Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁP THOẠI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁP THOẠI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2025

Ghê sợ tội lỗi và hổ thiẹn tội lỗi là hai tâm sở thiện lành giúp bạn có khả năng không tạo bất thiện nghiệp qua Thân Khẩu một cách tròn đầy.

Trong kinh điển có cho thí dụ về hai thanh sắt: một thanh sắt dính phân và thanh sắt nóng đỏ. Đối với thanh sắt dính phân bạn không muốn sờ vào vì ghê tởm sự giơ bẩn của phân, giống như do sự ghê tởm bất thiện nghiệp nên bạn giữ giới trong sạch. Đối với thanh sắt nóng đỏ bạn không sờ vào vì sợ bị phỏng, giống như do sự sợ hãi tội lỗi nên bạn không làm điều bất thiện.

Hai tâm sở thiện này gọi là pháp trắng hay còn gọi pháp thanh tịnh. Hai pháp này giúp cho hành động và lời nói trở nên tốt đẹp, trong sạch, dễ mến, giống như mặc đồ màu trắng không sợ bị nóng bằng mặc đồ màu đen. Người có hai tâm hồ thiẹn tội lỗi và gây sợ tội lỗi sẽ không dám làm điều sai trái qua Thân Khẩu nên không bị đau khổ. Do vậy người này luôn an vui.

Không hổ thẹn tội lỗi và không ghê sợ tội lỗi là hai tâm sở bất thiện, là pháp đen, có đặc tính thu hút sức nóng của phiền não, như một vật đen hấp thu nhiệt. Hai tâm sở hổ thẹn Tội Lỗi và gê sợ tội lỗi có khả năng bảo vệ thế giới riêng của cá nhân và cho thế giới xung quanh. Cá nhân bảo vệ chính mình bằng sự giữ gìn Thân Khẩu, làm cho thế giới của riêng mình bình an và còn làm cho thế giới xung quanh cũng được bình an. Nhờ vậy từ cá nhân xã hội đến cả thế giới được bình an hạnh phúc. Do đó hổ thẹn tội lỗi và sợ tội lỗi được xem là hai tâm bảo vệ cho thế giới.

Xem video tại đây.

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2025

Có người hỏi một vị sư:

- Thưa ngài, ngài nghĩ gì về một người đang tức giận?

Nhà sư ôn tồn đáp:

- À, đó là một người hành hạ chính mình vì lỗi lầm của người khác.

Hãy suy ngẫm về điều đó nhé.

Chúc tất cả an vui.

Xem video tại đây

Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2018

BỒ TÁT LÀ AI?
MUỐN THÀNH PHẬT, PHẢI PHÁT NGUYỆN TU HÀNH RA SAO ?
Muốn thành Phật trước hết phải là Bồ Tát, để là Bồ Tát phải có hạnh nguyện trở thành Phật. Đầy đủ 8 yếu tố cực kỳ khó khăn để người đó thành 1 vị Bồ Tát
MỖI VỊ BỒ TÁT (SAU NÀY TRỞ THÀNH PHẬT) ĐỀU CÓ LỊCH SỬ GHI LẠI NƠI SINH, DÒNG DÕI, XUẤT GIA TẠI ĐÂU, THÀNH ĐẠO SAU BAO LÂU…VV. Ngày nay có rất nhiều Bồ Tát do người đời sau dựng nên đề thờ cúng van xin nhưng không có lịch sử và giáo lý truyền dạy. Chỉ có duy nhất giáo lý của Phật hiện tiền: Đức Thích Ca Mâu Ni là pháp tối thượng, đem đến chân lý và giải thoát rốt ráo mà thôi. Mọi người hãy cẩn thận để hiểu cho đúng điều gì ích lợi cho mình mà gắng công tìm hiểu, thực hành theo.
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
Có 8 yếu tố để trở thành Bồ Tát: Trong đó có điều rất khó khăn đó là phải gặp được 1 vị Phật còn sống và phát nguyện trước mặt vị Phật hiện tiền này. Vị ấy phải có sự mong muốn mãnh liệt đến độ sẵn sàng đi bộ từ đầu thế giới này đến đầu thế giới kia trên than đỏ để đạt chí nguyện. Quyết tâm dâng hiến mạnh mẽ, kể cả tính mạng mình để đạt quả vị Phật và có tiềm năng trở thành A la Hán giải thoát hoàn toàn.
Khi nào được Đức Phật hiện tiền tiên đoán (hay thọ ký) trở thành một vị Phật trong tương lai thì vị đó mới chính thức trở thành 1 vị Bồ Tát.
Sau đó vị Bồ Tát phải kiện toàn 10 ba la mật để trở thành Phật phải tích lũy nhiều đời, nhiều kiếp, tính theo A tăng kỳ kiếp trái đất và hàng trăm ngàn đại kiếp
Ví dụ về A tăng kỳ kiếp: Phật dạy một tảng đá vuông vức một do tuần (16 cây số ) cứ 100 năm , có một vị Chư Thiên bay xuống lấy tấm lụa quét qua một lượt . Bao giờ tảng đá mòn bằng mặt đất , được gọi là một A TĂNG KỲ .
Đại kiếp trái đất gồm 4 giai đọan Thành- Trụ -Hoại- Không của Trái đất
Nguồn: http://www.budsas.org/…/u-chanh-giac-tong/chanh-giac-03.htm…
và: http://www.thuviennguyenthuy.com/hieu-biet-tron-ven/
xxxxxxxxxxxxxxxxxxx
ẢNH: Xa xưa, Tiền Thân Đức Phật Thích Ca, Lấy Thân Trải Đường Cúng Dường Đức Phật Dipankara (Nhiên Đăng)Prabhapàla và được Phật Nhiên Đăng thọ ký: "Ông hoàng kia là một vị Phật tương lai. Bốn a tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp sau này ông ta sẽ thành Phật tên Cồ-đàm". Ðó là lời của Phật Nhiên Ðăng thọ ký cho ông hoàng Sumedha, sau này trở thành vị Thầy của chúng ta: Phật tổ Thích Ca.

Thứ Hai, 16 tháng 7, 2018

Chúng ta có quyền sử dụng thân tâm này, quan hệ này, tài sản này, thời gian này, địa điểm này...vv nhưng không có quyền sở hữu (kiểm soát, khống chế, quyết định tất cả), bởi vì trên hết, tất cả mọi thứ, mọi người, mọi loài đều phải tuân theo quy luật Vô thường sinh diệt và 1 luật nữa không phải dễ thấy, là luật của Nghiệp: Luật nhân quả nghiêm minh!
Vì không có quyền sở hữu nhưng lại khao khát điều khiển, chi phối, nên chúng ta khổ
Học cách sử dụng Quyền Sử Dụng đi thôi, đó chính là sử dụng cho đúng, cho hợp chân lý.
Sử dụng cho điều thiện
Sử dụng để cảm nhận và học hỏi
Sử dụng để biết, không dính mắc và để học buông.

Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2018

Trả lời cho những vấn đề nhức nhối:
CÁI CHẾT THỰC SỰ LÀ THẾ NÀO?
LÀM SAO ĐỂ THOÁT KHỎI CÁI CHẾT
VẬY CON NGƯỜI LÀ CÁI GÌ?
BẢN NGÃ- CÁI TÔI
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
1. TÁI SINH
- Theo đạo Phật, không có đời sống vĩnh viễn trên thiên đàng hay địa ngục. Dù ở cõi chư thiên hạnh phúc thì hết phước cũng lại sinh tử luân hổi. Sinh rồi tử, tử rồi sinh, tái sinh tùy thuộc vào Nghiệp. Đây là Quy luật tự nhiên không do thượng đế hay Đức Phật tạo nên.
- Tái sinh là sự tiếp diễn của đời sống khi kiếp sống hiện tại chấm dứt. Ðời sống không phải chấm dứt hoàn toàn lúc chết mà tiếp diễn tái sinh vào kiếp tiếp sau
- Luồng nghiệp và lòng tham ái khát khao là động lực làm cho đời sống trôi chảy như vậy
- Sự sinh hiện tại do nghiệp tham ái quá khứ đưa đến. Sự bám víu vào đời sống hiện tại sẽ trổ quả là sự tái sinh vị lai. Chính vô minh và tham ái đẩy chúng ta chết là tái sinh ngay.
- Có thể nói chúng ta sống và chết từng khoảnh khắc. Sự sinh và diệt trong đời sống luôn tiếp nối nhau như các ngọn sóng tiếp nối nhau trên đại dương. Đây là tiến trình liên tục, không có một khoảng cách nào ở giữa.
-Trong tiến trình sinh tử không có linh hồn thường còn, bất biến chuyển sinh từ kiếp nầy đến kiếp khác. Đó chỉ là sự làm việc cúa luồng tâm
LUỒNG TÂM
Tâm không phải là một cục hay một khối cứng ngắc, mà là một luồng tư tưởng hay một chuỗi dài những chập tư tưởng sinh diệt. "Trong tiến trình luôn luôn biến đổi của đời sống, mỗi chập tư tưởng khi diệt, chuyển tất cả năng lực và những cảm giác thâu nhận cho chập tư tưởng kế tiếp. Mỗi chập tư tưởng mới gồm những tiềm năng do chập tư tưởng trước trao lại ". Một chập tư tưởng sau không hoàn toàn khác chập trước mà cũng không tuyệt đối là giống. Cũng vậy một chúng sinh kiếp này khi chết chuyển tất cả nghiệp lực sang một chúng sinh kiếp tới. Hai chúng sinh này không hẳn là một mà cũng không phải là khác, bởi vì cùng nằm trong một luồng nghiệp, và một luồng tâm.
Tâm là nguồn lực linh động trôi chảy liên tục, chứa đựng tất cả kinh nghiệm ghi nhận trong hiện tại và vô lượng kiếp quá khứ. Khi Ðức Phật đề cập đến chúng sinh hay một cá nhân, là tổng hợp Thân và Tâm, là sự thay đổi liên tục của các động năng, điều nầy rất phù hợp với khoa học ở thế kỷ 20.
CÁI CHẾT THỰC SỰ LÀ THẾ NÀO?
Cái chết chẳng phải là sự tiêu diệt hoàn toàn của một chúng sanh, bởi mặc dầu chập sống cuối cùng đã chấm dứt, nhưng năng lực thúc đẩy chập sống ấy vẫn còn nguyên vẹn. Tâm thức hiện tại khuất đi, để nhường chỗ cho tâm thức mới sanh lên trong một đời sống khác. Sự tái sanh xuất hiện tức khắc, bất kể chỗ nào, như một làn sóng điện được phát ra trong không gian, tức khắc được thâu vào một máy vô tuyến điện.
"Người vừa mới chết và người vừa mới tái sanh không phải cùng một người và cũng không phải hai người khác nhau. Có sự tái sanh nhưng không có "người" tái sanh. Ðây là tánh không trong tái sanh
Phật Giáo nguyên thủy không công nhận rằng tâm thức của người quá vãng phải tạm trú một nơi nào, để chờ lựa chỗ đi luân hồi, lập trường tạm trú 7 ngày, hoặc 49 ngày là trái hẳn với giáo lý của Ðức Phật
Ví dụ như một người sắp chết
- Trong tâm người hấp hối này đã hiện ra một nghiệp tướng (Kamma nimitta) hoặc một biểu tượng thọ mạng (Gati nimitta). Những hiện tượng nghiệp này phát sanh do hành động tốt xấu trong lúc sanh tiền, hoặc tức khắc trước giờ cuối cùng.
- Nghiệp tướng (Kamma nimitta) là những biểu tượng xuất hiện trong tâm thức của người hấp hối vì họ ấn tượng mạnh nhất: ví như thấy một con dao và những thú chết trong trường hợp anh đồ tể; hoặc là thấy bịnh nhân, nếu là một vị y sĩ dễ thương; hoặc là thấy vật sùng bái, nếu là một người mộ đạo,...
- Biểu tượng thọ mạng (gati nimitta) có nghiã là một dấu hiệu của cảnh giới sắp tái sanh vào. Những cảnh tượng hạnh phúc hay khổ não thường hay biểu hiện trên sắc diện của người hấp hối. Khi triệu chứng của kiếp vị lai phát sanh, nếu thấy xấu có thể sửa chữa kịp thời, bằng ảnh hưởng cảm hóa tư tưởng của người sắp chết. Dấu hiệu báo trước những điều sẽ đến cho thọ mạng thường là lửa, rừng núi, vú mẹ, thiên cung, v.v...
"Người vừa mới chết và người vừa mới tái sanh không phải cùng một người và cũng không phải hai người khác nhau. Có sự tái sanh nhưng không có "người" tái sanh. Ðây là tánh không trong tái sanh
Hỏi: Kiếp sau tôi là người khác và không nhớ về những hành động xấu, tốt cúa mình ở kiếp này, thì sao lại phải chịu kết quả của những hành động ở kiếp này:
Đáp: Nếu người kia trong lúc đang ngủ mà đứng dậy đi trên lan can và té xuống đường rồi gãy tay hay gãy chân. Khi nằm trên giường bệnh, ông không còn nhớ gì đến sự đi trên lan can, vừa đi vừa ngủ, nhưng dĩ nhiên, ông phải nhận và biết hậu quả của việc làm ấy.
Với cái chết cũng vậy, khi tái sinh thành 1 người khác, tuy hình thể bề ngoài có biến đổi, nhưng luồng tâm trôi chảy liên tục (citta santati), không bị cái chết làm gián đoạn, vẫn tiếp tục diễn tiến, và mang theo tất cả cảm giác do ngũ quan đã thâu nhận.
Sự quên mất dĩ vãng của mình không gây trở ngại nào cho sự vận hành của định luật Nghiệp Báo. Chính nhờ sự hiểu biết lý nhân quả, đã gieo nhân thì phải gặt quả, lúc nào cũng trong vòng luân hồi, mà người Phật tử cố gắng tu dưỡng tâm tánh mình.
LÀM SAO ĐỂ THOÁT KHỎI CÁI CHẾT
Có thể khắc phục cái chết không? Câu trả lời là - Có thể!
Sở dĩ có chết là bởi vì có sanh. Tình trạng lặp đi lặp lại nầy được gọi là vòng luân hồi sansàra. Nếu vòng quanh những kiếp sinh tồn nầy ngưng lại, chấm dứt, nó chỉ có thể bị cắt đứt ở giai đoạn Vô Minh (Không hiểu biết) và ái Dục (Tham ái) -- Ðó là hai cội rễ của vòng luân hồi mà ta phải tận diệt. Như vậy, nếu tận diệt ái Dục và Vô Minh ắt ta chế ngự "sanh", chinh phục "tử", và vượt ra khỏi vòng luân hồi, thành tựu Niết Bàn.
Cho đến khi, và ngoại trừ khi thành tựu giải thoát ra khỏi thế gian những sự vật được cấu tạo, ta còn phải đối diện với cái chết, trở đi trở lại. Và trên phương diện nầy cũng vậy, vai trò của sự chết rất là rõ ràng. Nếu ai cảm thấy rằng chết là điều không thể chịu đựng, hãy cố gắng chuyên cần khắc phục vòng quay sanh và tử.
VẬY CON NGƯỜI LÀ CÁI GÌ?
Phật giáo cho rằng con người được cấu tạo do hai thanh phần: tinh thần và vật chất (Nàma và Rùpa). Hai thành phần này ở trong trạng luôn thay đổi không ngừng nghỉ:
* Thành phần vật chất (Sắc - Rùpa) bị chi phối bởi 4 yếu tố:
1) Nghiệp (Kamma): kết quả của những hành động trong quá khứ;
2) Tâm (Citta):những thánh phần tinh thần;
3) Nhiệt năng (Utu): yếu tố nhiệt lượng;
4) Chất dinh dưỡng (Ahara): yếu tố dinh dưỡng của thức ăn.
* Thành phần tinh thần (Danh - Nàma) là phần quan trọng nhất của bộ máy con người, gồm có:
1) Thọ hay cảm giác (vedanà);
2) Tưởng hay tri giác (sannà);
3) Hành (Sankhàrà) những sinh hoạt tâm có tác ý;
4) Thức (vinnàna). Nhận thức đối tượng
Bốn loại hiện tượng tinh thần ấy, phối hợp với hiện tượng vật chất ở trên, tạo ra năm uẩn (ngũ uẩn)>>>Con người chính là vật cấu hợp phức tạp ấy.
BẢN NGÃ- CÁI TÔI
"Cái mà chúng ta gọi là 'Bản Ngã', giống như một vật sáng hình thành bởi nhiều đốm sáng liên tục tiếp nối một cách thật nhanh, đến nỗi mắt con người không có khả năng phân biệt thành từng đốm riêng biệt". Cũng như thế ấy, không có một linh hồn trường cữu nằm bên trong sự vật qui ước được gọi là "CÁI TÔI", mà thực tế chỉ là sự kết hợp của Ngủ Uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Chúng ta không thể nói mùi hương của một cái hoa nằm trong cánh hoa, hoặc trong nhụy hoa, hay trong màu hoa, nó nằm trong toàn thể cái hoa. Tương tự như thế, một cá thể được qui định bởi sự phối hợp của năm thành phần nói trên.
Chính cái giáo lý Vô Ngã, Vô Linh Hồn (Anattà) là đặc thù chính yếu của Phật Giáo.

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2018


Người ta thấy chúng tôi tu hành, họ hay hỏi tu là gì? để được gì hay tu để thành ai?
Tu để được cái gì thì vẫn còn ham muốn, tâm tham sở hữu cho mình, ☺Tu chính để không còn ham muốn nữa.
☺Tu hành để không còn ý muốn trở thành ai cả!
Tu hành không để gặp Phật mà là để gặp chính mình, gặp chính mình trong mọi ng và gặp mọi ng trong chính mình
➡ Tu mới đầu là hành động, suy nghĩ, nói năng thiện, sau đó là hành động, suy nghĩ, nói năng hợp với Sự Thật tuyệt đối (chân lý cuộc sống luôn luôn thay đổi không ngừng, không thể điều khiển và luôn hướng đến sự trống rỗng không thật)
➡ Tu hành cũng không ở chùa, không ở chợ, cũng chẳng phải ở nhà, tu hành tại thân tâm này, mà 2 thứ đó ở đâu chẳng có, chỉ là ta không thấy mà thôi
➡ Mới đầu tu là sửa những hành động, lời nói từ bất thiện thành thiện
Tiếp theo thì tu chỉ là Biết, khi tâm có tham, sân, si hay từ bi, hỷ, xả cũng chỉ Biết mà thôi. Nếu còn muốn sửa thì sẽ tăng thêm cái bản Ngã tự cao tự đại của mình mà thôi
Để tham khảo, mời quý vị đọc lời Phật Thích Ca thuyết giảng, trong kinh Trung bộ và Trường bộ do hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.:
hhttp://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong22.htm
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung38.htm

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2018

Cuộc sống của một sư chú ở Thái Lan thật không công bằng chút nào. Các thầy thì được ăn thức ăn ngon nhất, ngồi trên những chiếc bồ đoàn mềm mại và chẳng bao giờ phải đẩy xe cút kít. Trong khi đó thì bữa ăn duy nhất trong ngày của tôi thì quá dở; tôi lại phải ngồi làm lễ suốt mấy tiếng đồng hồ dài đăng đẳng trên nền xi măng cứng (mà lại gồ ghề nữa chứ, vì dân làng này tự đóng góp xây chùa); và đôi khi tôi phải chấp tác rất là vất vả. Tôi thật là khổ, còn các thầy thì thật là sướng.

Suốt ngày tôi cứ mãi âm thầm ca thán. Các thầy có lẽ đã ngộ đạo rồi cho nên dọn cho họ thức ăn ngon thật là uổng phí, tôi mới là người cần ăn ngon chứ. Các thầy thì ngồi xếp bằng trên nền nhà cứng nhiều năm đã quen rồi, thế thì tôi mới là người cần một cái gối ngồi to và mềm mới đúng. Đó là không kể các thầy đều béo cả nhờ ăn ngon cho nên đã có một “tấm đệm tự nhiên” dưới mông rồi. Các thầy lớn cứ sai các sư chú làm việc này làm việc kia mà chẳng bao giờ chịu lao động cả, vậy thì làm sao họ biết việc đẩy xe cút kít là nóng nảy, nặng nề như thế nào? Công việc là do các thầy ấy nghĩ ra vậy thì họ phải làm đi chứ! Tôi sao mà khổ, còn các thầy sao mà sướng quá.

Đến khi tôi trở thành một thầy lớn, tôi được ăn thức ăn ngon, ngồi trên một chiếc bồ đoàn êm ái và ít làm công việc chân tay. Tuy nhiên tôi vẫn thấy mình ganh tỵ với các sư chú. Họ không phải đi giảng pháp, không phải ngồi suốt ngày để nghe các đạo hữu than thở chuyện riêng tư và không phải lo lắng gì về công việc điều hành. Họ chẳng gánh vác trách nhiệm gì và có nhiều thì giờ để làm việc riêng. Tôi nghe trong lòng tiếng tôi than vãn, “Các sư chú mới sướng làm sao, còn mình thật là khổ!”.

Một thời gian sau tôi mới nhận thức được những gì đang xảy ra. Các sư chú có “nỗi khổ của sư chú”, các thầy lớn có “nỗi khổ của các thầy”. Khi trở thành thầy lớn, tôi chỉ đổi từ nỗi khổ này để mang nỗi khổ khác mà thôi. Tương tự như thế, những người còn độc thân ganh tỵ với người đã lập gia đình, và người có gia đình thì ganh tỵ với người độc thân. Có lẽ chúng ta cũng nên hiểu rằng khi lập gia đình chúng ta chỉ đổi “nỗi khổ của người độc thân” để mang lấy “nỗi khổ của người có gia đình” mà thôi. Rồi khi ly dị chúng ta lại đổi “nỗi khổ của người có gia đình” để lấy “nỗi khổ của người độc thân”. Mình sao mà khổ, còn thiên hạ sao mà sướng thế.

Khi chúng ta nghèo, chúng ta ganh tỵ người giàu. Tuy nhiên, nhiều người giàu thì lại ganh tỵ tình bạn chân thành và sự thảnh thơi ít trách nhiệm của những người nghèo. Trở thành giàu có cũng chỉ là đổi “nỗi khổ của người nghèo” để mang lấy “nổi khổ của người giàu” mà thôi. Về hưu và giảm thu nhập cũng là đổi “nỗi khổ của người giàu” để lấy “nỗi khổ của người nghèo”. Và mọi chuyện nó là như thế. Thật khổ cho mình còn thiên hạ thật là sướng.

Cứ nghĩ rằng mình sẽ được sung sướng khi trở thành một cái gì đó cuối cùng chỉ là ảo tưởng. Trở thành cái gì đó, chẳng qua là đem đổi nỗi khổ này để lấy nỗi khổ khác thôi. Thế thì khi các bạn bằng lòng với chính mình, với địa vị của sư chú hay thầy lớn, là người độc thân hay có gia đình, giàu hay nghèo, thì các bạn sẽ không còn thấy khổ.

Lúc này mới thấy mình thật là sướng, còn thiên hạ sao mà khổ thế!

Trần Bảo Ngọc trích dịch từ cuốn Who Ordered This Truck of Dung? của Thiền sư Ajahn Brahm.

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2018

XXXX Uống rượu say, rồi bị tai nạn vào bệnh viện>>cảm ơn Bác sỹ đã cứu mạng
Mà quên mất trước khi uống rượu, Đức Phật đã dạy tránh xa sự uống rượu mà không nghe
XXXX Đánh bạc đến bán cả cửa nhà, được người thân giúp >> cảm ơn họ.
Mà quên mất Đức Phật dạy tránh xa sử dụng chất kích thích…cũng đâu có nghe
Vô số những vấn đề như thế chúng ta cảm ơn người cứu mình khi đã là Quả xấu. Nhưng quên mất việc theo nghe lời dạy của người giúp ta tránh được ngay từ Nhân xấu.
Sự cứu khổ của Đức Phật chính là như thế, cứu bằng những lời chỉ dạy, vì muốn tránh khổ cho chúng sanh, nên Phật răn dạy đừng làm những điều xấu ấy, để không gieo Nhân xấu, thì ắt không phải gặt Quả xấu, nhưng chúng ta không nghe thì khổ đến lại trách sao Phật không cứu.

Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2018

xxx CÓ THỜ ở đây không phải là lập bàn thờ hay đắp mộ đúng hướng, to đẹp mà lễ lạy, thắp hương, đốt vàng mã, van xin … việc lập bàn thờ mang ý nghĩa tưởng nhớ, tri ân, nhưng quan trọng hơn thì
- Thờ Cha Mẹ và các bậc tổ tiên,bậc thầy: cung kính, phục vụ, phụng dưỡng, làm vừa ý…Xem lời Phật dạy về điều này tại đây
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong31.htm
- Thờ Phật: NOI GƯƠNG, TRI ÂN. Phật Thích Ca Mâu Ni- vị Phật có thật mà cả đời nêu gương sống thiện lành, trí tuệ và chỉ dẫn cho mọi người thì chúng ta nên lập bàn thờ để nhớ nghĩ đến Ân đức Ngài, để Noi gương, Tri ân Ngài và phải sống theo những lời dạy, gương lành Từ bi, Trí tuệ của Ngài mới thực là Thờ Phật
xxx CÓ THIÊNG!
Khi quý vị thực hành theo những gì Đức Phật chỉ dạy nghĩa là Thờ ngài đúng cách, chúng ta sẽ có cuộc sống an lạc, bình tĩnh, hòa thuận, sức khỏe…vậy không phải thiêng là gì?
Chúng ta hay nghĩ cái thiêng ở đây là Đức Phật cho ta tiền bạc, chức tước, nhưng người nghèo hay giàu vẫn khổ, người chức tước quyền quý hay bần hàn cũng vẫn bất an, hạnh phúc không tỷ lệ với tiền bạc chức tước. Tu tập theo Đạo Phật đạt những sự “Thiêng”cao hơn thế nhiều. Hãy cố gắng hướng đến thứ hạnh phúc cao thượng hơn từ việc cúng dường, giữ đạo đức và trau dồi hiểu biết đúng chân lý cuộc sống. Nếu chỉ lập bàn thờ rồi van vái cầu xin, thuê người cúng tế thì chỉ thêm tốn kém, mất thời gian và thêm sợ hãi.
xxx CÓ KIÊNG
Kiêng đây không phải kiêng quét nhà ngày Tết, kiêng không xuất hành ngày mùng 5, hay kiêng tuổi X xông đất đầu năm…vv.
Phải Kiêng, Rất nên kiêng, nhưng là kiêng sát sinh, kiêng trộm cắp, kiêng tà dâm, kiêng nói dối và kiêng sử dụng chất kích thích.
Vậy kiêng vậy có Lành không?
xxx Chắc chắn CÓ LÀNH!
Kiêng sát sinh thì có sự từ bi, ít sân hận, ít sợ hãi.
Kiêng Trộm cắp thì bớt tham lam, sự nghiệp ổn định không bị đổ bể.
Kiêng Tà dâm thì gia đình hòa thuận, không có kẻ thù, không bị ghét bỏ
Kiêng nói dối thì được tin tưởng, tâm không bất an sợ hãi
Kiêng dùng chất kích thích thì tâm lý ổn định, dễ bình tĩnh, chăm chỉ cố gắng…vv
Kiêng là vậy>>> và sẽ được rất nhiều điều Lành cho mình, gia đình và xã hội. Có những tính cách thiện lành như vậy thì danh vọng, tài lộc cũng sẽ tới, và tới một cách bền vững.
VẬY QUÝ VỊ THẤY KHÔNG? CÓ THỜ ĐÚNG MỚI CÓ THIÊNG, MÀ CÓ KIÊNG ĐÚNG MỚI CÓ LÀNH!

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2018

Trong Phật giáo Nguyên Thủy, CỨU ĐỘ NGHĨA LÀ GIÚP CHÚNG SINH TỰ CỨU.
................................
Nếu Đức Phật có thể cứu độ tất cả chúng sinh, hay vị Bồ Tát nào đó có thể xuống hỏa ngục cứu độ hết chúng sinh thì đâu cần nhiều Phật, nhiều Bồ Tát như hiện nay ở nhiều chùa đang thờ cúng, chỉ cần 1 vị đã đủ rồi.
Ngày nay chúng ta biết đến giáo lý của Phật Thích Ca, nhưng chúng ta cũng không được Ngài " cứu vớt" nên mới đang ở đây, vẫn chưa giải thoát, chết vẫn luân hồi. Như vậy chính Đức Phật cũng không thể cứu độ chúng sinh bằng cách đưa tay vớt lên. Trong Phật giáo, CỨU ĐỘ NGHĨA LÀ GIÚP CHÚNG SINH TỰ CỨU.
Dù cho nhiều vị Phật đã ra đời rồi nhập Niết Bàn, nhưng luôn luôn lúc nào cũng sẽ có những chúng sinh chưa được Phật cứu nên sẽ còn những vị Phật khác xuất hiện trên thế gian này. Có hạnh nguyện cứu độ tất cả chúng sinh là tốt nhưng thực tế không thực hiện được.
Quá khứ đã có nhiều vị Phật, tương lai cũng vậy, có nhiều Phật và nhiều chúng sinh được cứu nhưng không phải là tất cả. Nếu chỉ khi nào tất cả chúng sinh được cứu độ các vị mới nhập Niết Bàn thì chẳng bao giờ các vị nhập được Niết Bàn cả. Và chúng ta cũng không thể có tâm lý sớm muộn mình cũng được cứu vì đã có các vị phát nguyện cứu mình, chỉ cần xếp hàng chờ đến lượt thôi.

Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018

- Không giết hay xúi người khác giết gà, lợn và các loại chúng sinh khác
- Không cúng và sử dụng các loại rượu bia, chất say
- Không đốt vàng mã
- Bàn thờ để tại nơi trang nghiêm, thanh tịnh, cao ráo
Tất cả những lời khuyên như: Cúng 12 loại kê trong năm gà, đồ lễ phải là số lẻ (3,5.7…vv) đều không có ích lợi cho việc trong sạch Thân, Khẩu, Ý, cho nên không quan trọng, không có trong Đạo Phật.

Đạo Phật thuận theo Nhân Quả (làm thiện hưởng phước) nên muốn có phước phải làm những việc THIỆN thì sẽ có phước.
Với bài khấn dưới đây và thực hành theo bài khấn là chúng ta phát triển thiện tâm như Khiêm tốn, Hổ thẹn tội lỗi, Ghê sợ tội lỗi, Từ bi, Chính tín và thực hiện việc không sát hại chúng sinh, không say sưa, không trộm cắp, không tà dâm và không nói dối. Có thế ấy phước sẽ tự nhiên phát sinh.
In và đọc bài khấn ở link dưới vào dịp Tết và quan trọng nhất đó là LÀM THEO LỜI MÌNH KHẤN, còn chỉ khấn ở miệng thôi sẽ không có giá trị
- Kệ quy y Tam Bảo
- Kệ sám hối
- Thọ Tam quy, Ngũ Giới
- Rải tâm từ đến tất cả chúng sinh
- Kệ An Lành
- Hồi hướng Phước
http://www.thiengiuadoithuong.org/2017/01/bai-khan-cau-giao-thua-va-nam-moi.html
CHÚC QUÝ VỊ CÓ THẬT NHIỀU CƠ HỘI LÀM ĐƯỢC VIỆC THIỆN, THÌ TỰ NHIÊN NĂM MỚI AN VUI, HOAN HỶ...
- Sư Cô Hương Thiền -

Thứ Tư, 24 tháng 1, 2018

Đầu năm, "xem bói" giúp mọi người!
NGÀY LÀNH, THÁNG TỐT TRONG NĂM?
NGƯỜI TUỔI NÀO NĂM NAY MUỐN GÌ ĐƯỢC NẤY?
**************
Khi nghiệp thân khẩu ý
Chân chánh và thanh tịnh
Chính là ngày cát tường
Là giờ phút hanh thông
Là thời khắc hưng vượng
Như vậy, bất cứ khoảnh khắc nào, ngày giờ nào, thời gian nào chúng ta hành động (Thân), nói năng( Khẩu) và suy nghĩ (Ý) đúng đắn và thiện lành thì ngay khi đó ta tích lũy Phước (Phúc), theo Đạo Phật đó là giờ phút tốt đẹp bởi Quả của Thân, Khẩu, Ý thiện lành, trí tuệ chắc chắn là sự hanh thông, hưng vượng. Đạo Phật không chủ trương xem bói, xem ngày giờ tốt xấu như nhiều người lầm tưởng. Trí tuệ Đạo Phật vượt lên trên và bao trùm, minh triết hơn thế rất nhiều.
…….
Ai nói làm suy nghĩ
Sáng suốt và thuần thiện
Thì bổn nguyện viên thành
Ðược vô lượng an lạc
Lại một lần nữa Đức Phật Thích Ca khẳng định người muốn được thành tựu như ý nguyện thì nói, làm, suy nghĩ phải đầy đủ cả 2 yếu tố: Sáng suốt (Trí tuệ) và Thuần thiện (Lương thiện) Việc thành tựu điều ước nguyện không phụ thuộc giờ sinh tháng đẻ, hay ngày giờ và tuổi nào xông đất nhà gia chủ năm nay…vv

Để hiểu thế nào là thiện và trí: Đọc tại đây nhé mọi người, rất sâu sắc, không chỉ là: Tôi không hại ai, không ăn trộm của ai đã là thiện rồi đâu ạ, đúng nhưng chưa đủ đâu!

Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2017

ĐỂ CẦU PHÚC CẦU LỘC. Nếu Cầu mà được thì chúng tôi, những người tu chắc chắn không già, bệnh, chết…
*********
- Bước Chân Vào Cổng Chùa, người Phật tử đã có tâm cúng kính những bậc Cao thượng, lạy Phật hạ mình có tâm khiêm tốn, dọn dẹp, lau chùi do có tâm phục vụ, dâng cúng vật dụng, y áo, thuốc men có tâm cúng dường bỏ Tham. Các thiện tâm được phát triển ngay từ đây
- Khi Hành Lễ, người Phật tử Phật giáo nguyên thủy thường xuyên QUY Y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), quy y là noi gương, là học hỏi theo gương các bậc thiện trí cao thượng, nhằm phát triển tính thiện, trí tuệ ngay trong bản thân mình, không phải để cầu xin cứu độ từ 1 vị Phật, vị Thần nào.
- NGUYỆN GIỮ 5 ĐIỀU ĐẠO ĐỨC (ngũ giới), tự mình sẽ cố ý tránh xa việc sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, dùng chất kích thích để đem lại an toàn cho mình và mọi người xung quanh.

-TỤNG KINH: Với lời chỉ dạy rõ ràng để nhớ, suy xét và thực hành theo. Kinh dạy sự yêu thương, chia sẻ, nhường nhịn, dạy những chân lý cuộc đời cần thẩm định, dạy sự thay đổi chính mình để đời này đẹp hơn, dạy sự buông bỏ những dính mắc, phiền lụy, dạy sự an vui trong hiện tại bằng lòng biết đủ...vv

- TU TẬP THIỀN:
Các Thời Tu Tập như niệm Phật, ngồi thiền Định, thiền hành là để lắng tâm, để cột cái tâm “con khỉ” của mình vào hiện tại, không bất an, sợ hãi hay nghĩ về quá khứ, tương lai. Dần dần người hành thiền với tâm an ổn sẽ bước vào quá trình thanh tịnh tâm bằng cách tự mình quán chiếu với trí tuệ. Người thực hành thiền Tuệ sẽ tự mình chuyển hóa nội tâm hướng đến cuộc sống an lạc và hài hòa; nhờ vậy họ sẽ góp phần xây dựng đời sống xã hội trở nên lành mạnh, an bình và thịnh vượng hơn.
- NGHE GIẢNG PHÁP: Bên cạnh đó không thể thiếu các thời nghe giảng Phật Pháp để biết, để hiểu, và để được định hướng cuộc sống giữa biển đời đang quá nhiều hỗn loạn như hiện nay.

- HỒI HƯỚNG CHIA PHƯỚC: Đây là hành động xuất phát từ việc hiểu biết Nhân- Quả, có lòng tin rằng mình đã làm những điều thiện như trên sẽ phát sinh Quả thiện (Phước), ta chia phước đó tới tất cả, đây không phải như miếng bánh chia nhỏ nhiều phần mà khi tâm hoan hỷ báo truyền việc thiện đã được làm sẽ kích thích thiện tâm ngủ ngầm của người xung quanh để họ biết hoan hỷ với việc thiện mình làm, khi việc thiện mình làm được mình và người khác hoan hỷ thì điều thiện đó sẽ có năng lực lan tỏa, truyền xa rộng.

VẬY ĐÓ!>>>> Đi chùa không để cầu xin, không để an ổn nhất thời hay theo xu hướng đám đông
Đi chùa trước hết để tích Phước do làm thiện, để học cách tạo phước khi về nhà, ra xã hội.
Tiếp đó đến chùa học cách xả ly, để làm phước mà không tham vào Phước đó. Khi biết tu tập rồi, trí tuệ sẽ có mặt dần dần đẩy lùi Tham, Sân, Si, Ngã Mạn, Hoài nghi, Đố kỵ…vv Đó chính là giá trị của việc Đi Chùa
- Sư cô Hương Thiền -

Thứ Hai, 25 tháng 12, 2017

Nhiều người Việt Nam mình biết đến danh vị Tam Tạng thường qua phim Tôn Ngộ Không đi thỉnh kinh cùng sư phụ, Tam tạng như một nhân vật hư cấu chỉ có trong tiểu thuyết và cách sống từ bi nhưng ngây ngô này của nhân vật làm chúng ta hiểu nhầm rất nhiều về danh vị này, cũng như vô số những hiểu lầm khác mà người Việt hiểu sai về Đạo Phật
TAM TẠNG chính là danh vị trao tặng cho một số lượng rất hiếm những vị sư chuyên sâu về pháp học (lý thuyết Phật Pháp) ở đất nước Myanmar thông qua các kỳ thi dài và khó nhất thế giới (kéo dài khoảng 5 năm).
Các vị thi phải thể hiện khả năng ghi nhớ và phải tụng đọc Tam tạng Kinh điển bằng tiếng Pali (dày đến 8026 trang giấy, hơn 2.400.000 từ bằng tiếng Pali) và phải viết chính xác hơn 200 quyển kinh sách bằng tiếng Pali.
Tam tạng kinh điển bằng tiếng Pali bao gồm tạng Kinh, Tạng Luật và tạng Vi Diệu Pháp.
Theo thống kê, từ năm 1949 đến 2004, trong vòng 56 năm, có hơn 10.000 Tăng sĩ tham dự kỳ thi Tam tạng Pháp sư, nhưng trong số đó chỉ có 11 vị vượt qua được cả kỳ thi đọc tụng và thi viết một cách rành mạch mà thôi. Từ 2004 đến nay chúng ta có thêm 2 vị Tam Tạng nữa

Thứ Sáu, 22 tháng 12, 2017

Đừng nghĩ rằng "Cái đó là Của Ta"
Hãy tập cách nghĩ rằng "Cái đó Đến Với Ta"
Khi đủ các điều kiện, nó phát sinh cho ta sử dụng, thế rồi khi các điều kiện tan biến, chúng sẽ ra đi...
>>> Biết như vậy, ta cẩn thận khi đón nhận mọi thứ, vì biết rằng sẽ có cái hiểu sai phát sinh, nhận vơ rằng nó là Của Mình.
>>> Biết như vậy, ta cẩn thận quan sát mình khi sử dụng mọi thứ, đừng để những cảm giác thích thú/ khó chịu do chúng đem lại thấm đẫm trong tâm, tràn ngập tâm, làm ta mất đi hoàn toàn sự trong sạch và ổn định của tâm.
>>> Biết như vậy, ta quán tưởng luôn luôn những điều ta yêu thích: Tuổi trẻ, Sức khỏe, Người thân... rồi sẽ ra đi theo Nghiệp.
- Sư cô Hương Thiền-

Thứ Tư, 27 tháng 9, 2017



-       Nghiệp Kamma là hành động có chủ ý, chủ định làm  mới tạo ra nghiệp
- Có nghiệp trên thân, trên lời nói và trên ý.
- Có nghiệp thiện, bất thiện và duy tác (Của Phật và các bậc A la hán, vì các ngài không còn vô minh và tham ái là các Nhân tạo nghiệp)
- Nghiệp là quy luật tự nhiên, không phải do Đức Phật hay thượng đế nào chế tạo ra.
“Thiện nghiệp cho quả tốt, quả an lạc, Ác nghiệp cho quả xấu, quả khổ đau”.
-Nếu thiện nghiệp có cơ hội cho quả, thì người ấy là người thừa hưởng quả tốt, quả an lạc của thiện nghiệp ấy một cách bị động mà không có quyền lựa chọn, chỉ chấp nhận dễ dàng quả tốt, quả an lạc của thiện nghiệp ấy mà thôi.
- Nếu ác nghiệp có cơ hội cho quả thì người ấy cũng là người thừa hưởng quả xấu, quả khổ đau của ác nghiệp ấy một cách bị động mà không có quyền lựa chọn, chỉ chấp nhận quả xấu, quả khổ đau của ác nghiệp ấy mà thôi, không thể tránh khỏi được.
Như vậy, muốn được quả tốt, quả an lạc thì nên biết lựa chọn tạo thiện nghiệp. Và không muốn quả xấu, quả khổ đau, thì không nên lựa chọn tạo ác nghiệp.
Ví dụ về nghiệp và Quả cúa nghiệp:
Hành ác nghiệp sát sinh, hành hạ chúng sinh thì chịu quả chết yểu, và nhiều bệnh hoạn
 Hành ác nghiệp sân hận, quả của ác nghiệp sân hận là người xấu xí
 Hành ác nghiệp hay ganh tỵ, quả của ác nghiệp hay ganh tỵ là người có ít quyền lực,
Hành ác nghiệp không bố thí, quả của ác nghiệp không bố thí là người có ít của cải,
Hành ác nghiệp khó dạy, không biết tôn kính, quả của ác nghiệp khó dạy, không biết tôn kính là người thấp hèn .
 Hành ác nghiệp không học hỏi về ác pháp, thiện pháp từ các bậc thiện trí, quả của ác nghiệp này là trở thành người không có trí tuệ (người ngu dốt).
 Tất cả mọi chúng sinh đều có nghiệp là của riêng họ, họ là người thừa hưởng quả của nghiệp của họ; nghiệp là nhân sinh ra họ, nghiệp là bà con thân quyến của họ; nghiệp là nơi nương nhờ của họ. Ta đã tạo thiện nghiệp nào hoặc ác nghiệp nào, rồi thiện nghiệp ấy hoặc ác nghiệp ấy là của riêng ta, hoàn toàn không phải của người khác, những người khác không liên quan đến nghiệp ấy của ta.
Như vậy, trong đời này, ta còn có nhiều tài sản quý báu như cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái, bà con thân quyến, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, của cải, tài sản, sự nghiệp v.v… tất cả mọi tài sản quý báu ấy không phải của riêng ta. nghiệp của họ là thân quyến theo hộ trì, hỗ trợ suốt cuộc đời của họ, nghiệp của họ là nơi nương nhờ của họ từ kiếp này sang kiếp khác trong vòng tử sinh luân hồi trong 3 giới 4 loài. Cho nên, nếu họ đã tạo thiện nghiệp nào thì họ được thừa hưởng quả an lạc của thiện nghiệp ấy của họ. Và nếu họ đã tạo ác nghiệp nào thì họ phải chịu thừa hưởng quả khổ của ác nghiệp ấy của họ. Ngoài nghiệp chắc chắn là của riêng ta ra, còn lại tất cả tài sản quý báu khác ở trong đời đều là của chung mà mỗi người tạm thời thay phiên nhau làm chủ, song vẫn còn tuỳ thuộc vào năng lực quả của nghiệp của họ.
 Chính nghiệp phân loại chúng sinh thấp hèn hoặc cao quý.
"Chúng sanh lên cao hay xuống thấp là do nơi Nghiệp."
Nghiệp và tái-sanh trả lời cho chúng ta về điều gì?

o Vấn đề sướng khổ mà chính ta phải chịu trách-nhiệm;
o Sự chênh lệch gần như bất công giữa nhân loại;
o Tại sao có những vĩ nhân và thần đồng;
o Sự khác nhau về tánh-tình, xu-hướng của các trẻ trong một gia-đình hoặc giữa trẻ sinh đôi, sinh ba…
o Sự khác nhau về đạo-đức và trí-tuệ giữa cha mẹ và con cái;
o Tật xấu tự nhiên của trẻ thơ, như tham lam, sân hận và ganh ghét;
o Mối thiện cảm hoặc ác cảm của chúng sanh đối với nhau trong khi gặp gỡ lần đầu tiên;
o Ðiều lành và điều dữ đã sẵn có trong mỗi người;
o Sự thay đổi bất ngờ của một người thiện trí thức ra một kẻ tầm thường, hoặc một kẻ sát nhân thành bực thánh-nhân;
o Tại sao có những cái chết bất đắc kỳ tử và sự thay đổi tài sản sự nghiệp một cách bất ngờ;
o Những đặc tính xuất chúng, tinh thần đạo đức trí tuệ viên mãn của các bậc toàn giác như Ðức Phật....
 4 loại nghiệp là thế nào?
1.Cực trọng nghiệp: là nghiệp nặng nhất có quyền ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau trước tiên, không có nghiệp nào có thể ngăn cản được.
Nếu không có cực trọng nghiệp này, thì kế tiếp nghiệp cận tử (āsannakamma) cho quả tái sinh kiếp sau.
Ác nghiệp Cực trọng nghiệp có 2 loại:
a- Ác nghiệp tà kiến cố định
1. Tà kiến này còn gọi là đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi) chết rồi là hết, không có tái sinh kiếp sau trong cõi nào cả.
2. Chấp lầm rằng: “Chúng sinh đang chịu mọi cảnh khổ, hoặc đang hưởng mọi sự an lạc. Đó là điều tự nhiên, không phải do từ nhân nào, duyên nào nghĩa là không do từ ác nghiệp hoặc thiện nghiệp nào cả”.
3. Chấp lầm rằng Làm ác không có tội, làm thiện không có phước.
b- 5 ác nghiệp vô gián
- Ác nghiệp giết cha.
- Ác nghiệp giết mẹ.
- Ác nghiệp giết bậc Thánh Arahán.
- Ác nghiệp làm bầm máu bàn chân của Đức Phật.
 - Ác nghiệp chia rẽ chư Tỳ khưu
Hết kiếp hiện tại này, ác nghiệp này liền sinh quả tái sinh kiếp kế tiếp ngay, không có gián đoạn. Do đó, ác nghiệp này gọi là ác nghiệp vô gián.
2.  Loại nghiệp cận tử là nghiệp phát sinh lúc lâm chung. Nếu không có nghiệp trọng yếu, thì nghiệp cận tử này có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau.
Nếu không có nghiệp trọng yếu và nghiệp cận tử, thì kế tiếp nghiệp thường hành (āciṇṇakamma) cho quả tái sinh kiếp sau.
3. Loại nghiệp thường hành là nghiệp thường được hành hằng ngày đêm đã trở thành thói quen. Nếu không có nghiệp trọng yếu và nghiệp cận tử, thì nghiệp thường hành này có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau.
Nếu không có cả 3 loại nghiệp trên (nghiệp trọng nhẹ, nghiệp cận tử và nghiệp thường hành), thì kế tiếp nghiệp loại thường (kaṭattākamma) cho quả tái sinh kiếp sau.
4.  Loại nghiệp loại thường là nghiệp yếu hơn 3 loại nghiệp trên, nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hoặc nghiệp đã được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau.
Nếu xét về năng lực của nghiệp thì nghiệp cận tử không thể có nhiều năng lực hơn nghiệp thường hành, bởi vì nghiệp cận tử được phát sinh trong khoảng thời gian ngắn ngủi lúc lâm chung, còn nghiệp thường hành đã được tạo và được tích lũy trong khoảng thời gian lâu dài trong kiếp hiện tại. Do đó, nghiệp thường hành có nhiều năng lực hơn nghiệp cận tử.
Những quan niệm về nghiệp và quả của nghiệp
- Một số người có quan niệm rằng:
“Hễ còn nghiệp thì còn có quả của nghiệp, còn phải tái sinh kiếp sau”.
chư bậc Thánh Arahán tuy không tạo thêm nghiệp mới, nhưng tất cả mọi nghiệp cũ vẫn còn, nếu thiện nghiệp nào hoặc ác nghiệp nào có cơ hội cho quả của nó, thì thiện nghiệp ấy hoặc ác nghiệp ấy vẫn chỉ có khả năng cho quả cho đến trước khi tịch diệt Niết Bàn mà thôi. Khi bậc Thánh Arahán tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong tam giới, đồng thời tất cả mọi thiện nghiệp, và mọi ác nghiệp đều trở thành nghiệp vô hiệu quả (ahosi kamma) vĩnh viễn không còn hiệu lực cho quả của nghiệp nữa.
- Một số người có quan niệm rằng:
“Cố gắng làm phước để xóa tội” có nghĩa là cố gắng tạo thiện nghiệp để xóa bỏ ác nghiệp.
Điều ấy cũng không thể được, bởi vì ác nghiệp đã tạo trong thời quá khứ đã qua, còn thiện nghiệp đang tạo trong lúc hiện tại, không thể trở lui lại thời gian quá khứ để xóa bỏ ác nghiệp ấy. Nhưng khi tạo thiện nghiệp trong thời hiện tại, có khả năng làm giảm bớt tiềm năng cho quả của ác nghiệp quá khứ ấy.
Ví dụ: 1 kg muối có vị mặn nhiều, người ta đem 1 kg muối ấy đổ vào trong hồ lớn, rồi đổ nhiều khối nước vào hồ lớn, thì làm cho vị mặn của 1 kg muối ấy bị tan loãng ra, cho nên vị mặn của muối không còn như trước nữa. Cũng như vậy, một người nào trước kia đã tạo ác nghiệp, về sau người ấy cố gắng tinh tấn tạo nhiều thiện nghiệp, chính nhờ thiện nghiệp sau này làm giảm bớt tiềm năng cho quả của ác nghiệp trước kia, nhưng không thể xóa được ác nghiệp trước kia.
Ngoài Thiện nghiệp này ra không còn có Thiện nghiệp nào có đủ khả năng tận diệt được Nghiệp mà người đã tạo.
Nên nhớ rằng: sự hưởng phước (hay gọi là chạy khỏi nghiệp ác trả quả tạm thời) chưa phải là giải thoát thật sự, vĩnh viễn, phước thường không phải là Thánh quả, nó chỉ giúp ta được sanh vào nơi nào mà ác nghiệp không có cơ hội thuận tiện để trả quả thôi. Khi hưởng hết phước, ác nghiệp sẽ đến trả quả liền. Vì vậy gọi phước là phương tiện chạy trốn khỏi nghiệp ác tạm thời mà thôi.

 Người làm phước cũng vậy, chưa làm đúng cách hay còn thiếu chưa đúng độ nên chưa có kết quả mỹ mãn đó thôi. Dù vậy cũng không phải là mất hết công đức nhưng chỉ vì còn quá ít nên chưa trả quả thôi.

Theo Phật giáo: Quả của phước là tâm được trong sạch, được kỳ mài, chùi rửa hết phiền não, và không còn chìm đắm trong vòng luân hồi nữa. Người không còn bị sự hành hạ cho đau khổ nữa nên gọi là phước. Phước là sự được giải thoát khỏi luân hồi.
Còn quả của phước mà người đời ham muốn nào là sự an lạc trong cõi nhân thiên như là sang giàu, quyền chức, vợ đẹp, con khôn, đaây cũng là quả của phước, nhưng người làm phước không được thọ hưởng liền khi vừa làm phước xong, vì còn đợi một thời gian sau mới được hưởng.
Còn quả hiện tại mà người làm phước được liền trong khi đang làm là sự vui vẻ trong tâm, làm cho tâm thơ thới, đó mới là phước thực sự. Điều này chỉ có các bậc trí thức mới nhận thấy rõ.
 Bởi vì thiện nghiệp nào hoặc ác nghiệp nào có cơ hội, hội đủ điều kiện của nó, thì thiện nghiệp ấy hoặc ác nghiệp ấy mới có cơ hội cho quả của nó. Quả an lạc của thiện nghiệp hoặc quả khổ của ác nghiệp ấy đều có thời gian lâu hoặc mau hoàn toàn tùy thuộc vào năng lực của thiện nghiệp ấy hoặc ác nghiệp ấy.
Đặc biệt, trong kiếp hiện tại, nếu người nào tạo thiện nghiệp nào có nhiều năng lực do hội đủ điều kiện; hoặc ác nghiệp nào có nhiều năng lực, thì thiện nghiệp ấy hoặc ác nghiệp ấy có cơ hội cho quả của nó ngay trong kiếp hiện tại đối với người ấy. Quả của nghiệp trong kiếp hiện tại này có thể làm giảm bớt tiềm năng hoặc thay đổi được quả hiện hữu của nghiệp quá khứ.

http://trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/NghiepVaQuaCuaNghiep/Nghiep7.htm
https://thuvienhoasen.org/a12847/03-chu-de-toi-phuoc

Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2017

1. CÔ HỒN LÀ AI?
Trung Quốc ngày xưa cho rằng cô hồn là những linh hồn chưa được siêu thoát vẫn còn vất vưởng trên thế gian. Nhưng với trí tuệ và khả năng thần thông siêu việt của Đức Phật, Ngài khẳng định sau khi chết không có linh hồn nào vất vưởng cả, ngay lập tức tái sinh vào 1 trong 6 cõi gồm: chư thiên, người, súc sinh, ngạ quỷ, atula.
Có lẽ dân gian nhầm lẫn giữa cô hồn và Ngạ quỷ hoặc cảnh địa ngục, cảnh giới mà người khi chết đi, do những ác nghiệp đã tạo ra mà phải đầu thai vào ngay lập tức. Thông thường Các loài quỷ (Peta) gồm hai loại: một loại Ngạ quỷ hoàn toàn chịu khổ đau mọi mặt, và một loại quỷ thần được hưởng một phần hạnh phúc do một số thiện nghiệp đã làm và một phần khổ đau do ác nghiệp đời trước.
2. THÁNG 7 VÀ LỄ PHÁ CỬA ĐỊA NGỤC
Trung Quốc cho rằng Diêm Vương cho mở cửa Quỷ môn quan vào ngày 2/7 hàng năm để quỷ đói được trở lại trần gian rồi đến Rằm tháng 7 lại quay về. Chính vì thế mà theo tục lệ dân gian, người trần gian phải cúng cháo, gạo, muối cho quỷ đói để chúng không quấy nhiễu cuộc sống thường ngày.
Tuy nhiên việc này không thấy có chứng cứ nào, và không được nói tới trong Đạo Phật.
Nói về sự vô lý thì lại đầy rẫy bởi ngạ quỷ sống sao được bằng gạo, muối…vv bởi thức ăn của mỗi loài khác nhau, như loại người thì cần cơm, bánh, rau…vv, súc sinh có loại ăn cỏ, loại ăn thịt, loại nào có thức ăn loại đó, không thể thay thế, ngạ quỷ không dùng thức ăn của loại người được.
Thức ăn không dùng được nên đồ vàng mã đốt xuống càng không thể dùng, gì chứ mấy món quần áo, nhà lầu, siêu xe, thậm chí máy bay, du thuyền thì chắc chắn là không hưởng được.
3. NÊN LÀM GÌ TRONG THÁNG CÔ HỒN
Cũng như mọi tháng khác trong năm, làm lành gặp lành, làm ác gặp ác, tháng này nếu đặc biệt nhớ nghĩ đến hương linh quá vãng thì thân nhân hãy làm phước, hoặc các vị sư thương xót nhận làm các thiện sự, bố thí, cúng dường, tu thiền, giữ giới v.v... rồi hồi hướng công đức về họ thì họ sẽ được nhận phần phước ấy, phát tâm hoan hỷ mà đỡ khổ, đỡ khổ rồi có thể quay ra hỗ trợ cho những người hồi hướng đến họ
Chỉ có Nhân- Quả và sự hợp lý, khoa học, không có sự mê tín, mông muội trong Phật Giáo đích thực.

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2017

Trong sự tùy duyên (sống hợp theo các điều kiện hiện tại) thì vẫn phải có 1 định hướng, như con diều dù bay đi đâu vẫn có dây neo, không thì diều bay mất và sẽ kẹt lại ngọn cây, dây điện nào đó.
Dây neo - sự bất biến không đổi của người học Phật là gì?
Mỗi người sẽ có 1 quan điểm khác nhau nhưng tựu chung là:
- cùng hướng đến giải trừ Tham, Sân, si
- cùng con đường Giới, Định, Tuệ.
Không có điểm neo bất biến này, ta đánh mất mình lúc nào không biết vì duyên đời đa dạng, nhiều lúc duyên điều Bất thiện và Thiện cùng song hành. Không có điểm neo, phiền não sẽ luôn dẫn chúng ta về đường bất thiện đầy cám dỗ.
Biết sống tùy duyên thì là:
1. Biết những tổng hợp duyên tạo thành Quả là gì?
Chỉ có tỉnh thức với thực tại, không dính mắc, không chối bỏ, không đồng hóa mới có thể nhìn nhận được mọi mặt của một vấn đề, thì sẽ phát hiện được những nhân duyên tác thành
2. Gieo nhân mà không chấp Quả.
Nỗ lực làm những việc mình có thể làm, với hiểu biết rằng đó chỉ là phần Duyên mình có thể làm, còn việc đạt quả thế nào, ra sao, ở đâu, khi nào....vv còn phải tùy duyên.
- Sư Cô Hương Thiền -

Thứ Năm, 7 tháng 9, 2017

"Trên thế gian này không có kho tàng nào quý giá hơn một người có thói quen giữ giới!"
Ajahn Mahà Bua Nãnasampanno
Cảm tưởng: Nguồn an toàn cho người khác và cả các chúng sinh. Ngoài ra người giữ giới thành thói quen là người biết đủ, biết kiểm soát mình khỏi những tác động mạnh mẽ của phiền não. Người có giới sẽ luôn cẩn trọng trong thân, khẩu, ý do đó không làm khổ ai, và chính họ. Đặc biệt khi giữ giới sẽ thấy rất tự tin, an toàn và chấp nhận được chính mình- một điều mà không dễ có được.
Namo Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo...Sadhu! Lành thay Diệu Pháp.
- Nếu không có giới đừng nói đến Định,Tuệ.
- Và không thể phá giới chạy theo phiền não rồi gọi đó là Phương Tiện khi mà người đó chưa giác ngộ. Vì khi chưa giác ngộ (chưa đạt mức độ trí tuệ tuyệt đối, trong tâm chưa hết Tham, Sân, Si) nghĩa là chưa có trí tuệ thì chỉ có phiền não điều khiển hành động phá giới đó.
- Sư cô Hương Thiền -

Thứ Hai, 21 tháng 8, 2017

 
Nhiều người có cùng 1 câu hỏi đặt ra ” con đã thấy giá trị của Đạo Phật rồi, làm sao để gia đình mình cũng theo, khó quá ạ”
Xin có vài góp ý với quý vị như sau:
- Những gì quý vị nói với họ phải do quý vị thực sự hiểu và thực hành làm gương, không phải do quý vị bắt chước, khi đó nói mới có tính thuyết phục. Tự mình không làm được nhưng bắt người khác làm thì không ai chấp nhận được cả.

- Đức Phật cũng chỉ giúp được người hữu duyên, chúng ta cũng chỉ giúp được người nào có lòng muốn nghe, muốn tìm hiểu, chứ không thể gượng ép. Khi có đầy đủ các điều kiện (duyên) để họ tới học Phật, khi đó sự chia sẻ của mình mới có hiệu quả. Do đó hãy gieo duyên cho người thân muốn học Phật, không nên ép họ phải theo mình.

- Mình muốn người thân theo Phật vì lợi ích của họ hay của chính mình? Rất nhiều Phật tử muốn người thân theo vì muốn họ tạo điều kiện (thời gian, phương tiện…vv) cho mình đi chùa, hoặc người thân theo Phật để mình trở thành “ thầy” cao hơn để dạy họ.  Với động cơ ích kỷ và hạn hẹp như vậy, bạn không thể đem được điều cao quý là Đạo Phật đến với người khác. Hãy kiên nhẫn và công bằng tìm hiểu mọi người, biết nhu cầu, mong muốn, điểm mạnh yếu của họ để rồi giá trị của Đạo được thể hiện từ những hành động nhỏ nhất bạn giúp cho cha mẹ, anh chị em, chứ không từ những bài học đạo đức xa xôi nói ra để thỏa mãn chính bạn

- Nếu bạn chỉ biết đi chùa cúng dường, bạn chỉ giúp được những người thích và cần điều đó,   ngược lại nếu bạn biết cả Pháp học, Pháp hành thì sẽ có nhiều người cần đến sự giúp đỡ của bạn. Nếu muốn giúp nhiều người, phải học rộng hiểu nhiều. kinh nghiệm đa chiều nhé, khó lắm.

 - Nhiều người nói “ tôi chỉ muốn con tôi, cha mẹ tôi tốt hơn thôi” Vâng! Cái khái niệm tốt của họ có thể khác bạn đấy, và nhiều người rất bằng lòng với độ tốt hiện nay của họ mặc dù không theo Phật. Chân lý đạo Phật không chỉ ở lòng Thiện, mà là sự hướng Thượng, vượt trên Thiện- bất thiện rất nhiều, điều này bạn phải thực sự hiểu chứ không chỉ nói như vẹt. Thực tế nếu bạn thấy Đạo Phật tốt, điều tốt cần cho mọi người, tại sao bạn cứ phải nhằm con mình, chồng vợ hay cha mẹ mình để giúp họ vào đạo, đó là SỰ DÍNH MẮC thôi. Nếu bạn mở lòng ra để giúp tất cả những ai hữu duyên biết Đạo thì bạn sẽ thấy dễ thành công hơn nhiều. Thế rồi sẽ đến ngày bạn giúp được cho gia đình mình, đôi khi là rất lâu đấy. Điều đáng ngại nhất là các Phật tử mới biết tý tẹo về Đạo đã về “ độ” gia đình thì gia đình họ phản ứng là…phải.
-Sư cô Hương Thiền-