Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp âm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp âm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 11 tháng 3, 2017

Câu hỏi: Khi quán cảm giác như một khối bột rã ra và tan nhanh, có khi như bọt nước, đôi khi như dòng sông có sóng cuồn cuộn tan biến được lặp đi lặp lại nhiều lần. Thưa Ngài, những hiện tượng này cũng chỉ là quán Thọ phải không và hay những sự ghi nhận trên được tăng trưởng thành quán Tâm hay quán Pháp?

Trả lời: Ottamasara Sayadaw

Theo sự hiểu biết của tôi về bốn đề mục thiền tập thì mặc dù chánh niệm trên đối tượng khác nhau, nhưng sự thực hành thì đều giống nhau. Sự khác nhau đó không quan trọng. Khi chúng ta nghe pháp hay học từ các vị thiền sư hoặc đọc sách về niệm Thân, Thọ, Tâm hay Pháp, tùy hiểu biết của mỗi người mà có cái hiểu khác nhau.

Điều quan trọng nhất mà chúng ta cần để tâm đến là “những gì đang sinh khởi trên thân và tâm ngay trong giây phút hiện tại”, chứ không phải là niệm Thân, Thọ, Tâm hay Pháp. Ghi nhận được bản chất thực ở thân tâm, đấy mới là điều quan trọng nhất. Và sau khi theo dõi chúng ta sẽ hiểu và không có đánh giá cái này, cái kia, phương pháp này hay phương pháp khác nữa. Chúng ta chỉ thấy có một hiện tượng sinh và diệt của thân và tâm mà thôi. Theo tục đế, có tên gọi khác nhau, tuy nhiên khi hành thiền chúng ta để tâm, chú ý đến hiện tượng sinh diệt. Để tâm đến thân xem thân đang sanh khởi những gì, cảm giác cứng, mềm, v.v… là đặc tính của đất. Thấy được các đặc tính này thì gọi là niệm thân. Trên thân sinh khởi những thọ khổ hoặc thọ lạc, xuất hiện cảm giác thích thú an lạc khi ngồi thì chúng ta hay biết những cảm giác đó như chúng đang xảy ra. Và ngay cả khi không có cảm giác nào nổi trội thì lúc đó có thọ xả. Mặc dù thọ xả không nổi trội rõ rệt nhưng chúng ta cũng phải ghi nhận như nó đang xảy ra.

Khi chúng ta không chánh niệm trên thọ khổ hay thọ lạc thì tâm sẽ sanh khởi thọ khổ. Tâm sẽ sanh khởi cảm thọ khó chịu khi thân có những đau nhức. Muốn cái đau giảm đi mà không được thì tâm sẽ phản ứng rất khó chịu. Cho nên dù là bất kỳ thọ gì sanh khởi trên thân thì chúng ta cũng đều phải chánh niệm trên các cảm thọ đó như chúng đang xảy ra. Việc ghi nhận những cảm thọ này một cách liên tục, theo dõi các cảm thọ khổ, lạc, trung tính thì được gọi là niệm Thọ. Khi tâm hành giả sinh khởi hiểu biết hay không hiểu biết, muốn làm hay không muốn làm, có đức tin hay không có đức tin,… chúng ta cũng hay biết nó. Khi hay biết như vậy, chúng ta biết một cách rất rõ ràng đối với những suy nghĩ này ở trong tâm đó được gọi là niệm Tâm. Khi hành giả ghi nhận các đặc tính của tứ đại (cứng, mềm, nóng, lạnh, rung chuyển,…) và ghi nhận các cảm thọ, hay biết tất cả các đặc tính của danh pháp và sắc pháp như nó đang xảy ra thì được gọi là quán Pháp.

Chúng ta không chỉ chánh niệm trên bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) mà còn phải quan sát trong các tiểu oai nghi như co tay, duỗi tay, ăn mặc, ngủ nghỉ, đánh răng, xúc miệng, nghe, ngửi, nếm, đụng,… Chúng ta chánh niệm trên tất cả sáu cửa giác quan thì được gọi là quán Pháp. Do đó niệm Thân là quan sát để thấy được các đặc tính của thân. Niệm Thọ là quan sát các cảm thọ (khổ, lạc, xả) sinh khởi. Niệm Tâm là ghi nhận, chánh niệm xem tâm đang biết hay không biết cái gì. Có chánh niệm chúng ta sẽ biết rõ tâm đang sinh khởi những gì. Niệm Pháp là thấy được bản chất thực của tất cả các pháp đang diễn ra đều là sanh diệt với hiểu biết đúng đắn. Vì vậy, khi thực hành Tứ Niệm Xứ chúng ta sẽ hiểu rõ chánh niệm trên cả bốn niệm xứ và cũng sẽ hiểu rõ từng niệm xứ.

Ngay cả khi thực hành chúng ta không nắm giữ vào sự hiểu hay không hiểu của mình. Cũng không nên nghĩ rằng “tôi làm” mà chỉ nên nghĩ rằng “chỉ để sử dụng mà không có người nào ở đấy”. Chỉ có việc sử dụng phương pháp mà không có người sử dụng phương pháp. Bằng khả năng công phu và kinh nghiệm chúng ta sẽ hiểu. Mới đầu hành thiền, chúng ta bắt đầu bằng việc quan sát hơi thở vào và hơi thở ra. Sau một thời gian, cảm thọ sinh khởi nơi thân thì quan sát và ghi nhận cảm thọ đó. Khi tâm sinh khởi suy nghĩ, không muốn tiếp tục thực hành thì hãy quan sát cái tâm đó. Hãy ghi nhận nó! Tất cả các đối tượng sinh khởi chúng ta đều hay biết và buông bỏ, không hành thiền chánh niệm thì chúng ta không bao giờ biết điều gì đang sanh khởi nơi thân và tâm của mình.

Với chánh niệm chúng ta sẽ biết được thân tâm mình đang diễn tiến và sinh khởi những gì. Chỉ khi có chánh niệm chúng ta mới biết được tâm đang làm việc hay đang nghĩ gì. Khi muốn hoặc không muốn làm gì, nếu thất niệm chúng ta sẽ không thể hay biết được điều gì và với tà kiến sai lầm cho rằng “tôi làm” hay “tôi không muốn làm”. Một tâm phóng giật và không có định sẽ không thể hay biết được điều gì sinh khởi ở thân tâm. Nếu có chánh niệm thì bất kỳ những gì chúng ta làm chúng ta đều hay biết. Khi có sự hay biết sẽ đưa đến sự hiểu biết cho chúng ta bằng chánh niệm trên tất cả các đối tượng. Với chánh niệm chúng ta sẽ hiểu được tham, sân, si của mình cũng như của người khác. Quan sát trên thân tâm mình sẽ thấy được các hiện tượng sinh khởi trên thân tâm với hiểu biết đúng đắn (chánh kiến).

Ngay trong hiện tại, với chánh niệm chúng ta sẽ biết được mình đang làm những gì, thấy được bản chất thực của các pháp là hiện tượng sinh diệt. Khi hành giả có chánh niệm sẽ hiểu được mình đang làm gì, cái gì đang sanh khởi ở thân tâm và họ nên làm gì. Chánh niệm là công cụ giúp chúng ta hay biết được tất cả những gì sinh khởi trên thân tâm mình. Với người thất niệm họ sẽ thấy có “thân là tôi”, “tôi đúng”,… Khi hành giả có chánh niệm quan sát các đối tượng thì họ sẽ kinh nghiệm được chính mình. Với sự để tâm này, chúng ta sẽ hiểu và kinh nghiệm được những gì xảy ra trên thân tâm. Khi kinh nghiệm và hiểu được thân tâm thì sẽ thấy được sự thật. Sự thật luôn diễn ra như nó đang là. Nếu có nhiều chánh niệm sẽ hiểu được sự thật ngay trong hiện tại, thấy được bản chất sinh diệt hiện tại như nó đang xảy ra. Nếu thất niệm chúng ta không biết được nguyên nhân của chính chúng ta cũng như của người khác; sẽ không biết được nhân nào sinh làm người, làm nam hay nữ, cha mẹ hay con cái, nước này hay kia, tôn giáo này hay khác,… Không có chánh niệm sẽ không thể biết được những điều này sinh khởi từ đâu.

Không thực hành chánh niệm thì sẽ có dính mắc vào con người, súc sinh, nam nữ, già trẻ, con cái, cha mẹ, đất nước, tôn giáo. Chúng ta không thực hành thì không có hiểu biết nên sẽ dính mắc vào các khái niệm. Thực hành Tứ Niệm Xứ, với chánh niệm chúng ta sẽ không còn thấy có con người, đồ vật, tôn giáo, người tàn tật, nam, nữ,… nữa. Vì khi có chánh niệm chúng ta chỉ còn thấy thân và tâm và không còn chấp dính vào các khái niệm. Chúng ta sẽ kinh nghiệm được nóng lạnh, cứng mềm, rung chuyển,… ngay trong giây phút hiện tại. Chúng ta biết cảm thọ, thấy được bản chất thật đang xảy ra đúng như bản chất của nó.

Chúng ta hành thiền không cần phân tích, phân biệt đây là niệm Thân, Thọ, Tâm hay Pháp, đó là điều không cần thiết. Lúc đầu chúng ta quan sát cảm thọ nổi trội, lấy nó làm đối tượng chính để theo dõi. Nếu trong lúc ghi nhận cảm thọ mà có suy nghĩ khởi, chúng ta có thể ghi nhận suy nghĩ đó và lấy nó làm đối tượng chính để quan sát. Khi ngồi thiền chúng ta không nên chỉ hay biết một đối tượng duy nhất mà cần quan sát nhiều đối tượng sinh khởi, quan sát nó như nó đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Chú ý rằng không cần phân biệt Thân, Thọ, Tâm và Pháp. Khi sự thực hành có hiểu biết đúng, chúng ta sẽ biết được cái gì là quan trọng và cái gì không quan trọng, không bị dính mắc vào sự phân tích đó. Khi chúng ta có nhiều sự thực hành, chúng ta sẽ không thấy có người này, người kia, nam hay nữ,… Chánh niệm lớn mạnh chúng ta sẽ không còn dính mắc vào một cá nhân nào nữa, chúng ta chỉ thấy có hiện tượng sinh diệt xảy ra liên tục. Bất kỳ sự sinh khởi nào trên thân và tâm, chúng ta cần chú ý tới “cái đang xảy ra ở hiện tại”. Trong các oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, ngủ nghỉ, co duỗi, cảm thọ như dòng nước trong thân thể,… Chúng ta hay biết với chánh niệm, thấy những hiện tượng này thay đổi liên tục. Khi chúng ta làm điều tốt hay xấu cũng không dính mắc vào đó, chỉ hay biết những điều đang sinh khởi ở thân tâm chúng ta. Chúng ta không chánh niệm, quan sát trên hành động của người khác, họ đang làm tốt hay xấu. Đó không phải là việc mà chúng ta cần ghi nhận và theo dõi. Chúng ta chỉ cần hay biết và theo dõi chính bản thân chúng ta, đang làm gì và cái gì đang xảy ra trên thân và tâm mình.

Không cần để tâm đến những gì xảy ra trong tương lai mà hãy để tâm đến cái gì đang sinh khởi ở hiện tại. Khi đó chúng ta sẽ có hiểu biết đúng đắn. Chúng ta cẩn trọng và để tâm đến việc chúng ta làm, hay biết những gì mình đang làm. Dù lúc nào và ở đâu, nhưng nếu có chánh niệm chúng ta sẽ thoát khỏi sự dính mắc phải làm như thế này như thế kia, trên khái niệm này hay khái niệm khác. Chúng ta có thể chánh niệm một cách dễ dàng ở bất kỳ nơi nào và vào lúc nào, nhờ đó chúng ta sẽ thoát khởi sự dính mắc. Dù chúng ta thực hành niệm xứ nào thì đến một lúc chúng ta sẽ chỉ quan sát bản chất của các pháp mà thôi. Chánh niệm, ghi nhận sự vô thường, khổ và vô ngã. Không phải chúng ta làm những gì mình thích mà chúng ta chỉ quán sát bản chất của các pháp đang sinh khởi. Sau khi thực hành đúng với hiểu biết đúng trên các đối tượng đúng, chúng ta không còn dính mắc vào việc thích hay không thích, việc thực hành niệm pháp sẽ tự động sinh khởi. Với chánh niệm, chúng ta sẽ chỉ thấy có bản chất thôi, chúng ta không thấy cái “tôi” nào ở đó, chỉ có hiện tượng sinh diệt theo bản chất của nó. Chúng ta tách rời khỏi cảm giác “tôi” hay “của tôi”, chỉ có tiến trình bản chất thật của các pháp, không có dính mắc, không có phân tích, đánh giá điều gì cả.

Lúc đầu chúng ta dễ nắm bắt và ghi nhận cảm giác nóng, lạnh, cứng, mềm, sau một thời gian chúng ta sẽ dễ dàng ghi nhận tất cả những đối tượng đang xảy ra. Bằng sự thực hành với chánh niệm, chúng ta sẽ thấy được tất cả những đối tượng chúng ta đang quan sát, và bản chất đích thực về những hiện tượng mà chúng ta đang quan sát. Với hiểu biết đúng đắn, chúng ta chỉ thấy được bản chất sinh khởi liên tục, chỉ có sự hiểu biết chứ không có ai hiểu biết cả. Sau một thời gian thực hành chánh niệm, chúng ta sẽ hiểu được bản chất của các hiện tượng, bản chất sinh diệt theo tiến trình của nó, chúng không thường hằng mà thay đổi liên tục. Khi thấy được bản chất của tứ đại, và chúng ta cẩn trọng để tâm đến những đặc tính thì sẽ hiểu được hoặc kinh nghiệm được. Chúng ta không dính mắc trong đó, chỉ thấy có sự kinh nghiệm, hiểu biết chứ không có ai ở đấy. Sự hiểu biết rồi cũng sẽ thay đổi và biến mất. Khi chúng ta hiểu được bản chất thật của các pháp, đó là hiện tượng khổ, vô thường và vô ngã, chúng ta sẽ không còn thấy có người nào, chỉ có các hiện tượng với bản chất thật và thay đổi. Với việc thực hành đúng, chúng ta sẽ có được sự hiểu biết đúng. Việc sử dụng các từ ngữ như vô thường, khổ, vô ngã là cách sử dụng chế định. Nếu chúng ta hiểu bản chất thật của những đặc tính này thì chúng ta sẽ thấy rõ bản chất, đó mới là hiểu biết chân chánh, hiểu biết của trí tuệ. Vì vậy, việc thực hành là rất cần thiết cho mỗi chúng ta.

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014


Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2013

 (Thiền Sư Ashin Tejaniya dạy - Sư Trí Dũng dịch) (2008 đến 2013 + bổ sung 2012)

Tập hợp những bài giảng dạy của vị Thiền Sư nổi tiếng thế giới - Ngài Tejaniya Sayadaw theo các năm 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, (2013 đang được đón chờ :) ). Những bài giảng dạy của Ngài Thiền Sư được Sư Trí Dũng dịch, biên tập lại và ghi âm. Xin thành kính tri ân công đức to mà Đại Đức đã dành cho Phật Tử chúng con.

Nguồn file: internet (đặc biệt là từ trang http://phathocchuyende.wordpress.com )

2008: https://archive.org/details/Thien-su_Ashin-Tejaniya_Quan-Tam-2008

2009: https://archive.org/details/Thien-su_Ashin-Tejaniya_Quan-Tam-2009

2010: https://archive.org/details/Thien-su_Ashin-Tejaniya_Quan-Tam

2011: https://archive.org/details/Thien-su_Ashin-Tejaniya_Quan-Tam-2011

2012: https://archive.org/details/Thien-su_Ashin-Tejaniya_Quan-Tam-2012

2012 Bổ Sung: https://archive.org/details/Thien-su_Ashin-Tejaniya_Quan-Tam-2012_bo-sung

2013: https://archive.org/details/Thien-su_Ashin-Tejaniya_Quan-Tam-2013

List 2013



Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

Mời các bạn nghe video mang tên Đạo Phật Pháp môn và Đạo Phật nguyên chất do thày Thích Nhật Từ giảng.Góc nhìn rất sâu,chân thật và dũng cảm. Mong mở rộng tầm nhìn của nhiều người. https://www.youtube.com/watch?v=v237TSoBnKk




Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012





Một vị Thiền sư nói rằng: "Phật vàng không khỏi hư hoại do lò đúc, Phật gỗ không khỏi hư hoại do lửa cháy, Phật đất không khỏi hư hoại do nước và thời gian. Chỉ có Phật thật ngồi ở bên trong mỗi người thì bất hoại mà thôi". Điều này cho chúng ta thấy rằng: đức Phật ở trong lòng mỗi chúng ta mới là quan trọng, còn mọi hình tướng bên ngoài đều mang tính biểu tượng mà thôi

http://www.thienvienphuocson.net/home/index.phpoption=com_remository&Itemid=78&func=fileinfo&id=480


trích: http://www.thienvienphuocson.net/

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012





Cuộc sống của mỗi chúng ta luôn cần đến niềm tin và lòng tốt. Một trong những điều nguy hiểm nhất ở con người là đánh mất niềm tin nơi con người và cuộc sống, mất niềm tin nơi những giá trị đạo đức tốt đẹp của cuộc sống. Khi mất niềm tin vào cuộc sống, chúng ta sẽ bị giảm sút ít nhiều nghị lực vươn lên trong cuộc sống, đánh mất ý nghĩa cuộc sống của chính bản thân mình.

Thiết nghĩ, chúng ta không nên chỉ nhìn vào những bề trái cuộc sống rồi vội đánh mất niềm tin cuộc sống của bản thân mình. "Tiên trách kỷ, hậu trách nhân". Rất nhiều khi, quanh ta còn nhiều người chưa tốt nhưng chỉ vì bản thân chưa sống tốt đến mức đủ để cảm hóa người khác. Rất nhiều khi, mất niềm tin cuộc sống là do bản thân mình thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện bản thân, nhất là không chịu mở rộng tấm lòng để học hỏi, khám phá những ý nghĩa sâu xa của đời sống. Quả thực, trong cuộc sống, có nhiều việc khi thoạt nhìn ta tưởng chừng như bất công, nhưng thực tế lại không hề bất công chút nào cả.


"Hai con mắt mở ta nhìn


Cho sâu cho sáng mà tin cuộc đời"

(Giàu hai con mắt – Xuân Diệu)

Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012



Bài pháp thoại được giảng tại Khóa Tu An Lạc lần thứ 5 tại Tu Viện Tường Vân, huyện Bình Chánh. Trường thọ luôn là khao khát của con người. Thế nhưng cái vòng luân hồi sinh – lão – bệnh – tử thì chẳng chừa một ai. Thông thường chỉ 60 năm, 70 năm hay 80 năm, con người đã phải trở về với cát bụi để nhường chốn trần gian lại cho con cháu. Vậy, bí mật của cuộc sống nằm ở đâu? Làm thế nào để câu chúc "sống lâu trăm tuổi bạc đầu râu" trở thành hiện thực?

Xin mời Quý vị xem Pháp Thoại

http://www.thienvienphuocson.net/home/index.phpoption=com_remository&Itemid=78&func=fileinfo&id=481


Trích: http://www.thienvienphuocson.net/home/

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012


Gồm 6 bài thuyết pháp của Bậc sáng tổ của Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam






Hòa thượng Hộ Tông Vansarakkhita

(1893-1981)
Bình Anson

Hòa thượng Hộ Tông, Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Ðốc. Ngài xuất thân trong một gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Ðinh Thị Giêng.

Lúc thiếu thời, ngài theo gia đình sang lập nghiệp tại Phnom Penh (Nam Vang. Sau khi đậu bằng trung học (diplome), ngài làm việc cho sở bưu điện và sở giáo dục. Năm 20 tuổi, ngài kết hôn với bà Võ Thị Nhung. Sau đó, ngài đi Hà Nội để học ngành thú y. Sau khi tốt nghiệp, ngài trở về Phnom Penh làm việc với chức vụ bác sĩ thú y.

Năm 34 tuổi, ngài được bổ nhiệm về tỉnh Soay Rieng, gần biên giới Việt Nam. Ngài phát tâm hướng về nghiên cứu con đường tu hành, con đường giải thoát. Ngài thử nhiều phương pháp, trong đó có những pháp môn ép xác như ăn cơm lạt với nước, ăn cơm với giấm, ăn toàn rau cải và trái cây, tuyệt dục, tu niệm chú, tu niệm Phật v.v. mà không thấy có kết quả tốt.

Do nhân duyên đưa đẩy, ngài đến gặp vị Phó Tăng Thống Cam Bốt tại chùa Unalom. Vị nầy cũng là giám đốc trường Cao đẳng Pali tại Phnom Penh. Sau khi nghe vị sư giảng về Bát Chánh Ðạo, ngài cảm thấy thơ thới hân hoan và phấn khởi. Vị sư còn giảng thêm rằng: "...Xưa kia chư Phật cũng nhờ tu theo Bát Chánh Ðạo mà chứng ngộ đạo quả. Vậy ông nên tinh tấn hành đúng theo Con Ðường Tám Chánh ấy, rồi một ngày nào khi phước duyên tròn đủ, ông cũng sẽ được giác ngộ, giải thoát." Vị sư giới thiệu ngài tìm đọc một quyển sách viết về Bát Chánh Ðạo bằng tiếng Pháp tại thư viện của chùa. Ngài đọc say mê và từ đó quyết tâm hành trì theo truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy Theravada. Trong thời gian kế tiếp, ngài tiếp tục lui tới chùa Unalom, học tập kinh điển Pali. Ngài được một vị thiền sư tại đó truyền dạy pháp quán niệm hơi thở "anapanasati", và chẳng bao lâu, ngài đạt nhiều kết quả rất tốt trong việc nhập định.

Năm 1934, ngài về làm việc tại tỉnh Prey Veng. Nơi đây, ngài giúp thành lập Trung tâm Thiền định tại chùa Ruong Damrey và giảng dạy Phật Pháp và pháp môn hành thiền. Với ước vọng khuyến khích người Việt hành trì và xuất gia trong truyền thống Theravada, ngài bỏ công dịch quyển Luật Xuất Gia trong 2 năm, và sau đó soạn thêm quyển Kinh Nhựt Hành cho người tại gia cư sĩ, bằng tiếng Việt.

Năm 1936, ngài trở lại Phnom Penh, cùng với một nhóm bạn đạo cư sĩ người Việt tu bổ lại một chùa Bắc Tông cũ, tên là chùa Sùng Phước, để làm nơi truyền giảng đạo Phật Nguyên Thủy cho người Việt trên đất Cam Bốt. Năm 1940, sau khi được sự đồng ý của hiền thê, ngài quyết định xuất gia. Ngài xuất gia ngày 15 tháng 10 năm 1940, vị thầy truyền giới là vị Phó Tăng Thống Cam Bốt, và lấy pháp danh là Hộ Tông (Vansarakkhita).

Trong thời gian ngài còn là cư sĩ, ngài thường về Việt Nam để truyền đạo, dạy thiền, và tạo nhiều quen biết với các cư sĩ Phật tử, trong đó có ông Nguyễn Văn Hiểu. Ông Hiểu là một người bạn đạo chí tình, thường xuyên trao đổi các kinh nghiệm tu học, và hết lòng ủng hộ, khuyến khích con đường hoằng pháp của ngài Hộ Tông. Năm 1939, ông tìm ra một thửa đất ở Gò Dưa, Thủ Ðức, để cất chùa cho người Việt. Cuối năm 1940, ông thỉnh Tỳ kheo Hộ Tông về trụ trì, và sau đó, Hòa thượng Chuon Nath, Tăng Thống Cam Bốt, cùng một đoàn 30 vị tỳ kheo được mời thỉnh đến làm lễ kết giới Sima, và đặt tên là Chùa Bửu Quang (Ratana Ramsayarama). Từ đó, Tỳ kheo Hộ Tông cùng với các Tỳ kheo Việt Nam khác như ngài Bửu Chơn, Thiện Luật, Huệ Nghiêm bắt đầu truyền giảng Phật Pháp Nguyên Thủy cho người Việt tại Việt Nam.

Năm 1944, ngài trở sang Cam Bốt, thực hành hạnh du tăng đầu đà (dhutanga), chu du khắp nơi trong rừng sâu vắng vẻ, độc cư hành thiền. Năm 1949, ngài trở về Việt Nam. Lúc đó, chùa Bửu Quang đã bị lính Pháp tàn phá vào 2 năm trước (1947). Cùng với ông Hiểu, ngài tìm mua một thửa đất trống ở khu Bàn Cờ, quận Ba, Sài Gòn, và xúc tiến xây cất một ngôi chùa khác, rộng lớn hơn, ngay tại trung tâm thành phố, và đặt tên là Chùa Kỳ Viên (Jetavana Vihara). Chùa Kỳ Viên được hoàn tất vào năm 1950. Ðồng thời, chùa Bửu Quang cũng được trùng tu lại vào năm 1951.

Năm 1954, cùng với Hòa thượng Bửu Chơn, ngài đến tham dự Ðại hội Kết tập Tam Tạng Pali lần thứ VI tại Rangoon, Miến Ðiện, và có đọc diễn văn trong ngày bế mạc đại hội. Sau đó ngài đi thăm các thánh tích tại Ấn Ðộ, và dự các khóa tu học ngắn hạn về hành thiền và kinh điển Pali tại Tích Lan và Thái Lan.

Ngày 18 tháng 12 năm 1957, Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam được chính thức thành lập, đặt trụ sở tại Chùa Kỳ Viên, và toàn thể chư Tăng suy cử ngài vào chức vụ Tăng Thống của Giáo Hội, khóa I.

Trong suốt cuộc đời, từ khi bắt đầu thấm nhuần Phật Pháp, ngài luôn sống cho Ðạo, vì Ðạo, luôn luôn lo xây dựng thêm chùa, khuyến khích xuất gia, soạn thảo kinh sách, truyền giảng giáo pháp. Ngoài 2 chùa đầu tiên, ngài trực tiếp tham gia và đóng góp xây dựng nhiều chùa Nguyên Thủy khác như chùa Bửu Long (Thủ Ðức), Tam Bố (Lâm Ðồng), Phi Nôm (Ðịnh Quán), Bồ Ðề (Vũng Tàu), Tam Bảo (Ðà Nẵng), Giác Quang (Chợ Lớn), Pháp Quang (Gia Ðịnh), Tăng Quang (Huế), Thiền Lâm (Huế), Nguyên Thủy (Vàm Ông Tố), Long Khánh (Bà Rịa), v.v.

Trong suốt bốn mươi mốt hạ của tỳ kheo, ngài không bao giờ rời kinh sách. Mỗi nơi ngài đến ngụ đều có một tủ kinh. Ngài sống một đời giản dị, ba y một bát như một vị tỳ kheo mẫu mực của truyền thống Nguyên Thủy. Hằng đêm, ngài thức giấc lúc 3 giờ sáng, tụng niệm và tham thiền. Sau đó bắt đầu viết và phiên dịch kinh sách, không lúc nào chểnh mảng. Các tác phẩm của ngài gồm:

Luật Xuất Gia, quyển 1 và 2
Nhựt Hành của người tại gia tu Phật
Cư sĩ thực hành
Vi Diệu Pháp vấn đáp
Nền tảng Phật Giáo
Sơ thiền tâm
v.v.

Ngài sang Pháp năm 1980, nhưng sau đó lại quyết định trở về Việt Nam năm 1981 và ngụ tại chùa Bửu Long, Thủ Ðức. Tại đây dù tuổi già sức yếu, ngài lại ra công giúp tu bổ chùa.

Ngày 25 tháng 8 năm 1981 (26 tháng 7, Tân Dậu) trước những giờ phút cuối cùng, ngài vẫn minh mẫn giảng dạy các vị tỳ kheo đệ tử về pháp hành thiền quán niệm hơi thở. Sau đó, ngài bảo vị đệ tử thân cận đọc kinh rải tâm Từ và ngài từ từ nhắm mắt. Trong một khoảnh khắc, ngài mở hé mắt nhìn lên trời rồi nhắm lại, an lành viên tịch. Lúc đó là 16 giờ 45 phút. Ngài hưởng thọ 89 tuổi đời, 41 tuổi đạo.


Mời quí vị xem chi tiết và download những bài tuyết pháp của HT Hộ Tông TẠI ĐÂY

Nguồn: http://www.phatgiaonguyenthuy.com/



Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012




Có người tham gia khóa tu nhưng tâm không được bình yên vì sự lo lắng bồn chồn,vì suy nghĩ không biết chuyện gì sẽ xảy ra với bản thân và gia đình do đó không được yên tâm khi niệm phật. Rồi cũng có người để tâm khởi lên những điều phiền não, khổ đau cho nên cũng không được yên tâm khi tu tập.  Bài giảng pháp " Yên tâm niệm phật" của TT Bửu Chánh dựa trên bài kệ khuyến tu 4 câu như sau:

Muốn được yên tu phải biết ngu
Dù cho có mắt cũng như mù
Có tai như điếc thường câm lặng
Chỉ nhớ trong đầu một chữ tu

Bài thuyết pháp "Yên tâm  niệm Phật" như 1 kim chỉ nam hay một phương pháp tối thiểu để chúng ta tiếp tục con đường tu tập của mình.