Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh-Sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh-Sách. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 25 tháng 9, 2025

Cuốn truyện dày 80 trang, in màu toàn bộ, khổ 17x24cm: Sa di Bom Bom và mèo Tu Teo

Tu Teo là mèo, Bom Bom là sa di (chú tiểu nhỏ mới xuất gia theo Phật Giáo Nguyên Thủy). 

Bom Bom có nói dối, có giả vờ tốt đẹp. Tu Teo có lười, có nghịch, có cẩu thả. Nhưng rồi cả chú sa di và mèo béo đều học được cách nhìn lại chính mình – không phải vì sợ bị mắng, mà vì hiểu rằng sống tốt sẽ vui, sống thật sẽ nhẹ lòng. Sư cô Hương Thiền viết những mẩu chuyện nhỏ này, làm thành những bài học nhẹ tênh mà sâu lắng, để ai đọc rồi cũng muốn sống tốt hơn một chút.

Những lời dạy của Đức Phật Thích Ca về thiền, giới, lòng từ bi, trí tuệ được truyền tải bằng cách nhẹ nhàng, gần gũi nên trẻ em cũng có thể hiểu và thực hành trong cuộc sống. Rất mong quý vị phụ huynh và các bạn nhỏ (trên 8 tuổi) sẽ đón nhận món quà này.

Tác giả và nhóm ấn tống xin tặng mỗi quý vị độc giả 01 cuốn.

Để nhận sách tặng (KHÔNG BÁN) và hùn phước ủng hộ, vui lòng đọc kỹ và đăng ký tại đây:

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2016





SÁCH : PHÁP Ở MỌI NƠI

Chào đón mỗi khoảnh khắc với chánh niệm + trí tuệ


           DHAMMA EVERYWHERE            
Thiền sư Sayadaw U Tejaniya

Người dịch:   Sư Tâm Pháp


NAMO TASSA BHAGAVATO
ARAHATO
SAMMA SAMBUDDHASSA


Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ
Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán cao thượng,
Đấng Chánh Đẳng Chánh Giác


PHÁP Ở MỌI NƠI: HÃY CHÀO ĐÓN MỖI KHOẢNH KHẮC ĐẾN VỚI CHÁNH NIỆM VÀ TRÍ TUỆ.

(Dhamma everywhere: welcoming each moment with awareness + wisdom).


Cuốn sách này là một món quà Pháp Bảo và không được bán dưới bất kỳ hình thức nào. Bạn có thể phôtô cuốn sách này để dùng riêng hay để tặng cho bạn bè.  Xin liên hệ với Thiền sư Sayadaw U Tejaniya để xin phép trước khi dịch cuốn sách này.

Shwe Oo Min Dhamma Sukha Tawya
Aung Myay Thar Yar Street
Kon Tala Paung Village
Mingaladon township
PO 11022 Yangon, Myanmar
951-638-170, 951-720-591

MỤC LỤC 

LỜI CẢM TẠ...........................................................................................................

BẠN ĐỌC THÂN MẾN..........................................................................................

GHI CHÚ VỀ CÁC THUẬT NGỮ.........................................................................

PHẦN I :   PHÁP Ở MỌI NƠI 1.........................................................

PHẦN II :  PHÁP Ở MỌI NƠI 2.......................................................



LỜI CẢM TẠ


Tấm lòng tri ân sâu sắc của tôi xin được kính dâng lên cố Đại Trưởng lão Thiền sư Shwe Oo Min Sayadaw Bhaddanta Kosalla Maha Thera, người đã truyền dạy Giáo Pháp và thái độ chân chánh trong con đường phát triển tâm linh và pháp hành của tôi.

Tôi muốn bày tỏ sự cám ơn đối với tất cả các thiền sinh. Những khó khăn, vướng mắc và những câu hỏi của họ đã đưa đến những câu trả lời và những điểm diễn giảng được trình bày trong cuốn sách này. Tôi thực sự hy vọng rằng cuốn sách này sẽ giúp các thiền sinh hiểu rõ hơn về thiền chánh niệm và giúp cho pháp hành của họ thêm phần sâu sắc.

Cuối cùng, xin cám ơn tất cả những người đã đóng góp công sức để hoàn thành nên cuốn sách này.

Ashin Tejaniya
Myanmar


BẠN ĐỌC THÂN MẾN


Phong cách giảng dạy và những điểm nhấn của thiền sư Sayadaw U Tejaniya luôn luôn năng động và thường xuyên được thay đổi theo những kinh nghiệm tu chứng riêng của thiền sư cũng như từ những ghi nhận về các khó khăn của thiền sinh trong quá trình thực hành. Cuốn sách này là một cố gắng để nắm bắt lời dạy của thiền sư trong thời điểm hiện tại, tuy nhiên thiền sư Sayadaw U Tejaniya vẫn luôn tiếp tục sáng tạo ra những cách diễn giải mới mẻ và hiệu quả hơn nữa.

Chúng tôi đã thu thập những lời dạy của thiền sư từ nhiều nguồn thông tin và từ nhiều ngữ cảnh khác nhau để tập hợp lại thành một nguồn tài liệu với hy vọng sẽ đáp ứng được yêu cầu của cả những thiền sinh cũ và mới. Trong đó bao gồm cả những đoạn dịch từ tiếng Miến của cuốn sách nhỏ màu xanh về thái độ đúng trong thiền tập, chọn lọc từ những buổi trình pháp và lời nhắc của thiền sư trong các thời thiền sáng ở thiền viện Shwe Oo Min Dhamma Sukha Tawya. Chúng tôi đã bổ sung các đề pháp trên bằng những lời nhắc tiếng Anh vào các buổi sáng của thiền sư.

Cũng giống như hai cuốn sách trước, cuốn sách này được xuất bản để dành cho các thiền sinh đang thực hành tại thiền viện Shwe Oo Min Dhamma Sukha Tawya. Vì vậy, một số từ và thuật ngữ được dùng ở đây có thể sẽ không có cùng một nghĩa như khi dùng ở nơi khác (xem thêm trong phần Ghi chú về các thuật ngữ). Hy vọng bạn sẽ tìm thấy từ cuốn sách này một nguồn thông tin và cảm hứng mới, từ chương Thế nào là thiền chánh niệm? và Thái độ đúng 101 tới những trích đoạn từ các buổi trình pháp trong chương Tóm tắt và Thuyết pháp buổi sáng. Xin nhớ rằng cuốn sách này không hề có ý định thay thế sự hướng dẫn trực tiếp của thiền sư.

Chúng tôi đã cố gắng chuyển dịch và diễn đạt những lời dạy của thiền sư Sayadaw U Tejaniya một cách chính xác nhất. Mong bạn đọc hãy thông cảm cho những sơ suất và những chi tiết có thể bị thiếu sót trong quá trình biên dịch. Xin bạn hãy liên hệ với chúng tôi để góp ý cho những lần xuất bản sau được hoàn chỉnh hơn.

Xin thành kính tri ân thiền sư Sayadaw U Tejaniya đã kiên nhẫn soi sáng con đường chánh niệm và trí tuệ và dạy dỗ các thiền sinh chúng con về thái độ chân chánh trong thiền tập. Mong rằng tất cả chúng sanh đều được hưởng phước lành từ những công đức mà mọi người đã đóng góp trong cuốn sách này.

Ban biên tập.


GHI CHÚ VỀ CÁC THUẬT NGỮ


Chúng tôi phải làm việc trong giới hạn của ngôn từ và ý niệm để diễn tả và đưa ra những gợi ý về một tiến trình thấy biết rõ ràng mà đôi khi rất khó để diễn đạt bằng lời nói. Do đó, khi đọc cuốn sách này, xin các bạn đọc chớ nên chấp chặt vào những định nghĩa trong từ điển hay những quy tắc văn phạm.

Có thể bạn sẽ thấy một từ ghép mới “chánh niệm+trí tuệ” ở ngay đầu đề cuốn sách này hay xuất hiện chỗ này chỗ kia trong sách. Đó là cách thiền sư Sayadaw U Tejaniya dùng để nhấn mạnh sự cần thiết (của trí tuệ) chứ không phải chỉ mỗi là chánh niệm ở trong thiền vipassanā. Chỉ mỗi chánh niệm thì không đủ; trí tuệ cũng phải có mặt trong con đường học hỏi và hiểu biết này nữa.

Những câu như là “tâm đang hay biết” (thay vì “tâm biết”) được sử dụng trong những trường hợp để diễn tả một sự việc đang trong quá trình diễn tiến. Những từ như: quan sát, nhìn, chánh niệm, ghi nhận, nhận biết hay chú ý đều có cùng ý nghiã và được dùng thay đổi lẫn cho nhau. Và cuối cùng, chữ Pháp (Dhamma) viết hoa là để nói về những lời dạy của Đức Phật (Phật Pháp), hay là thiền tập; còn chữ pháp (dhamma) viết thường là để chỉ các hiện tượng tự nhiên, quy luật tự nhiên hay đề mục, đối tượng nhận biết của tâm.

Các từ Pāli được dùng kết hợp ở trong suốt cuốn sách. Đôi khi những từ dịch sang tiếng Việt chỉ là tương đối, chỉ diễn đạt ngắn gọn về ý nghĩa thực sự của từ Pāli, vì vậy để thực hành thiền chánh niệm thì sự diễn giải cần phải đầy đủ. Hãy xem thêm ở phần giải nghĩa từ Pāli ở cuối sách và tham khảo từ điển Phật học và kinh điển để có định nghĩa hoàn chỉnh hơn. “Hãy cố gắng có sự “cảm nhận” đối với các từ Pāli khi bạn đọc, và cố gắng hiểu chúng ở trong ngữ cảnh cụ thể” là một lời khuyên mà chúng tôi xin được nhắc lại từ cuốn Chỉ mỗi chánh niệm thì không đủ của thiền sư Sayadaw U Tejaniya.

Và cuối cùng, chúng tôi xin được dùng từ “bạn”, hay “chúng ta” thay cho “thiền sinh” ở trong cuốn sách này.



Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

Từ khi còn là một Thái tử cho đến khi thành tựu đạo Vô thượng Bồ đề, đức Phật đã trải qua đủ mọi lạc thú ở thế gian, kể cả những lạc thú cao cấp trong Thiền định như Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Nhưng tất cả những lạc thú đó cuối cùng để lại cho Ngài một ưu tư lớn về tính chất vô thường, và không thể nào tìm thấy hạnh phúc chân thật trong các lạc thú đó. Và thật sự có một hạnh phúc chân thật không bị quy luật vô thường chi phối được, Ngài tìm thấy ngay sau khi giác ngộ, đó là Giải thoát bất động. Nhờ kinh nghiệm tự thân và kinh nghiệm chứng ngộ ấy, đức Phật đã trình bày năm hạng người điển hình đang tìm cầu hạnh phúc qua “Đại kinh Ví dụ lõi cây”.

Qua bài kinh này, người học Phật có thể nhận thức được đâu là chân giá trị hạnh phúc và đâu là hạnh phúc vô thường tạm bợ. Nếu không có được nhận thức như thế thì chúng ta khó có thể đạt đến mục đích mong muốn, khó có thể đạt được hạnh phúc chân thật của sự giải thoát và giác ngộ. Năm hạng người này được đức Phật trình bày trong bài Kinh này đều có cùng ước muốn là đi tìm cầu hạnh phúc, họ sống phạm hạnh để mong giải thoát mọi khổ đau ở cuộc đời: “Ở đây, có Thiện nam tử do lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”.

Tuy nhiên, việc thành đạt mục đích giải thoát mọi đau khổ hay không là hoàn toàn tuỳ thuộc vào nhận thức của chính mỗi người qua các giai đoạn thành đạt trong việc tu tập của người ấy. Thông thường, các giai đoạn thành đạt ấy đem lại sự hỷ lạc cho vị hành giả, và nếu say mê, tham đắm, tự mãn đối với sự thành đạt này thì vị ấy sẽ bị dừng lại ở đó, khó có thể đạt đến cứu cánh giải thoát. Các hỷ lạc trong lọi trình tu tập giải thoát của vị hành giả được đức Phật phân ra như là năm hạng người, và cũng chính là năm trạng thái hạnh phúc từ phàm tục cho đến giải thoát hoàn toàn:

1. Có người được lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Do lựoi dưỡng, cung kính, danh vọng, vị ấy khen mình, chê người: “Ta được lợi dưỡng như vậy, được tôn kính như vậy, được danh vọng như vậy. còn các Tỳ kheo khác ít ai được biết đến, ít có uy quyền”. Vì vậy, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.

2. Có người do không tự mãn với lợi dưỡng, danh vọng nên thành tựu Giới đức. Do thành tựu Giới đức này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn và khen mình, chê người: “Ta là người trì giới, theo thiện pháp. Các Tỳ kheo khác phá giới, theo ác pháp”. Do thành tựu Giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.

3. Có người do không tự mãn với lợi dưỡng, danh vọng, không tự mãn với Giới đức nên thành tự Thiền định. Do thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn và khen mình, chê người: “Ta có Thiền định nhất tâm, các Tỳ kheo không có Thiền định, tâm bị phân tán”. Do vậy, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.

4. Có người không tự mãn với lợi dưỡng, danh vọng, không tự mãn với Giới đức, không tự mãn với Thiền định nên thành tựu Tri kiến. Vì tri kiến này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn và khen mình, chê người: “Ta sống thấy và biết; các Tỳ kheo khác sống, không thấy và biết”. Vị ấy do Tri kiến này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do phóng dật, vị ấy bị đau khổ.

5. Có người do không tự mãn với lợi dưỡng, danh vọng, không tự mãn với Giới đức, không tự mãn với Thiền định, không tự mãn với Tri kiến nên thành tựu thời và phi thời giải thoát, và vị ấy có thể từ bỏ thời và phi thời giải thoát. Như vậy, phạm hạnh này không phải vì lợi ích lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu Giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích thành tựu Tri kiến, mà tâm Giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh.

Như vậy, tâm Giải thoát bất động là mục đích của phạm hạnh, là lõi cây, là hạnh phúc chân thật không hề có sự khổ đau; còn lợi dưỡng, danh vọng, Giới đức, thiền định, Tri kiến đều không phải mục đích của phạm hạnh, không phải lõi cây, là hạnh phúc tạm thời của thế giới vật chất vô thường.

Thế nhưng lòng tham muốn khiến con người chỉ tìm kiếm và chấp nhận chút hạnh phúc tạm bợ mong manh mà không biết thú vui đó là nguyên nhân của khổ. Hạnh phúc ấy luôn bị phụ thuộc vào sự đối đãi của tầng số tăng giảm vè lạc thú. Hôm nay ta ăn cơm với xì dầu sướng hơn ngày hôm trước, không có xì dầu mà ăn; nhưng xì dầu lại là sự chán bỏ đối với những món ăn khác ngon hơn. Phương tiện xe đạp là một lạc thú so với đi bộ, nhưng lại là sự chán bỏ đôi với xe máy; và xe máy là sự chán bỏ đối với xe gắn máy đời mới hơn v.v… Vì thế, đức Phật dạy hạnh phúc con người thường thọ hưởng không ngoài sự tham muốn và tưởng nhớ các dục. Kinh Xà Dụ (Trung bộ số 29) ghi: “Người ta thọ dụng các dục không ngoài các dục, không ngoài các dục tưởng, không ngoài các dục tầm”. Thọ dục các dục nghĩa là thọ hưởng hạnh phúc do thoả mãn lòng tham muốn khi các giác quan tiếp xúc với các trần cảnh; thọ dục các dục tưởng là thọ hưởng hạnh phúc do tưởng nhớ những cảm thọ trong quá khứ; thọ dụng các dục tầm là thọ hưởng hạnh phúc do ước mong về tương lai. “Quá khứ đã đoạn tận, còn tương lai thì chưa đến”, nên hạnh phúc của dục tưởng và dục tầm là hạnh phúc do vọng tưởng tạo nên, không thật có. còn hạnh phúc do các giác quan đưa đến thì lại vô cùng phức tạp. Hạnh phúc này hoàn toàn phụ thuộc vào ý thích riêng của mỗi người, nó không tuỳ thuộc vào thế giới vật chất. Cái này là thứ vui thích của ngời này nhưng đồng thời là cái người kia bực bội, chán ghét. Một ly cà phê anh thích, còn tôi thì ghét. Thích là hạnh phúc, ghét là khổ đau. Phải chăng một ly cà phê vô tri ấy mà lại chứa đựng cả hạnh phúc lẫn khổ đau? Thật ra, hạnh phúc hay khổ đau là chính thái độ của con người đối với đối tượng nhận thức, chứ không phải là đối tượng nhận thức. Vả lại đối tượng nhận thức thuộc thế giới khách quan, luôn luôn vận hành theo quy luật duyên sinh, vô thường, vô ngã, trong khi đó thì thú vui (hạnh phúc) mà con người thọ dụng thuộc chủ quan tự ngã. Sự mâu thuẫn giữa thế giới khách quan và tâm lý chủ quan đã tạo ra biết bao khổ đau trên cuộc đời. Thế nhưng, do ý thức chỉ muốn sống (hay kiết sanh thức) đã khiến cho loài hữu tình bất chấp mọi khổ đau để tìm kiếm chút hạnh phúc tạm bợ trong cuộc sống này. Vô minh là thế.

Do vậy, vấn đề nhận thức đúng đắn về bản chất và giá trị của hạnh phúc là vấn đề rất quan trọng. Đại kinh Ví dụ lõi cây cho chúng ta thấy rõ giá trị hạnh phúc qua năm phần của một cây đại thọ, gồm lõi cây, giác cây, vỏ trong, vỏ ngoài và cành lá.
Hạnh phúc cành lá là lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng; hạnh phúc vỏ ngoài là thành tựu Giới đức; hạnh phục vỏ trong là thành tựu Thiền định; hạnh phúc giác cây là thành tựu Tri kiến; và hạnh phúc lõi cây là thành tựu Giải thoát bất động. Đối chiếu năm phần của một cây đại thọ như thế, chúng ta có thể dễ dàng thấy được giá trị hạnh phúc của lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, thấy được giá trị hạnh phúc của Giới đức, của Thiền định, của Tri kiến và của Giải thoát bất động; và qua đó chúng ta có thể biết được chúng ta đang sống và cảm thọ ở mức độ hạnh phúc nào, đồng thời biết định hướng cho mình một hướng đi đúng đắn.

Trong bài kinh này, đức Phật hướng dẫn cho chúng ta thấy rằng mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh là Giải thoát bất động. Tuy nhiên, trên chặng đường đi đến mục đích ấy, chúng ta không thể không trải qua bôn giai đoạn trước. Điều quan trọng ở đây là chúng ta không nên để cho lạc thú của các giai đoạn đó chi phối bước tiến của mình, không dừng lại và chấp thủ tự mãn những gì mình đã đạt được. Lời dạy của đức Phật trong Đại kinh Ví dụ lõi cây thật là cao siêu. Những gì đức Phật dạy từ bỏ thì những thứ đó con người đang ngưỡng vọng và hướng đến. Thật vậy, chỉ cần thành tựu Giới đức thôi thì đã đến biệt giải thoát rồi, huống nữa là thành tựu Thiền định và thành tựu Tri kiến. Do đó, con đường đi đến ở đây thật là dài, và lạc thú ở trong đó cũng không cũng không phải là ít, không khéo thì chúng ta khó có thể đạt được mục đích mà đức Phật mong muốn chúng ta thành tựu. Lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, giới đức, thiền định, tri kiến rất cần thiết cho những ai chưa đạt đến, nhưng lại là mối nguy hiểm cho những ai tự mãn, say mê, tham đắm và dừng lại ở đó.

Giáo lý đức Phật trình bày trong kinh này không phải là một pháp môn tu tập cụ thể, mà ở đây Ngài mở ra cho chúng ta một Chánh tri kiến, một cách nhìn đúng đắn về lộ trình tu tập đưa đến giải thoát giác ngộ. Tuy được hướng dẫn cho người xuất gia tu phạm hạnh, bài kinh vẫn có giá trị thiết thực bất cứ ai muốn tìm cầu hạnh phúc chân thật mà không sợ bị sai đường lạc lối, không sợ bị rơi vào tà kiến khổ đau. Giải thoát bất động là ngọn hải đăng soi sáng cho những con thuyền đang lênh đênh đi tìm bờ cập bến, đang đi tìm kiếm hạnh phúc chân thật. Có ngọn đèn, có con đường, đoàn lữ hành lướt sóng vượt qua mà không bị phong ba làm chướng ngại, không bị dòng tục luỵ cuốn trôi.

Hành giả tin chắc phía ngọn đèn là bờ, thấy được rằng vượt qua những hạnh phúc tầm thường không thật thì sẽ đạt đến hạnh phúc chân thật than cao, vượt qua được cành lá, vỏ cây, giác cây thì sẽ đạt đến lõi cây. Hãy tin rằng chỉ có lõi cây, chí có Giải thoát bất động mới là hạnh phúc vững bền và chắc thực, bởi “Cái gì là lõi cây, cái ấy sẽ tồn tại lâu dài” (Yo sàro so titthati).

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016

Phật học ngày nay bao hàm cả một rừng kinh sách của nhiều Tông môn, Bộ phái. Riêng Tam Tạng Thánh Điển Pàli nguyên thủy thì chúng ta nghiên cứu một đời cũng không dễ gì thấu suốt, huống chi về sau còn có cả Kinh Luận dị biệt của các bộ phái Tiểu thừa, rồi đến sự phát triển đa dạng của tư tưởng Đại thừa, Mật tông, Thiền tông v.v. . .

....dù một người có sống hơn trăm năm cũng không sao khám phá hết những tinh hoa trong rừng Kinh Điển thâm cao này.

Tuy nhiên Đức Phật dạy:

            “Dầu cho ngôn ngữ trăm ngàn
            Nói điều vô ích chỉ bàn suông thôi
            Tốt hơn: ít chữ, ít lời
            Nghe xong tịnh lạc sống đời vô ưu”.
              (Kinh Lời Vàng – Minh Đức dịch)

Cho nên người hữu duyên đôi khi chỉ nghe một câu kệ, một lời kinh, một yếu ngữ hoặc thậm chí chỉ thấy một sự kiện vô ngôn mà vẫn thâm nhập được chánh pháp.

Người học Phật cốt thấy ra chỗ uyên nguyên, tinh yếu và giản dị nhất của Đạo chứ không nên tầm chương trích cú quá nhiều Kinh luận để rồi không tránh khỏi chướng ngại của sở tri, hay lắm khi bay bỗng trong thế giới huyễn hoặc của tư tưởng, để rồi đánh mất thực địa của pháp tánh như thị (Yathàbhùtà) mà Đức Phật muốn chỉ bày.

“Hơn hai ngàn hai trăm năm trước, nơi vườn Lộc Uyển tại Sarnath Ấn Độ, đã vang lên bức Thông Điệp Giải Thoát của Đức Phật, một sự kiện trọng đại, đã làm thay đổi hẳn cách tư duy và lối sống của loài người. Mặc dù mới đầu chỉ có 5 vị đạo sĩ thuộc nhóm Kiều Trần Như được nghe Thánh pháp này, giờ đây đã lan tỏa thật bình an đến tận những vùng xa xôi nhất của cõi thế này gian, và nhu cầu để hiểu được rõ ràng hơn, chính xác hơn ý nghĩa của Thánh pháp đã và đang là một nhu cầu lớn cho thế giới.

Trong những năm gần đây, nhiều sách dẫn giải về lời dạy của Đức Phật đã xuất hiện, song phần lớn những cuốn sách ấy đều thiếu tính chính xác và không tương ứng với tinh thần Phật ngôn. Với tất cả lòng khiêm tốn, bần Tăng nguyện sẽ trình bày thật chân xác về lời Đức Phật dạy như đã được tìm thấy trong Tam Tạng Pàli nguyên thủy nhất, một truyền thống Phật giáo cổ kín và rất đáng tin cậy từ ngàn xưa cho tới nay. Do đó, nội dung của cuốn sách này là nhằm giải thích bao quát quan niệm trung tâm của đạo Phật, tức Tứ Thánh Đế, đặc biệt nhấn mạnh đến Bát Thánh Đạo, Pháp hành dẫn đến Giác Ngộ Giải Thoát. Bần Tăng đặt tên cho cuốn sách là “Con Đường Cổ Xưa” (Puràna Maggam), đúng theo những từ mà Đức Phật đã dùng khi giới thiệu về Bát Thánh Đạo.”

 Nayaka Mahathera Piyadassi

Giới thiệu tác giả

Nayaka Mahathera (Đại Lão Tăng) Piyadassi (1914-1998) sinh trưởng tại Sri Lanka (Tích Lan), lãnh thổ đã nuôi dưỡng và phát triển Phật Giáo hơn 2,300 năm qua. Ngài học tại trường Cao Ðẳng Nàlanda, một trung tâm Giáo Dục Phật Giáo quan trọng trong xứ, rồi vào Ðại Học University of Sri Lanka. Ngài xuất gia vào năm lên hai mươi và vững chắc thấm nhuần giáo lý và triết học Phật Giáo dưới sự hướng dẫn của vị Ðại Lão Tăng Vaji-ranàna, sáng lập viên-tăng trưởng chùa Vajiràràma, Colombo, một trong những nhân vật Phật Giáo lỗi lạc nhất tại Tích Lan. Ngài cũng là sinh viên nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Các Tôn Giáo Thế Giới tại Ðại Học Harvard, Mỹ Quốc. Ngày nay, Mahathera Piyadassi được biết đến như là một trong những vị sư, người thầy, người phụng sự Phật giáo không biết mỏi mệt đáng kính nhất trên thế giới. Lúc sinh thời, Ngài đã nhiều lần đại diện cho Sri Lanka trong những hội nghị quốc tế về tôn giáo và văn hóa. Vì đã từng du hành đến nhiều nơi, cả phương Đông lẫn phương Tây, để truyền đi thông điệp Từ, Bi, Hỷ, Xả cao cả của Phật môn, Ngài có khả năng viết nên những tác phẩm có sức lay động với mọi tầng lớp người thuộc các quốc gia khác nhau.

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2016

Kinh Bại Vong (Paràbhava)
(Hòa thượng Thích Minh Châu dịch)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên nhơn, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên nhân ấy bạch Thế Tôn với những bài kệ:

Thiên nhân:

91. Về bại vong con người,
Con hỏi Gotama,
Con đến hỏi Thế Tôn,
Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

92. Thật dễ hiểu thành công,
Thật dễ hiểu bại vong,
Ưa mến pháp, thành công,
Thù ghét pháp bại vong.

Thiên nhân:

93. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ nhất về bại vong,
Thứ hai, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

94. Ai mến kẻ bất thiện,
Không ái luyến bậc thiện,
Thích pháp kẻ bất thiện,
Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

95. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ hai về bại vong,
Thứ ba, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

96. Người tánh ưa thích ngủ,
Thích hội chúng, thụ động,
Biếng nhác, thường phẫn nộ,
Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

97. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ ba về bại vong.
Thứ tư, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

98. Ai với mẹ hay cha,
Già yếu, tuổi trẻ hết,
Tuy giàu không giúp đỡ,
Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

99. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ tư về bại vong.
Thứ năm, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

100. Ai nói dối lường gạt,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Hay các khất sĩ khác,
Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

101. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ năm về bại vong.
Thứ sáu, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

102. Người giàu có tài sản,
Có vàng bạc thực vật,
Hương vị ngọt một mình,
Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

103. Như vậy, chúng con rõ
Thứ sáu về bại vong.
Thứ bảy, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

104. Người tự hào về sanh,
Về tài sản dòng họ,
Khinh miệt các bà con,
Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

105. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ bảy về bại vong,
Thứ tám, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

106. Người đắm say nữ nhân,
Ðắm say rượu, cờ bạc,
Hoang phí mọi lợi đắc,
Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

107. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ tám về bại vong.
Thứ chín, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

108. Không vừa đủ vợ mình,
Ðược thấy giữa dâm nữ,
Ðược thấy với vợ người,
Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

109. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ chín về bại vong.
Thứ mười, mong Ngài nói,
Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

110. Người tuổi trẻ đã qua,
Cưới cô vợ vú tròn,
Ghen nàng không ngủ được,
Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

111. Như vậy, chúng con rõ,
Thứ mười về bại vong.
Thứ mười một, xin nói,
Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

112. Ðàn bà, hay đàn ông,
Rượu chè, tiêu hoang phí,
Ðược địa vị quyền thế,
Chính cửa vào bại vong.

Thiên nhân:

113. Như vậy, chúng con biết,
Thứ mười một bại vong.
Thứ mười hai, xin nói,
Cửa vào của bại vong?

Thế Tôn:

114. Tài sản ít, ái lớn,
Sanh gia đình hoàng tộc,
Ở đây muốn trị vì,
Chính cửa vào bại vong.

115. Bại vong này ở đời,
Bậc trí khéo quán sát,
Ðầy đủ với chánh kiến,
Sống hạnh phúc ở đời.

Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2016



ĐỪNG COI THƯỜNG PHIỀN NÃO 
Thiền Sư SAYADAW U TEJANIYA



NAMO TASSA BHAGAVATO
 ARAHATO
SAMMA SAMBUDDHASSA

Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ
Đức Thế Tôn, bậc Ứng Cúng cao thượng,
Đấng Chánh Đẳng Chánh Giác





MỤC LỤC

                     














LỜI CẢM TẠ

Tấm lòng tri ân sâu sắc của tôi xin được kính dâng lên cố Đại Trưởng lão Thiền sư Shwe Oo Min Sayadaw Bhaddanta Kosalla Maha Thera, người đã truyền dạy Giáo Pháp và thái độ chân chánh trong con đường phát triển tâm linh và pháp hành của tôi.

Tôi muốn bày tỏ sự cám ơn đối với tất cả các thiền sinh. Những khó khăn, vướng mắc và những câu hỏi của họ đã đưa đến những câu trả lời và những điểm diễn giảng được trình bày trong cuốn sách này. Tôi thực sự hy vọng rằng cuốn sách này sẽ giúp các thiền sinh hiểu rõ hơn về thiền chánh niệm và giúp cho pháp hành của họ thêm phần sâu sắc.

Cuối cùng, xin cám ơn tất cả những người đã đóng góp công sức để hoàn thành nên cuốn sách này.

Ashin Tejaniya
Myanmar




PHIỀN NÃO LÀ GÌ?

­Phiền não không chỉ là sự thể hiện của tham, sân, si ở dạng thô, mà còn là bạn bè và họ hàng thân thích, thậm chí là họ hàng rất xa của chúng nữa !! Hãy xem bạn đã bao giờ có một trong những ý nghĩ sau đây - hay những điều tương tự như vậy - thoáng qua trong tâm chưa:

“Lẽ ra không nên bật đèn vào giờ này trong ngày như vậy!”.
 “Thái độ của anh ta thật là khó chịu!”.
“Lẽ ra anh ta không nên làm như thế”.
 “Tôi có thể làm nhanh hơn thế nhiều”.
 “Mình đúng là một thiền sinh kém cỏi; không thể trụ tâm được trên đề mục phồng-xẹp, dù chỉ là trong 1 phút”.
 “Ngày hôm qua tôi hành thiền rất tốt; thế mà hôm nay mọi thứ cứ rối tinh cả lên”.
 “Ái chà, thời thiền này tuyệt vời quá; bây giờ mình phải thật chánh niệm đừng để mất đi cảm giác này”.
 “Mình phải lên thiền đường hành thiền; nếu không sẽ có kẻ nghĩ mình là đồ lười biếng”.
“Hôm nay mình cần phải ăn thêm một ít khoai tây nữa, thế sẽ tốt cho sức khoẻ”.
“Ối trời, sao lại có cả hành trong sa-lát thế này”.
 “Lại không có chuối nữa rồi!”.
“Hắn ta thật là ích kỷ, thật thiếu tế nhị”.
 “Tại sao điều này lại xảy ra với mình cơ chứ?”.
 “Ai chịu trách nhiệm chùi rửa toa lét thế nhỉ?”.
“Tại sao thiền sinh này lại đi kinh hành ở đây?”.
 “Bọn họ không nên làm ồn như thế!”.
 “Ở đây có quá nhiều người; tôi không thể hành thiền được”.
“Có kẻ đã chiếm mất chỗ của mình rồi!”.
“Cô ấy xinh quá!”.
“Dáng đi của anh ấy đẹp quá”.

Tất cả những ý nghĩ ấy đều bị thúc đẩy bởi phiền não! Đừng đánh giá thấp chúng!

Bạn đã bao giờ nói với một người nào đó là bạn không tức giận, mặc dù rõ ràng là bạn không thích việc làm của anh ta? Đã bao giờ bạn nói xấu xếp của mình, nói xấu một người trong gia đình hay thậm chí một người bạn tốt chưa? Bạn có thỉnh thoảng kể chuyện tiếu lâm bậy không? Bạn có thói quen ăn nói ngọt nhạt để nhờ vả người khác làm cái gì đó cho mình không? Bạn có tự động cao giọng lên khi có người không đồng ý với quan điểm của mình không?

Tất cả những lời nói đó đều bị thúc đẩy bởi phiền não! Hãy nhìn rõ nó!

Bạn đã bao giờ gõ thật mạnh vào cửa nhà người khác chưa, hay nhất định không bước vào phòng, đơn giản chỉ vì có kẻ mà bạn không ưa đang ngồi trong đó? Đã bao giờ bạn chen ngang khi người ta đang xếp hàng, dùng dầu gội đầu của ai đó để quên trong phòng tắm, sử dụng điện thoại cơ quan vào việc riêng hay có những hành động tương tự như vậy bao giờ chưa? Bạn đã từng làm những việc thiếu suy nghĩ như vậy bao giờ chưa?

Tất cả những hành động ấy đều bị thúc đẩy bởi phiền não! Hãy ý thức rõ về chúng!



ĐỘC GIẢ THÂN MẾN

Cuốn sách này không phải là để trình bày một phương pháp thiền hoàn chỉnh và có hệ thống nào cả. Đơn giản chúng tôi chỉ muốn chia sẻ với các bạn những điểm thực tiễn của phương pháp thiền tập này mà thôi. Những điều tư vấn dưới đây được dựa trên kinh nghiệm hành thiền và dạy thiền của Thiền sư Ashin Tejaniya. Chúng tôi hy vọng nó sẽ có lợi ích cho sự thực hành của bạn. Tuy nhiên, con người vốn chẳng giống nhau, do đó mà cũng có rất nhiều cách thức khác nhau để tu tập chánh niệm. Chúng tôi nhận thấy phương pháp này có hiệu quả nhất đối với mình, do đó cũng muốn khuyến khích các bạn hãy thực hành thử xem sao. Nội dung cuốn sách này là để trình bày những cách hiểu và diễn dịch của chúng tôi về phương pháp này. Dĩ nhiên, còn nhiều câu hỏi hoặc những khó khăn, vướng mắc khác mà chúng tôi chưa thể hiện hết trong cuốn sách này - bạn cần nêu những vấn đề đó lên trong những buổi trình Pháp với thiền sư.

Khi đọc cuốn sách này, xin bạn đừng chấp chặt vào những cách giải nghĩa ghi trong từ điển. Chẳng hạn, để làm rõ nghĩa, chúng tôi phải sử dụng thay đổi những từ như “quan sát”, “theo dõi”, “chánh niệm”, “chú ý”, “hay biết”. “Chánh niệm” và “hay biết” mang cùng một nghĩa như nhau. “Hiểu biết”, “chứng ngộ”, “tuệ giác”, “trí tuệ” được dùng để diễn đạt cùng một điều tương tự, từ “kinh nghiệm” thường được sử dụng với nghĩa “đối tượng, đề mục”. “Cảm giác” để chỉ các cảm thọ thuộc thân, “cảm xúc, tình cảm” để chỉ các cảm thọ thuộc tâm. Chúng tôi cũng trình bày những điểm chính của phương pháp này từ nhiều góc độ và trong các ngữ cảnh khác nhau. Kinh nghiệm cho thấy sự lặp lại như thế là rất có ích, nhất là đối với những người mới bắt đầu thực hành thiền chánh niệm.

Chúng tôi đã cố gắng chuyển dịch và diễn đạt một cách chính xác những tư tưởng và lời dạy của Thiền sư Ashin Tejaniya. Tuy nhiên, cũng khó tránh khỏi một số thiếu sót nhất định và chắc chắn một số chi tiết sẽ bị mất mát, thất lạc trong quá trình biên dịch.

Người ghi chép, dịch giả và ban biên tập.





Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

Thế nào là thái độ đúng khi hành thiền

 Tỳ kheo Paññissara - Sư Chân Tuệ (Sư Thư)

Hãy kiểm tra thái độ của bạn trước khi bắt đầu ngồi thiền. Bạn đang hành thiền với các ý tưởng và thái độ như thế nào? Liệu bạn chỉ muốn có được trạng thái tâm bình an hay bạn muốn học hỏi và hiểu những gì đang xảy ra? Tâm có thể không được an tịnh và bình an khi bạn mong muốn một kinh nghiệm nào đó xảy ra mà không chấp nhận cái đang xảy ra ngay trong hiện tại. Tâm bình an và có định khi nó không theo đuổi bất kì kinh nghiệm cụ thể nào. Không cần thiết phải cố gắng buộc tâm phải biết đối tượng vì thực tế nó đã biết rồi. Bản chất của tâm là hay biết các đối tượng đang xảy ra.

Hãy kiểm tra trạng thái tâm mình. Không cần thiết phải tạo ra bất kì điều gì. Chúng ta quan sát các đối tượng và kinh nghiệm đang xảy ra thông qua bản chất của chúng. Bạn chỉ cần chờ đợi và quan sát cùng với trí tuệ. Không có kinh nghiệm nào là cản trở và làm bạn mất tập trung, tất cả các kinh nghiệm đều là Pháp Bảo. Cái đang xảy ra trong thân là Pháp và cái đang xảy ra trong tâm cũng là Pháp. Không có gì thuộc về “tôi” hay “bạn”. Cảm nhận nóng chỉ là nóng, nó là bản chất của Pháp. Chúng ta chỉ cảm thấy nóng hơn khi cho rằng mình nóng và như vậy sẽ làm cơn sân sinh khởi. Mọi hiện tượng xảy ra đều do nhân và quả. Công việc của chúng ta chỉ là:
- Có thái độ chân chánh
- Duy trì chánh niệm
- Có sự hiểu biết (trí tuệ)
- Có sự thích thú

Khi có chánh kiến và chánh tư duy, sự ghi nhận sẽ trở nên liên tục và có phẩm chất của chánh niệm, không quên đối tượng đúng. Đó là Samma Sati khi trí tuệ sẵn có trong sự ghi nhận. Chúng ta quan sát như thế nào? Không cần thiết phải cố gắng để tìm đối tượng. Khi hành thiền, chúng ta chú ý tới sự hoạt động, tâm thiền và làm tăng trưởng các thiện tâm. Như vậy chúng ta có thể sử dụng bất kì đối tượng nào để làm tăng trưởng chánh niệm, phát triển định tâm và có được sự hiểu biết về bản chất của các hiện tượng thay vì việc tạo ra tham, sân hay si do tà kiến và các ý tưởng sai lầm. Vì chúng ta có thể sử dụng bất kì đối tượng nào để phát triển chánh niệm nên chúng ta có thể bắt đầu với bất kì đối tượng nào. Đừng mắc phải sai lầm cho rằng có một đối tượng tốt hơn cái mà chúng ta đang quan sát. Không có kinh nghiệm nào tốt hơn là kinh nghiệm hiện tại mà bạn đang quan sát. Điều quan trọng là tâm phải luôn tỉnh thức và hay biết. Một điều quan trọng nữa là tâm quan sát kinh nghiệm này như thế nào.

Không cần phải tạo ra hay cố gắng theo đuổi các kinh nghiệm khác nhau. Liệu có một đối tượng là thiện hay bất thiện? Đối tượng thì không thiện mà cũng không bất thiện! Kinh nghiệm chỉ là kinh nghiệm. Đối tượng chỉ là đối tượng. Đối tượng thì luôn có ở đó. Công việc của tâm là hay biết  và quan sát, tâm biết cái cần phải biết.
 Ở đây có một câu hỏi quan trọng là: Liệu tâm quan sát là tâm thiện hay bất thiện? Tại sao chúng ta phải chánh niệm? Chúng ta thực hành vì muốn hiểu biết. Hãy chờ đợi quan sát và tìm hiểu cái đang xảy ra trong thân và tâm để chúng ta có thể hiểu bản chất của chúng. Chúng ta không cố ý làm cho tâm trở nên bình an hoặc có được “những thời ngồi thiền tốt”. Chúng ta hành thiền để quan sát cái đang xảy ra đúng với bản chất của chúng và có thái độ đúng đắn đối với hiện tượng đang xảy ra (tức là đó chỉ là hiện tượng tự nhiên, không phải một thực thể hay một cá nhân nào). Chúng ta cần quan sát các hiện tượng tự nhiên như là các hiện tượng tự nhiên, ghi nhận đối tượng chỉ là đối tượng và hay biết cái cần được biết. Ngay khi có suy nghĩ cho rằng một kinh nghiệm hay đối tượng là tốt thì tâm tham đã có mặt. Khi chúng ta thấy cái tốt là cái tốt, cái đang xảy ra đúng với bản chất của chúng thì tâm tham không thể xen vào. Tuy nhiên, khi chúng ta không biết đúng cách thực hành thì tham chỉ tăng thêm lên mà thôi. Chúng ta cần hành thiền mà không có tham ái và dính mắc.  

Hãy vui mừng khi có chánh niệm.
Khi chờ đợi và quan sát có chánh niệm và sự hiểu biết, chúng ta sẽ thấy mọi việc xảy ra theo đúng bản chất của chúng. Bất kì những gì xảy ra, hãy để chúng xảy ra. Không cần thiết phải mừng vui hay buồn chán đối với cái đang xảy ra. Và không nên có việc thích hay không thích đối với bất kì kinh nghiệm nào. Bất kì kinh nghiệm nào đang xảy ra trong hiện tại đều là kinh nghiệm đúng, hãy vui mừng nếu  chúng ta có sự hay biết và kinh nghiệm vì chính đã là một thiện tâm.

Tâm thì không yên lặng, nó luôn suy nghĩ! Chúng ta nên vui mừng khi thấy được bản chất của chúng và có khả năng nhận ra chúng. Biết rằng tâm không bình an khi nó không bình an thì đó là chánh kiến. Hay biết ghi nhận được suy nghĩ khi có suy nghĩ thì đó là chánh niệm. Nhưng có rất nhiều lần chúng ta muốn suy nghĩ này dừng lại vì cho rằng nó làm mất sự tập trung quan sát. Tuy nhiên, nếu chúng ta quá cố gắng để làm nó trở nên tĩnh lặng thì tình hình sẽ trở nên phức tạp và làm chúng ta căng thẳng. Hãy làm tất cả những gì là thiện. Bất kì thiện hay bất thiện đều bắt đầu từ tâm. Tại sao lại có thiện hay bất thiện? Thiện hay bất thiện tâm sinh khởi là do những phản ứng và phản hồi đối với đối tượng. Tất cả những thiện tâm đều bắt đầu cùng với thái độ đúng và hướng tâm chân chánh. Tất cả những bất thiện tâm đều bắt đầu từ thái độ sai hay hướng tâm không chân chánh. Hãy luôn cố gắng có các hành động, lời nói và suy nghĩ thiện. Hãy làm tất cả những gì là thiện: bố thí, trì giới, phát triển định tâm và hành thiền Minh Sát. Trong tất cả những hành động thiện này thì việc hành thiền là cao quý nhất. Vì vậy hãy đừng quên các mục tiêu của mình.

Khi đạt được Niết Bàn thì chỉ có tất cả các thiện tâm. Khi tâm không có tham, sân, si thì tâm đó luôn có trí tuệ và một tâm như vậy có thể hiểu được Niết Bàn. Việc hành thiền chỉ trở nên khó khăn khi không có được đầy đủ sự hiểu biết và các tâm bất thiện xen vào trong khi quan sát kinh nghiệm xảy ra.

-----
Thiền Giữa Đời Thường: Phương pháp Thiền Phật giáo nguyên thủy (Thiền Vipassana)

Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2016



Tôi có nghe như vầy:

Vào một thời nọ Đức Thế Tôn ngự tại Jetavana (Kỳ Viên), của Trưởng Giả Anathapindika (Cấp Cô Độc), gần thành Savatthi (Xá Vệ).

Lúc bấy giờ, đêm về khuya, có một vị Trời hào quang chiếu diệu sáng tỏa toàn khu Kỳ Viên, đến hầu Phật, lại gần nơi Phật ngự, đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi đứng sang một bên. Khi đã đứng yên, vị Trời cung kính bạch với Đức Thế Tôn bằng lời kệ:

1. Con xin đến đây hầu Đức Thế Tôn và bạch hỏi Ngài về con người suy đồi. Kính xin Đức Gotama (Cồ Đàm) mở lượng từ bi, hoan hỷ chỉ dạy chúng con vì nguyên nhân nào người ta suy đồi.

2. Tình trạng tiến bộ dễ hiểu biết, tình trạng suy đồi dễ hiểu biết. Người biết thương Giáo Pháp (Dhamma) là tiến bộ. Ghét bỏ Giáo Pháp là suy đồi.

3. Điều này như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân đầu tiên làm cho con người suy đồi. Kính bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ nhì đưa con người đến tình trạng suy đồi.

4. Thân thiện với kẻ hư hèn, không thấy gì tốt nơi người đạo đức, người thật lòng vui thú với thói hư tật xấu - đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi.

5. Điều này như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân thứ thì làm cho con người suy đồi. Kính bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ ba đưa con người đến tình trạng suy đồi.

6. Người dể duôi dã dượi, ham vui ở chỗ đông người, không chuyên cần, biếng nhác và nóng nảy - đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi.

7. Điều này như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân thứ ba làm cho con người suy đồi. Kính bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ tư đưa con người đến tình trạng suy đồi.

8. Người giàu có mà không cấp dưỡng cha mẹ già đã quá tuổi xuân xanh - đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi.

9. Điều này như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân thứ tư làm cho con người suy đồi. Kính bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ năm đưa con người đến tình trạng suy đồi.

10. Người giả dối, gạt gẫm một vị Bà La Môn, một vị đạo sĩ ẩn dật hay một đạo sĩ du phương hành khất - đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi.

11. Điều này như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân thứ năm làm cho con người suy đồi. Kính bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ sáu đưa con người đến tình trạng suy đồi.

12. Người có tiền của dồi dào, nhiều vàng, lắm vật thực, nhưng chỉ thọ hưởng riêng mình - đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi.

13. Điều này như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân thứ sáu làm cho con người suy đồi. Kính bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ bảy đưa con người đến tình trạng suy đồi.

14. Người kiêu căng, tự phụ với dòng dõi, với tài sản sự nghiệp hoặc giai cấp mình và khinh khi những người khác - đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi.

15. Điều này như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân thứ bảy làm cho con người suy đồi. Kính bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ tám đưa con người đến tình trạng suy đồi.

16. Người trụy lạc, say sưa rượu chè và phung phí tài sản - đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi.

17. Điều này như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân thứ tám làm cho con người suy đồi. Kính bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ chín đưa con người đến tình trạng suy đồi.

18. Không biết an phận với chính vợ nhà, ăn ở với gái giang hồ và vợ người khác - đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi.

19. Điều này như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân thứ chín làm cho con người suy đồi. Kính bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ mười đưa con người đến tình trạng suy đồi.

20. Người đã quá tuổi xuân xanh, cưới về bà vợ quá trẻ và ăn ở sống chung không phải vì tình thương chăm sóc - đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi.

21. Điều này như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân thứ mười làm cho con người suy đồi. Kính bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ mười một đưa con người đến tình trạng suy đồi.

22. Người tự đặt mình dưới quyền một người đàn bà hay một người đàn ông phung phí, vô độ lượng - đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi.

23. Điều này như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân thứ mười một làm cho con người suy đồi. Kính bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ mười hai đưa con người đến tình trạng suy đồi.

24. Người có ít phương tiện mà nhiều tham vọng, dòng dõi chiến sĩ mà khát khao cần quyền tối thượng - đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi.

25. Thấu rõ những nguyên nhân đưa đên tình trạng suy đồi trên thế gian, bậc Hiền Trí Cao Thượng sống với trí tuệ trong cảnh giới nhàn lạc.

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2016


Link đăng ký: http://tinyurl.com/CT-tang-sach
Thân gửi các đạo hữu,
Hoan hỷ gửi tới mọi người món quà Pháp bảo nhân dịp Xuân về:
1. Cuốn “SAO PHẢI LO LẮNG!” (Why Worry!) Những lời khuyên thực tiễn từ Phật Pháp để sống không căng thẳng và lo lắng – cuốn sách nổi tiếng của ngài K. Sri. Dhammananda – nguyên Tăng Thống Phật giáo Nguyên thủy Malaysia.
Quà tặng từ Công ty CP Doanh nghiệp Xã hội SAMANTA
2. TUYỂN TẬP THIỀN GIỮA ĐỜI THƯỜNG KỲ 2 là món quà Phật Pháp định kỳ 2 tháng /1 lần. Đây là cuốn sách tập hợp những kiến thức cơ bản và thực tế về Phật Giáo Nguyên Thủy và Thiền Tuệ Vipassana do chúng tôi dày công sưu tầm, chọn lọc và biên soạn từ các bài viết, chia sẻ của các vị Thiền sư trong và ngoài nước, các vị học giả cũng như chia sẻ từ các bạn thiền sinh nên các cuốn sách vừa có giá trị nghiên cứu, suy ngẫm vừa rất gần gũi và thực tế.
Với cuốn tuyển tập kỳ này, chúng tôi đề cập tới những hiểu lầm thông thường về Thiền, vấn đề lòng tin đúng đắn và cách giải quyết những vấn đề đau khổ ẩn sâu trong quá khứ…vv

QUY ĐỊNH V/V TẶNG SÁCH:
1. Sách chỉ phát tặng, không bán
2. Chỉ tặng sách trong khu vực Việt Nam.
3. Vận chuyển:
- Chúng tôi sẽ cố gắng chuyển sách đến tận tay các bạn trong thời gian ngắn nhất
- Sách sẽ được chuyển đến các bạn ở ngoài Hà nội, và ngoài tp Hồ Chí Minh qua đường bưu điện
- Để tạo điều kiện cho việc nhận sách tại Hà nội và tp Hồ Chí Minh chúng tôi sẽ chuyển sách tới một số địa chỉ thuận tiện và sẽ thông báo địa chỉ tới nhận sách cho các bạn.

ĐĂNG KÝ NHẬN SÁCH:
Đăng ký nhận sách ghi rõ đầy đủ, cẩn thận thông tin người nhận, BẰNG TIẾNG VIỆT CÓ DẤU theo đường link sau đây:
http://tinyurl.com/CT-tang-sach
Hi vọng rằng những cuốn sách nhỏ này sẽ mang đến lợi ích cho các bạn.
Mọi liên hệ với CT xin email tới: thiengiuadoithuong@gmail.com và điện thoại hỗ trợ: 0987 882 812 (Phật tử Ninh)
Chúc các bạn luôn an vui!
Trong Tâm Từ,
Thiền Giữa Đời Thường