merit

Chuyển ngữ sang tiếng Việt: Panna Dipa Tuệ Đăng

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2016


- Dạo này nhiều chuyện quá chị ơi, việc nhà càng ngày càng rối tung hết chuyện này chuyện khác, bố mẹ em thì…,anh trai em lại còn…, em thì..
- Cũng lâu lắm rồi chị không có những suy nghĩ này
- Chị ra đời, đi làm đi thì biết, đi tu thiền rồi thì có quái gì nữa
- Vậy theo em, chị tu thiền để làm gì?
- Để buông bỏ
- Buông bỏ cái gì? Nếu em nghĩ tu thiền để bỏ nhà cửa, tài sản vật chất, người thân của mình thì sai rồi, chị thực hành để bỏ tham, sân, si và để có được hiểu biết, trí tuệ.
- Nhưng còn người thân thì sao, họ gặp bao nhiêu chuyện?
- Hãy để người thân qua một bên đã, Hãy lo diệt trừ tham sân si trong tâm mình trước. Người thân sẽ biết lo cho chính họ, đừng quá quan tâm đến người khác!
- Vậy trách nhiệm đối với người thân, xã hội thì sao?
- Khi có sự tiến bộ trong thực hành rồi thì mình quay lại giúp đỡ người khác cũng chưa muộn, lúc đó là giúp với tâm bình an,có hiểu biết mà không có dính mắc, còn khi chưa tu thiền, em chỉ đổ thêm năng lượng tham, sân, si từ em vào đống lửa đang cháy, mà lại mong dập tắt nó..hazz
- Nhưng cho dù mình tu thiền nhưng người nhà, bạn bè không tu thì làm sao để sống tốt đẹp với họ được?
- Người khác làm gì là chuyện của họ. Phần của mình là giữ tâm thư giãn, chấp nhận, kham nhẫn chịu đựng hoàn cảnh và học hỏi từ đó. Khi có thời gian thực hành lâu rồi, tâm người hành thiền biết kham nhẫn hơn, ít phản ứng tự động hơn, nên nhờ đó có thể bình tĩnh hơn, sang suốt hơn những người cùng hoàn cảnh để dùng lời lẽ nhẹ nhàng khôn khéo giải quyết vấn đề chung.






Thứ Ba, 15 tháng 11, 2016



Cô ấy vừa tốt nghiệp trường cao đẳng; quen biết với cô ấy thật là như được một luồng gió mát. Cô ta đầy sinh lực, thông minh và vui vẻ, với một tâm hồn tươi trẻ luôn luôn học hỏi. Chúng tôi trở thành bạn tâm linh với nhau.

Cô nói với tôi về một người mà cô ghét từ khi còn học trường cao đẳng. Cô không ưa hắn đến nỗi kể cả trong giấc mộng hắn cũng làm cô bực bội. Do đó cô hỏi tôi về Thương và Ghét.

S: Bà có thể giải thích cho tôi về Thương và Ghét?

T: Ồ, cô thấy, thương và ghét không khác nhau lắm đâu. Chúng là hai khía cạnh của tâm phân biệt, giống như hai mặt của một đồng xu.

S: Nhưng chúng ta cảm thấy rất khác.

T: Phải, ban đầu chúng khác nhau, nhưng chúng đều phát xuất từ thói quen phân biệt, và đều dẫn tới đau khổ. Chúng ta thương hay ghét một người nào là căn cứ trên sự 'thích' hay 'không thích'. Chúng ta tự động phân loại người khác tùy theo những định kiến của chúng ta. Nếu họ đáp ứng được lý tưởng của chúng ta và có vẻ hợp với sở thích thì tâm chúng ta lập tức bám níu vào họ; nhưng nếu họ thuộc loại không hợp với sở thích thì tâm chúng ta bắt đầu chối từ họ. Bằng cách nầy, chúng ta đi tới Thương và Ghét.

S: Nhưng làm sao chúng ta có thể chấm dứt Thương và Ghét? Tôi thấy bực mình trong cả hai trường hợp.

T: Hãy nghĩ về trường hợp cô thương một người vào lúc nào đó, nhưng một lúc khác sau đó thì lại ghét y. Hắn cùng là một người, tại sao tình cảm của cô lại thay đổi?

S: Có lẽ là vì người ấy và bản thân tôi đều thay đổi.

T: Ðúng vậy. Ðiều đó có nghĩa là tình thương của chúng ta thay đổi với tình huống, có nghĩa là cảm xúc của chúng ta là vô thường, tương đối với thời gian và nơi chốn.

S: Cảm xúc của chúng ta là vô thường?

T: Thật đúng vậy. Ðây là điều mà Ðức Phật gọi là Maya, ảo tưởng của tâm thức. Cảm xúc của chúng ta là ảo tưởng sinh ra từ tâm khái niệm; chúng phát xuất từ bản ngã. Theo Phật giáo, bởi vì bản ngã chỉ là ảo tưởng, tất cả những gì phát sinh từ tâm khái niệm cũng đều là ảo hóa. Nó không có thực chất, thường tính và bình an tính. Do đó tình thương thế tục là không bền, nó có thể trở thành sự ghét.

Khoảng một tuần sau, cô ấy lại đến gặp tôi, và lần nầy cô rất hớn hở nói với tôi:

S: Bây giờ tôi hoàn toàn hiểu những gì bà nói về Thương và Ghét. Tôi gặp người đó hôm trước đây, và thật đáng ngạc nhiên thay, tôi tự thấy mình đi đến với hắn và chào hỏi hắn mà không ngần ngại. Tôi không hiểu tại sao, nhưng tôi không còn cảm thấy thù nghịch với hắn nữa. Trước đây, tôi rất ghét thấy bản mặt hắn. Thật là một sự giải tỏa lớn lao đối với tôi! Bây giờ tôi cảm thấy mìnhđược tự do!

T: Tôi muốn hỏi cô một điều: lần nầy trước khi cô gặp người đó, cô cảm thấy còn sự ghét bỏ trong tâm mình hay không?

S: Ừ nhỉ, khi nghĩ về điều đó, thật là tôi không có.

T: Và ngay bây giờ đây, cô còn ghét hắn không?

S: Không.

T: Vậy thì, có cái gì khác, trước và sau?

Cô ấy bật cười và nói:

S: Thật rất đúng!

T: Ừ, cô đã thoát khỏi sự thương và ghét nầy trước khi cô gặp hắn phải không?

S: Phải, đúng vậy.

T: Cô đã làm gì để được tự do như thế?

S: A, tôi có làm gì đâu. Tôi tự mình được tự do.

Ðúng vậy. Chúng ta tự mình không có thương và ghét. Chỉ khi nào chúng ta bắt đầu thích hay không thích thì chúng ta mới bị rắc rối bởi cảm xúc sau đó. Ngay khi chúng ta vừa nhận ra rằng chúng nó chỉ là ảo tưởng do chúng ta tự tạo ra, chúng ta được tự do. Chúng ta được trở về tình trạng ban đầu trong đó không có thương và ghét. Chỉ khi nào tâm mình bắt đầu làm việc với 'thích' và 'không thích' thì thương và ghét trở thành gánh nặng và chúng ta tạm thời bị mất tự do.

Ðây là một thí dụ thực tế cho thấy khi đám mây ảo tưởng được vén lên thì chúng ta sẽ có được tự do và giác ngộ về giây phút hiện tại.

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2016



Tứ Diệu Ðế (Bốn Chân Lý Cao Thượng) là cột trụ của Phật giáo. Hiểu chúng sẽ giúp cho đời sống thường ngày của chúng ta được tốt đẹp hơn. Chân lý thứ nhất là Dukka tức Khổ. Chân lý thứ hai là Samudaya tức là Khát Vọng. Chân lý thứ ba là Nirodha tức là Sự Chấm Dứt Ðau Khổ. Chân lý thứ tư là Magga tức Bát Thánh Ðạo, con đường dẫn tới sự chấm dứt đau khổ.

* Nhưng làm sao chúng ta có thể áp dụng Tứ Diệu Ðế vào đời sống thường ngày?

Ðiều đó không khó. Ðể bắt đầu, bạn phải nhìn Dukkha trong toàn bộ của nó trước khi có thể thấy được cách giải quyết vấn đề. Bạn không cần phải ngoắc ngoải trong đau khổ thể chất hay tâm thần mới có thể hiểu được Dukka. Nó ở khắp nơi chung quanh bạn. Ngay lúc này, bạn cảm thấy thế nào về tiếng đập ầm ĩ ở bên cạnh?

(Nhà bên cạnh đang sửa chữa nên gây tiếng động rất ồn)

Trong thực tế bạn cảm thấy bức rứt bởi vì bạn muốn có sự yên tịnh để nghe và học. Bạn đang cố gắng loại trừ tiếng động ra khỏi ý thức của bạn, nhưng không thể được. Bởi vì đó không phải là cách giải quyết vấn đề. Bạn thấy tiếng động làm phiền bạn và bạn muốn chấm dứt nó. Bạn khao khát muốn cho mấy người thợ dừng tay.

Bởi vậy, bạn đã dựng lên một ham muốn là tiếng động phải chấm dứt. Sự ham muốn nầy làm sao nổi lên? Nó nổi lên từ sự bất mãn của bạn với tình thế hiện tại. Nói cách khác, bạn muốn được yên tịnh ngay lúc này. Bởi vì không có được, nên bạn bực bội. Trong tâm bạn đã có sự ghét bỏ.

Giả sử như bạn đang phải làm chuyện gì rất quan trọng đối với bạn. Sự ghét bỏ này có thể bừng lên thành nổi giận, thù ghét và cả bạo lực nữa. Sự ghét bỏ đã là một tình trạng căng thẳng. Nóng giận, hận thù và bạo lực đem đến thêm căng thẳng và đau khổ cho chính mình và người khác.

Ðây là những sự thực mà chúng ta phải đối diện trong từng giây phút của đời sống thường ngày. Nhưng chúng ta không nhận thức được sự ghét bỏ và sự đau khổ nó đem đến. Chúng ta cho Dukkha là do người nào hay việc nào khác gây nên.

Sự thiếu nhận thức nầy gọi là Vô Minh hay Ngu Dốt, ngu dốt về Bốn Sự Thật Cao Thượng. Sự ngu dốt nầy được diễn tả là tình trạng thiếu tỉnh giác. Nếu bạn thức tỉnh về tâm trạng của mình ngay lúc này, bạn sẽ thấy điều gì đang xảy ra trong đó. Ngay lúc này, bạn hãy nhìn vào bản tâm để xem cái gì đang xảy ra? Hãy nhìn chuyện gì xảy đến cho sự bực bội của bạn.

* Khi tôi ý thức về sự bực bội, hình như nó giảm bớt.

Khi bạn ý thức về sự bực bội, sự ghét bỏ tan đi. Nó tan mất vào tâm.

* Phải, bớt chút ít. Sự bực bội-nó vẫn còn đó nhưng bớt đi nhiều. Tôi hiểu rồi. Vấn đề không phải là đem sự bức rứt ra khỏi tâm. Vấn đề là chấp nhận sự kiện mình đang bức rứt và bực bội, phải không ?

Bạn nói đúng. Vấn đề không phải là tiếng ồn, mà là phản ứng của bạn với nó. Bạn phải đối phó với mình trước khi đối phó với tiếng ồn. Bây giờ, bạn sẽ làm gì đây ?

* Nhưng rõ ràng chúng ta có một số lựa chọn. Chúng ta có thể rời xa tiếng ồn. Chúng ta có thể yêu cầu mấy người thợ ngưng đóng đinh. Chúng ta có thể ngồi lại đây và cố giữ ý thức của mình về tiếng ồn để giảm bớt sự khó chịu ?

Bạn phải rõ ràng. Ðó là ý thức về tiếng ồn hay là ý thức về chính tâm trạng của bạn?

* À, là ý thức về tâm trạng của tôi đối với tiếng ồn.

Ðúng vậy. Trong đời sống có nhiều trường hợp mà bạn không thể loại trừ được những yếu tố bên ngoài. Chúng ta không thể loại trừ hay kiểm soát hầu hết ngoại duyên trong đời sống, nhưng chúng ta có thể làm một cái gì cho chính mình. Bạn bắt đầu với chính bạn. Bởi vì bạn được sinh ra với ý chí tự do, nên bạn có thể làm bất cứ điều gì với chính mình.

*Đó là bởi vì tôi không thể chấm dứt tiếng ồn, tôi phải lựa chọn chấp nhận nó?

Bạn phải phân biệt giữa chấp nhận một cách mù quáng và chấp nhận một cách thông minh. Chấp nhận chỉ có thể được trọn vẹn nếu bạn không chứa chấp sự phê phán.

Bây giờ hãy trở lại Tứ Diệu Ðế. Sự bất mãn của bạn với tình trạng ồn là chân lý thứ nhất về Khổ - tức Dukkha. Sự ham muốn hay khao khát được yên tịnh là chân lý thứ hai - Samudaya - tức Tập, hay là nguyên nhân của Khổ. Bây giờ khi bạn nhìn vào bản tâm và giải quyết sự bực bội, bạn thoát khỏi chu trình ham muốn- ghét bỏ- ham muốn. Phải không? Bây giờ bạn hãy nhìn vào trong tâm nữa xem.

* Sự bực bội đã biến mất ! 
Hãy nhìn lại những gì chúng ta mới trải qua. Bạn đã thấy là mình có thể phá vỡ được chu trình đau khổ bằng cách chỉ nhìn vào trong tâm trạng của mình. Ðây thực ra là sự tỉnh giác của tâm, là căn bản của sự tu tập 'thiền quán tâm' trong Phật giáo. Bây giờ, bạn thấy là tu tập tỉnh giác có thể đưa tới sự chấm dứt đau khổ hay chưa?

* Thưa, chưa đâu. Sự tỉnh giác có liên hệ thế nào với sự chấp nhận tiếng ồn?
Sự chấp nhận tiếng ồn là kết quả của sự tỉnh giác. Sự tỉnh giác là hành động siêu thoát. Nó siêu thoát 'thích' và 'không thích' và làm thanh tịnh nhãn quan của chúng ta. Chúng ta nhìn sự vật 'như chúng là'. Khi chúng ta thấy hay nghe sự vật đúng như thực tế, sự chấp nhận tự nhiên đến.

Ta có ý thức về tiếng ồn. Ta loại trừ sự bám níu vào yên tịnh và ta chấp nhận tiếng ồn. Ta chấp nhận tiếng ồn như là một phần của kinh nghiệm. Cả đến cái 'ta' cũng không có đó. Chỉ là sự chấp nhận thôi. Sự chấp nhận đến từ tự do của tâm trong lúc đó. Khi chu trình bị phá vỡ, bạn không còn cảm thấy bực bội nữa. Khi tâm thoát khỏi cảm xúc về tiếng ồn, nó có tình trạng bình thản và chấp nhận.

* Mình không mong đợi tiếng ồn chấm dứt và cũng không mong đợi nó trở nên ồn hơn.

Ðúng vậy. Bạn thoát khỏi sự khái niệm hóa về tiếng ồn. Bạn đi tới điểm bạn nghe nó như 'nó là như vậy'. Với sự nghe tiếng ồn đúng như thực tế của nó, sự chấp nhận đã là một phần của tình huống. Bạn không thể gượng ép mình chấp nhận nó. Bởi thế tôi phải rất cẩn thận khi dùng từ. Khi bạn nói 'Tôi chấp nhận' thường có nghĩa là...bạn đang kiểm soát tình hình. Sự chấp nhận mà chúng ta đang nói đây là sự tự nhiên và tức thời hòa nhập và làm một thể với môi trường.

* Như vậy là không còn có sự ngăn cách giữa tiếng ồn và kinh nghiệm tiếng ồn của tôi. Do đó không có gì để chấp nhận hay bực bội vì nó cả.

Ðúng. Bây giờ chúng ta hãy trở lại kinh nghiệm của bạn ngay giây phút này. Bạn còn khó chịu về tiếng ồn hay không?

* Không còn khó chịu nữa. Tôi hoàn toàn được tự do đối với tiếng ồn. Bà đã nói tỉnh giác là nền tảng của thiền định. Nó hoạt động ra sao?

Phải. Sự tỉnh giác của bản tâm ở từng giây phút là một phần của cách tu tập 'thiền quán tâm' (satipatthana).
 Ngay lúc này, bạn cảm thấy thế nào về tiếng đập ầm ĩ ở bên cạnh?
Trong trường hợp đặc biệt này, sự tỉnh giác về sự bực bội là bạn quán chân lý thứ nhất - Khổ. 

Sự tỉnh giác về ham muốn được an tịnh và sự bám níu vào yên lặng, tức nguyên nhân của Khổ, là bạn quán chân lý thứ hai - Samudhaya - hay là Tập. Giây phút bạn được tự do thoát khỏi sự bực bội về tiếng ồn là Nirodha (Diệt) tức chân lý thứ ba. Trong trường hợp nầy, sự dừng khổ là tạm thời nên được gọi là Tadanga Nirodha.

* Còn Chân Lý Thứ Tư (tức Ðạo)?

Khi bạn tu tập tỉnh giác, thực ra bạn đang thực hành Bát Thánh Ðạo. Bạn đang chánh tinh tiến để tu tập Tỉnh Giác về sự bực bội của bạn. Do đó tâm bạn được tập trung, tức Chánh Ðịnh 

Khi bạn siêu việt sự không thích tiếng ồn và không còn khó chịu, ngay lúc đó bạn có thể nghe tiếng ồn như thực tế. Ðây là Chánh Kiến. Khi bạn không mong đợi nó chấm dứt hay trở nên ồn hơn, đó là Chánh Tư Duy. Bạn có thể nói lên tình hình với nhận thức đúng đắn, gọi là Chánh Ngữ. Bây giờ bạn còn muốn rời xa tiếng ồn nữa hay không?

* Vậy muốn nói không làm gì trong trường hợp nầy là hành động đúng?

Ðúng thế. Như vậy bạn đã thấy nếu tu tập tỉnh giác với tâm bình thản trong đời sống thường ngày, là bạn đang áp dụng Bốn Chân Lý Cao Thượng và phối hợp với Bát Thánh Ðạo trong lối tu sinh hoạt thiền.

Sống Thiền - Ðạo Lý Tỉnh Giác Trong Ðời Sống Thường Ngày
Ledi Sayadaw
Từ Thám dịch

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2016



H: Tôi có ấn tượng là Phật pháp có tính cách rất cá nhân.

T: Nó có vẻ như thế, nhưng chúng ta không phải là những sinh vật cô lập. Chúng ta sống trong xã hội. Như vậy những gì ảnh hưởng tới cá nhân sẽ ảnh hưởng tất cả những người chung quanh. Phật giáo tập trung rất nhiều trên sự giác ngộ của mỗi cá nhân. Mặc dầu Phật giáo không bỏ quên cộng đồng, nó phải bắt đầu với cá nhân. Khi mỗi cá nhân được chính trực và hoàn toàn được cân bằng ở nội tâm, y tự nhiên kéo những người khác vào sự hài hoà đó, và cả cộng đồng nữa. Nói cách khác, một sự cân bằng tức thời được tạo ra cho một tình thế nào đó.

H: Làm sao điều nầy có thể xảy ra?

T: Không có công thức kỳ diệu nào cho nó, nhưng có hai yếu tố căn bản: kiên nhẫn và trí tuệ (panna) đem lại sự hài hoà.

H: Phải chăng kiên nhẫn là một hình thức thụ động?

T: Nếu bạn kiên nhẫn và bao dung nhưng thiếu trí tuệ, sự kiên nhẫn và bao dung đó có thể mang hình thức thụ động. Trong trường hợp đó, người ta có thể tự để cho mình bị người khác lạm dụng bằng nhiều cách. Ðó không phải là lối sống thông minh, bởi vì sống thông minh là phải tránh hai thái cực: thụ động và nóng nảy.

Thời nay, người ta luôn luôn sống vội vàng và có khuynh hướng bị bịnh thiếu kiên nhẫn. Chúng ta bị lây bịnh thích hành động tức khắc, làm liền, khởi sự liền, và làm cái gì trong sự hối hả. Chúng ta không dành thì giờ để suy tư, dừng lại, nghiền ngẫm, và để cho sự vật tự chúng phô diễn. Chúng ta có khuynh hướng phản ứng bằng một tâm thức có nề nếp rối loạn - thay vì hành động một cách bình tĩnh và tập trung - dođó chúng ta tạo thêm rắc rối.

Hành động nào thiếu trí tuệ thì có tính phá hoại. Sống thông minh có nghĩa là quán xét và nhìn thấy giây phút thích hợp, cơ hội thích hợp và tình thế thích hợp để có thể hành động. Trong Phật giáo, đây gọi là Chánh Nghiệp (samma kammanta), tức hành động khôn khéo và trọn vẹn. Tóm lại, sống thông minh có nghĩa là sống khôn khéo và sáng tạo.

H: Như vậy, nếu sự thông minh và kiên nhẫn đều cần thiết cho lối sống khôn khéo, chúng liên hệ với nhau như thế nào? Làm sao chúng có thể đi chung?

Trí tuệ (panna) và kiên nhẫn giống như hai mặt của một đồng xu. Nếu có trí tuệ thì sự kiên nhẫn tự nóđến. Sự kiên nhẫn thiếu trí tuệ chỉ là giả thiện, nó không thể bền lâu, bởi vì sớm hay muộn bạn cũng hết kiên nhẫn. Sự bao dung chân thật phải xuất phát từ trí tuệ. Bạn thấy, trí tuệ sẽ đem đến Tứ Vô Lượng Tâm (brahma viharas) - tức là Từ (metta: tình thương không điều kiện), Bi (karuna: lòng muốn ban vui cứu khổ), Hỉ (mudita: tâm hoan hỉ, không ghen ghét) và Xả (upekha: tâm bình thản, không thiên chấp). Chỉ có Từ, Bi và Xả làm cho con người trở nên thánh thiện thật sự. Tâm Bình Thản làm cho người đó không còn bám níu, Từ và Bi làm cho người đó hoà đồng với người khác, và Trí Tuệ làm cho người đó có hành động chánh đáng. Tất cả những điều nầy dẫn tới sự thánh thiện thật sự.

H: Vậy làm sao mình có thể sống hòa đồng với người khác?

Ðây là một câu hỏi cực kỳ quan trọng. Ðó là vấn đề chú tâm trên sự quân bình của chính mình, và là điều căn bản nhất. Trong bất cứ tình huống nào mà bạn phải đối diện - dù là cá nhân, xã hội, nghề nghiệp, giađình, bạn bè, vv...- sự quân bình phải bắt đầu từ đó...với chính bạn. Nếu bạn lắc lư thì làm sao có thể làm cho người khác cân bằng được? Sự cân bằng phải bắt đầu ngay ở đây, bên trong chính bạn. Bằng không thì bạn có thể làm chìm tàu vì sự lắc lư của mình.

Chỉ khi nào bạn được hoàn toàn vững vàng và chính trực thì bạn mới có thể vươn tới nội tâm của người khác. Bạn không thể thay đổi họ một cách cố ý và bắt buộc. Sự thay đổi, trước hết, phải đến từ bên trong chính bạn. Sự cân bằng phải bắt đầu ngay bên trong chính bạn. Chỉ khi nào bạn được cân bằng bên trong, sự cân bằng nầy sẽ lan ra toàn bộ tình thế và sẽ tự nó ảnh hưởng đến sự quân bình của người khác. Sự kiện nầy xảy ra tức thời. Sự an tịnh của chính bạn sẽ làm cho những người khác và tình thế đáp ứng lại một cách rất tự nhiên. Chúng ta cần giữ một trái tim cởi mở, để cho khi làm bất cứ chuyện gì, hành động của chúng ta là từ tâm từ bi, chớ không kém hơn. Lối sống tình thương nầy tạo ra năng lực lớn lao cho một đời sống hài hòa, sáng tạo và đầy niềm vui.